Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư và tình hình kích cầu đầu tư ở Việt Nam - Pdf 32

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi chính thức thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986, Việt Nam từ một nước có
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đã có nhiều thay đổi to lớn, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Trong giai đoạn này, có rất nhiều vấn đề lớn nhỏ được đặt ra cho nền kinh
tế nước nhà. Một trong những vấn đề đó là hoạt động đầu tư. Có thể nói đầu tư là yếu tố quan
trọng trong nền kinh tế, đầu tư không chỉ là cơ sở để nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế
mà còn nâng cao trình độ khoa học công nghệ, hiện đại hoá đất nước. Nó vừa phụ thuộc lại vừa có
tác động lớn đến nền kinh tế của một quốc gia. Sự tác động đó là tích cực hay tiêu cực lại phụ
thuộc vào nhận thức của nhà nước, nhân dân, và các thành phần kinh tế về vấn đề đầu tư có đúng
đắn hay không, và làm sao để có các giải pháp cho hoạt động đầu tư hiệu quả.
Muốn vậy trước hết phải xem xét tới một số khía cạnh quan trọng liên quan đến đầu tư, cụ
thể là sự chi tiêu cho đầu tư thế nào là hợp lý, bên cạnh đó nhà nước đã và đang có những hoạt
động nào để kích thích đầu tư dựa trên những nghiên cứu về lý thuyết. Có vậy, sự chi tiêu cho đầu
tư mới đem lại hiệu quả, tạo đà cho nền kinh tế phát triển tốt. Điều này có ý nghĩa đặc biệt cần
thiết cho một nước đang phát triển như Việt Nam.
Vì vậy, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư và
tình hình kích cầu đầu tư ở Việt Nam”. Nội dung đề án đề cập đến vấn đề chi tiêu đầu tư và kích
cầu đầu tư, khái niệm cùng sự vận hành của chúng: những nhân tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu đầu
tư, ảnh hưởng như thế nào và dựa vào đó giải thích tình hình kích cầu của Việt Nam trong những
năm gần đây. Bài viết là sự tập hợp của các kiến thức sẵn có cùng với các phương pháp phân tích,
đồ thị, tổng hợp số liệu và tư duy logic.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Từ Quang Phương đã chỉ bảo hướng dẫn tận
tình trong quá trình đọc duyệt để chúng tôi có thể hoàn thành đề án.
Tuy nhiên do mới tiếp cận với lĩnh vực này, trình độ còn hạn chế nên bài viết không tránh
khỏi thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài viết được hoàn thiện
hơn.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ VÀ KÍCH

tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn
không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành qua trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều
hành qua trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.
- Theo bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư mang lại, chúng ta có thể phân loại đầu tư
thành đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư phát triển.
• Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các
chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiết kiệm hoặc mua trái phiếu) hay
lãi suất và quyền sở hữu công ty tùy thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty phát hành cổ phiếu. Đầu tư vào tài sản tài chính không trực tiếp tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư.
• Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và
sau đó bán lại với giá cao hơn giá ban đầu nhằm thu lợi nhuận từ chênh lệch giá khi
mua vào và bán ra. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế. Tuy
nhiên đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất trong
nền kinh tế
• Đầu tư phát triển: trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm
tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh mà mọi hoạt
động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống cho mọi
người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng và sửa chữa các cơ sở
hạ tầng, mua sắm thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.

I.1.2. Khái niệm về chi tiêu đầu tư và kích cầu đầu tư:
Chi tiêu đầu tư là một hình thức tiêu dùng đặc biệt của các chủ đầu tư nhằm thu
được khoản tiền lớn hơn trong tương lai. Chi tiêu đầu tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều
nhân tố, trng đó có 1 số nhân tố cơ bản như sau:
- Lợi nhuận kỳ vọng
- Lãi suất thực tế
- Tốc độ phát triển của sản lượng quốc dân
- Lợi nhuận thực tế

lớn đến quyết định chi tiêu đầu tư của chủ đầu tư.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo lý thuyết của Keynes, hiệu quả biên của vốn giảm dần và hiệu quả biên của
vốn phụ thuộc vào số tiền đầu tư mới bỏ ra có tỷ suất lợi nhuận thấp hay cao. Nếu vốn đầu
tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn càng giảm. Có nhiều cách để lý giải cho vấn đề này,
ví dụ như :
- Đứng trên phương diện Cầu về vốn đầu tư, muốn đầu tư tăng thì nhu cầu về vốn
đầu tư phải tăng, giá của hàng hóa vốn đầu tư tăng ( hay lãi suất tiền vay tăng), với giả
định các yếu tố khác không đổi, khi tổng sản phẩm tăng, giá bán không đổi dẫn đến lợi
nhuận giảm và tỷ suất lợi nhuận biên của vốn đầu tư cũng giảm theo.
- Đứng trên phương diện Cung hàng hóa sản phẩm: khi đầu tư tăng thì lượng cung
của hàng hóa sẽ tăng làm cho giá giảm (với giả định các yếu tố khác không đổi), lợi nhuận
trên một đơn vị sản phẩm giảm dẫn đến tổng lợi nhuận giảm khiến tỷ suất lợi nhuận biên
cũng giảm theo.
Ngoài ra, còn có thể giải thích vấn đề này qua một số khía cạnh khác như Năng suất
lao động cận biên giảm dần hoặc hiệu quả biên của vốn... Có thể thấy, tỷ suất lợi nhuận
vốn đầu tư là một đại lượng rất quan trọng đối với các quyết định của nhà đầu tư, tuy nhiên
nó lại là một đại lượng rất khó xác định, nguyên nhân là vì đặc tính của hoạt động chi tiêu
đầu tư là mang tính lâu dài, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan, không ổn định
như điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế xã hội... Do đó lợi nhuận có khi thấp nhưng lại có
lúc rất cao, tùy vào độ rủi ro mà nhà đầu tư phải đối mặt, rủi ro càng cao thì lợi nhuận thu
được càng lớn. Đấy chính là sức hấp dẫn, là động lực thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn ra
đầu tư.
I.2.2. Lãi suất tiền vay thực tế
Trong quá trình tiến hành chi tiêu đầu tư, để xây dựng cơ sở sản xuất hay mở rộng
quy mô, tăng thêm máy móc thiết bị, trang trải hao mòn, tăng năng lực sản xuất cần rất
nhiều vốn. Tuy nhiên không phải nhà đầu tư nào cũng có nguồn vốn nội lực đủ mạnh để
trang trải hết những khoản chi tiêu đó, mà hầu hết sẽ dựa vào các tổ chức tài chính để vay
vốn. Giá của các khoản vay này chính là lãi suất mà chủ đầu tư phải thanh toán. Nhưng vấn

tỷ suất lợi nhuận, lợi nhuận vẫn âm. Các dự án còn lại đều có lãi lớn hơn 0, tuy nhiên nhà
dầu tư vẫn nên lựa chọn dự án nào phù hợp nhất với khả năng của mình mà đem lại lợi ích
lớn nhất để đầu tư. Như vậy, ta có thể thấy là lãi suất tiền vay thực tế có ảnh hưởng trực
tiếp đến quy mô đầu tư của doanh nghiệp.
Ngoài ra, ta có thể thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất tiền vay thực tế, tỷ
suất lợi nhuận bình quân và quy mô vốn đầu tư. Vào cùng một thời điểm, có thể có rất
nhiều dự án, và số lượng dự án phụ thuộc vào lãi suất tiền vay. Khi mức lãi suất tiền vay
càng thấp thì số dự án thỏa mãn được yêu cầu trên càng cao, làm cho khối lượng vốn đầu
tư tăng và ngược lại. Hình 1.1 dưới đây đã nêu cụ thể mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi
suất tiền vay i và nhu cầu vốn đầu tư ở mỗi mức lãi suất không đổi. 6
i
i
1
i
0
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa lãi suất và
quy mô vốn đầu tư
0 I
1
I
0
I
Đường cầu về vốn
đầu tư
IRR
0 A B C
IRR

Hình 2.2. Mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay và tỷ lệ hoàn vốn IRR
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nếu mức lãi suất tăng từ i0 lên i1 thì thu nhập biên giảm dần dẫn đến giảm số lượng
dự án đầu tư, cầu đầu tư giảm từ I0 đến I1 làm quy mô vốn đầu tư giảm. Hình 2.2 lại phản
ánh mối quan hệ giữa lãi suất tiền vay và tỷ lệ hoàn vốn IRR, đây cũng là mối quan hệ tỷ lệ
nghịch. Khi lãi suất tiền vay tăng thì lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm giảm và lợi
nhuận trên vốn đầu tư sẽ giảm. Nếu lãi suất vốn vay nhỏ hơn IRR của dự án thì nhà đầu tư
sẽ mở rộng quy mô đầu tư và ngược lại, nếu lãi suất vốn vay lớn hơn IRR của dự án thì
chủ đầu tư sẽ thu hẹp quy mô đầu tư hoặc không đầu tư thêm nữa. Cuối cùng, khi IRR tăng
lên làm đầu tư tăng kéo theo quy mô vốn đầu tư tăng, lãi suất giảm làm tiết kiệm giảm, đầu
tư lại tăng lên và ngược lại. Mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư
và quy mô vốn đầu tư được thể hiện ở hình 1.3 Hàm lợi nhuận π biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa IR và quy mô vốn đầu tư.
Tỉ lệ lãi suất thực tế của vốn vay là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
7
Hình 1.3 : Mối quan hệ giữa IRR và quy mô vốn đầu tư
0 I
0
I
1
I

IRR2
IRR1
IRR

X=
K
t
Y
t
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của ông đã xem toàn bộ vốn đầu tư mong muốn được thực hiện ngay trong cùng một thời
kỳ với sản lượng, thực tế không phải cứ tăng vốn đầu tư là tăng sản lượng.
Sau này, các nhà kinh tế học cho rằng vốn đầu tư mong muốn được xác định như
một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là lượng đầu tư mong muốn được
xác định trong dài hạn. Vì vậy, lý thuyết gia tốc đầu tư hoàn thiện hơn sau này cũng đã đề
cập đến tổng đầu tư.
I
t
=
λ
(K*
t
– K
t-1
) +
δ
K
t-1
Trong công thức trên thì It là tổng đầu tư và là hàm của vốn đầu tư mong muốn (K-
t
*) và vốn đầu tư thực hiện thời kỳ t-1 (K
t-1
) ; λ là một hằng số (0<λ<1) và δ là hệ số khấu

(hay li nhun khụng chia) ca doanh nghip. Phn li nhun li ny cựng vi cỏc
khon trớch khu hao ti sn c nh to thnh qu ni b ca doanh nghip. Theo lý thuyt
qu ni b ca u t, ngun vn u t cú th huy ng t qu ni b v vn vay bờn
ngoi nh vay cỏc cụng ty ti chớnh hay phỏt hnh chng khoỏn ra cụng chỳng. Khi doanh
nghip s dng ngun vn vay bờn ngoi, doanh nghip s phi tr chi phớ ca vn vay,
nu xy ra ri ro thỡ doanh nghip s vo th b ng v cú th cú nguy c phỏ sn. Vỡ
vy, cỏc doanh nghip thng chn bin phỏp ti tr cho u t t cỏc ngun vn ni b
v s gia tng ca li nhun thc t s lm tng mc u t ca doanh nghip. Ta cú th
núi vn u t ca doanh nghip l mt hm ca li nhun thc t
I = f (Li nhun thc t)
Vỡ vy, cỏc chớnh sỏch cú tỏc ng n thu nhp cũn li ca doanh nghip s cú tỏc
dng kớch cu u t. Mun kớch cu u t thỡ chớnh ph cú th dựng cỏc chớnh sỏch nh
gim thu thu nhp doanh nghip hay min, gim thu i vi cỏc khon li nhun dựng
tỏi u t. Hỡnh 4 mụ t tỏc ng ca thu thu nhp n nhu cu u t. Khi mc thu ca Chớnh ph
gim lm ng cu u t dch chuyn sang phi, khon u t mong mun tng lờn. Vi mc
lói sut tin vay xỏc nh i0 thỡ khi T4 gim lm ng cu u t dch chuyn sang phi, nhu cu
vn u t tng t I n I
10
Hình I.4.


nh hưởng của thuế thu nhập đến đường cầu đầu tư
0 I


lên thì nhu cầu đầu tư tăng đẩy đường cầu đầu tư D
0
sang phải, vào vị trí D
1
, nói cách khác, với mức
11
Hình I.6. Mối quan hệ giữa chu kỳ kinh doanh và nhu cầu vốn đầu tư
i
i
i
0 I'' I
0
I' I
D
2
D
0
D
1
0
t

kinh tế suy thoái song các doanh nghiệp Mỹ vẫn định tăng chi tiêu cho việc xây dựng thêm nhà máy
và mua sắm thiết bị trong thời gian đó. Ít nhất thì có nhiều dấu hiệu cho thấy cuộc suy thoái kinh tế
chưa làm các công ty Mỹ cắt giảm kế hoạch chi tiêu của mình. Và sự tăng trưởng theo kế hoạch, dù
là khiêm tốn vẫn là một dấu hiệu tốt cho nền kinh tế. Song theo xu hướng hành động thông thường
thì các công ty thường cắt giảm đầu tư vốn mạnh khi nền kinh tế suy thoái. Trong cuộc suy thoái
kinh tế năm 1982, chi tiêu đầu tư đã giảm 6,2%. Việc này dẫn đến hậu quả là các hãng sản xuất đã
đánh mất thị phần cho các hãng cạnh tranh ngoại quốc. Và bài học được rút ra là “thật thiển cận khi
cắt giảm đầu tư trong một cuộc suy thoái”.
Trong sách kinh tế vĩ mô có viết “các biến động kinh tế thường được gọi là chu kỳ kinh tế
hay chu kỳ kinh doanh” nhưng thuật ngữ này có phần không chính xác vì nó gợi ra rằng các biến
động kinh tế diễn ra theo quy luật và có thể dự đoán được. Nhưng trên thực tế thì các biến động kinh
tế thường diễn ra bất ngờ và rất khó dự đoán.
12
i
i
i
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I.2.6. Vai trò của đầu tư Nhà nước
Trong giai đoạn hiện nay thì phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng
XHCN có sự quản lý của Nhà nước là một trong những nội dung quan trọng nhất của đường lối đổi
mới của Đảng và Nhà nước ta. Không có kinh tế Nhà nước thì không thể thực hiện định hướng

tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tổng vốn vay từ các ngân hàng thương mại và vốn vay từ nước ngoài,
đặc biệt là các tổng công ty, công ty thuộc các lĩnh vực then chốt như dầu khí, than, bưu chính viễn
thông… Vì vậy, mỗi động thái trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp này đều có tác động ít
nhiều đến các hành vi của các chủ đầu tư khác trong nền kinh tế.
Quả thật, đầu tư Nhà nước là lực lượng chủ chốt trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng (điện,
nước, giao thông vận tải, an ninh quốc phòng, viễn thông, y tế, giáo dục…) và các chính sách, định
hướng phát triển, phân bổ nguồn vốn cho từng vùng, từng ngành… sẽ tạo điều kiện thuận lợi, kích
thích đầu tư tư nhân, đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đồng thời định hướng đầu tư
cho toàn xã hội và khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư theo đúng định hướng mục tiêu
của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển của toàn xã hội.
I.2.7. Môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu cho việc ra quyết định
bỏ vốn ra đầu tư của nhà đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí vô cùng quan trọng
đối với hoạt động đầu tư. Sự cải thiện môi trường đầu tư có tác động tích cực đến nền kinh
tế, làm tăng nguồn vốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư toàn xã hội.
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu
quả của các dự án đầu tư. Hiện nay môi trường đầu tư thường được hiểu với hai khái
niệm : môi trường cứng và môi trường mềm.
Môi trường cứng : bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ
cho sự phát triền kinh tế, gồm hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống thông tin liên
lạc năng lượng…
Môi trường mềm : gồm có hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên
quan đến hoạt động đầu tư, hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng, kế toán và kiểm
toán..
Cơ sở hạ tầng luôn mang tính tiên phong định hướng. Cơ sở hạ tầng của một nước,
một vùng luôn phải hình thành và phát triển đi trước một bước so với các hoạt động
KTXH khác. Sự phát triển cơ sở hạ tầng về quy mô, chất lượng, trình độ tiến bộ kỹ thuật là
những tín hiệu cho thấy định hướng phát triển KT-XH, mở đường cho các hoạt động kinh
tế xã hội phát triển thuận lợi. Coi nhẹ hhoặc chậm trễ trong phát triển cấu trúc hạ tầng sẽ
14

do đó đưa ra các lựa chọn khác nhau. Và xác suất được dùng để tính 2 chỉ số quan trọng, giúp ta
miêu tả và so sánh các lựa chọn rủi ro khác nhau giá trị kỳ vọng và độ biến thiên,
Trong thực tế có thể chia rủi ro thành 2 loại:
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-
Rủi ro có thể đa dạng hóa: là rủi ro có khả năng loại trừ được bằng cách đầu tư vào
nhiều dự án hoặc giữ các cổ phiếu của nhiều công ty khác nhau, thường được biết đến với cách gọi
“bỏ trứng vào nhiều giỏ”
- Rủi ro không thể đa dạng hóa: là rủi ro không có khả năng loại trừ được bằng cách
này.
Chỉ rủi ro không thể đa dạng hóa mới tác động đến chi phí cơ hội về vốn (chi phí này phải
cao hơn lãi suất) và phải đưa vào mức trả cho rủi ro, cần tính thêm một mức trả cho rủi ro vào tỷ lệ
chiết khấu của dự án đầu tư. Với các khoản đầu tư vốn rủi ro không thể đa dạng hóa phát sinh vì lợi
nhuận của hãng có xu hướng phụ thuộc vào toàn bộ nền kinh tế. Khi kinh tế thị trường tăng trưởng
mạnh, lợi nhuận có xu hướng cao hơn và ngược lại. Vì tăng trưởng kinh tế trong tương lai là một sự
bất định, việc đa dạng hóa không thể loại trừ được tất cả các rủi ro. Vì vậy, để thu được một lợi tức
cao hơn thì các nhà đầu tư phải chấp nhận rủi ro ấy.
I.2.9. Công nghệ và đổi mới
Trong xã hội hiện đại, trí tuệ và sức sáng tạo của con người ngày càng được nâng lên tầm cao
mới và dường như là vô biên. Theo xu hướng này thì trong tương lai những công việc lao động chân
tay sẽ dần dần được thay thế bởi máy móc, trang thiết bị hiện đại do con người phát minh, chế tạo ra.
Do vậy, công nghệ và đổi mới là một yếu tố đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con
người nói chung và trong đầu tư nói riêng
Có khá nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa công nghệ và chúng ta có thể tham khảo
định nghĩa do UB Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dưong đưa ra: “Công nghệ là kiến
thức có quy tình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng,
thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ”.
Vậy, công nghệ và đổi mới tác động như thế nào tới hoạt động đầu tư.
Theo lý thuyết tân cổ điển về đâu tư thì đầu tư phụ thuộc vào sản lượng đầu ra và giá tương

động.
Từ hàm sản xuất Cobb Douglas trên đây, ta có thể tính được tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng
như sau :
g = r + α .h + (1 – α) . n
Trong đó : g : là tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng
h : là tỷ lệ tăng trưởng của vốn
n : tỷ lệ tăng trưởng lao động
Biểu thức trên cho ta thấy tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ thaụan với tiến bộ
công nghệ và và tỷ lệ tăng trưởng của vốn và lao động.
Đối với những nước phát triển, nếu muốn sản lượng tăng lên, họ dùng vốn đầu tư cho công
nghệ hiện đại thay cho việc sử dụng nhiều lao động. Còn những nước đang phát triển họ lại sử dụng
nhiều lao động hơn, hoặc kết hợp cả 2 yếu tố công nghệ và lao động. Nhưng vấn đề quan trọng ở đây
là dùng công nghệ như thế nào cho phù hợp với điều kiện cụ thể ở mỗi nước, không nên sử dụng
công nghệ quá hiện đại không phù hợp gây lãng phí, hoặc cũng không nên sủ dụng công nghệ quá lạc
hậu tránh tình trạng biến đất nước thành “bãi rác công nghiệp” của thế giới. Chính vì vậy mà công
nghệ và đổi mới có ảnh hưởng rất lớn đến chi tiêu đầu tư.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I.3. Kích cầu đầu tư
Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công cụ pháp lý
được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư
để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn thời kỳ
nhất định.
Kích cầu đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của một đất
nước nhất là đối với những nước đang phát triển. Như chúng ta đã biết về tầm quan trọng
và tính chất quyết định của hoạt động đầu tư đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một
quốc gia, ngành, vùng lãnh thổ hay các địa phương. Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại
thì kích cầu đầu tư có thể được tiếp cận theo hai bộ phận đó là đầu tư của chính phủ và đầu
tư tư nhân. Song đề tài này sẽ chỉ nghiên cứu vấn đề kích cầu đầu tư tư nhân bởi lẽ việc
chính phủ tăng hay giảm chi tiêu đầu tư như thế nào đã được các nhà hoạch định chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status