A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế Đầu Tư,Đảng và Nhà nước ta
dã thực hiện chính sách kinh tế mở cửa,hội nhập quốc tế,tiến hành hàng loạt các
biện pháp cải cách,đổi mới nền kinh tế quốc dân để đưa Việt Nam xây dựng nên
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong quá trình đổi mới đó,đầu tư
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Vấn đề đặt ra là để thúc đẩy hoạt động đầu tư trong điều kiện tiềm lực về cơ
sở hạ tầng,chính sách thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế,cần phải xây dựng một hệ
thống các chính sách hỗ trợ đầu tư đồng bộ thống nhất.Việc làm thế nào để kích
cầu đầu tư và sử dụng các khoản chi tiêu đầu tư sao cho hợp lý là một vấn đề còn
bộc lộ nhiều hạn chế chưa phù hợp đối với yêu cầu đầu tư của Việt Nam
Do vậy,việc nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư và
giải thích tình hình kích cầu đầu tư ở Việt Nam” có tính cấp thiết cao,đáp ứng đòi
hỏi của thực tiễn
Đây là một đề tài được làm trong trường đại học của sinh viên nên mục đích
chính là học tập và nghiên cứu trao đổi nhằm làm sáng tỏ thêm những vấn đề chưa
hiểu rõ hoặc chưa nắm bắt hết về nội dung môn học,từ đó có cái nhìn va suy nghĩ
rõ hơn về tình hình đầu tư của nước ta hiện nay.Cùng nhau đánh giá và tìm ra
hướng đi mới cho hoạt động đầu tư ở nước ta.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là hoạt động chi tiêu đầu tư va tình hình kích
cầu đầu tư của Việt Nam tại Đại học Kinh Tế Quốc dân khóa học 2006 - 2010
3. Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu,đánh giá,phân tích và nghiên cứu thông qua sách báo,qua mạng
Internet va qua tham khảo ý kiến cua thầy cô,từ đó rút ra những kinh nghiệm cho
bản thân.
4. Kết cấu của đề tài
Để đạt được mục đích trên đây,luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu.
CHƯƠNG II: Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư và
2.2. Lãi suất tiền vay
Thông thường các nhà đầu tư phải vay vốn để thực hiện đầu tư. Lãi suất phản
ánh giá của khoản tiền vay.
2.3. Sản lượng quốc gia
GNP(Gross National Product) tức Tổng sản lượng quốc gia hay tổng sản
phẩm quốc gia là một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất
nước.Nó được tính là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ
mà công dân của một nước lam ra trong một khoản thời gian nào đó,thông thường
là một năm tài chính,không kể làm ra ở đâu(trong hay ngoài nước)
Công thứ tính :
GNP=C+I+G+(X-M)+NR
Trong đó: C:chi phí tiêu dùng cá nhân
2
I:Tổng đầu tư cá nhân quốc nội(tất cả các doanh nghiệp đầu tư
trên lãnh thổ một nước)
G: Chi phí tiêu dngf của chính phủ
X:Kim ngạch xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ
M:Kim ngạch nhập khẩu của hàng hoá và dịch vụ
NR: thu nhập ròng từ các hang hoá và dịch vụ đầu tư ở nước
ngoài(thu nhập ròng)
2.4. Tổng đầu tư xã hội
Tổng đầu tư xã hội = Tổng đầu tư nhà nước+ tổng đầu tư của doanh nghiệp
- Tổng đầu tư nhà nước là tổng phần vốn đầu tư của chính phủ vào trong nền kinh
tế.Thông thường,nhà nước hay đầu tư vào nhưng ngành đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu
rất lớn mà các doanh nghiệp không thê đáp ứng được,và vào các ngành công cộng
- Tổng đầu tư của doanh nghiệp là tổng phần vốn đầu tư của doanh nghiệp vào các
lĩnh vực kinh tế.Thông thường mục đích đầu tư của doanh nghiệp là thu được phần
lợi nhuận lớn hơn phần vốn bỏ ra ban đầu
2.5. Chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP
của tổ chức, cá nhân ( bao gồm người Việt Nam, là người nước ngoài thường trú ở
Việt Nam).
Hiện nay, đầu tư trong nước đang ngày càng phát triển. Việc xuất hiện sàn
giao dịch chứng khoán Hostc tại thành phố HCM vào năm 2001 là bước ngoặt cho
thị trường đầu tư trong nước.Có thể nói thị trường chứng khoán kênh huy động vốn
rất quan trọng cho các doanh nghiệp trong nước đã được niêm yết.
Nhà đầu tư trong nước sẽ là nòng cốt của thị trường chứng khoán
Sau 7 năm đi vào hoạt động và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam
đã hình thành một cơ sở nhà đầu tư vững mạnh.
Theo thống kê của Ủy ban Chứng khoán, tính đến cuối tháng 6/2007, thị
trường chứng khoán Việt Nam có 243.809 tài khoản tăng 2,3 lần so với tháng
12/2006 (106.393 tài khoản). Trong đó, 242.624 tài khoản của nhà đầu tư cá nhân
và 1.185 tài khoản nhà đầu tư có tổ chức.
Để phát triển cầu chứng khoán, trong thời gian tới, Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước sẽ khuyến khích phát triển nhà đầu tư,các tổ chức trong nước làm nòng cốt,
đào tạo phổ cập kiến thức cho công chúng dưới các hình thức khác nhau, làm cho
công chúng đầu tư, các doanh nghiệp hiểu được các nội dung của thị trường chứng
khoán , các nghiệp vụ liên quan, thậm chí cần trang bị các kiến thức về đầu tư, về
rủi ro và biện pháp phòng ngừa cũng như khả năng phân tích dự báo tình hình biến
động của thị trường chứng khoán .
Ngoài việc đầu tư trên thị trường chứng khoán,nhà đầu tư trong nước còn đa
dạng hoá các hình thức đầu tư của mình như đầu tư vào vàng,ngoại tệ,bất động
sản…tạo điều kiện kích thích sự tăng trưởng kinh trong nước.
1.1.2. Đầu tư của nước ngoài vào nước ta
Lao Động Cuối tuần số 04 Ngày 27/01/2008 Cập nhật: 6:44 AM, 24/01/2008
(LĐCT) - Ngày 24.1.2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội nghị tổng kết 20
năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong 20 năm vốn đăng ký đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam đạt 98 tỉ USD với khoảng 9.500 dự án, vốn đầu tư được thực hiện đạt
hơn 43 tỉ USD.
Khu vực đầu tư nước ngoài đã đóng góp hơn 17% GDP, 16% tổng đầu tư xã
(Theo TTXVN)
- Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng
Mặc dù tình hình trong nước và quốc tế có nhiều khó khăn, song theo báo cáo của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH - ĐT) về tình hình đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN)
của Việt Nam trong 10 tháng năm 2008, xu hướng ĐTRNN của Việt Nam sẽ tiếp
tục gia tăng.
Theo báo cáo của Bộ KH – ĐT, trong 10 tháng năm 2008 đã có 52 dự án do các
doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN với tổng số vốn đầu tư đăng ký (kể cả cấp mới và
tăng vốn) trên 502,7 triệu USD. Quy mô vốn đầu tư trung bình đạt 9,66 triệu USD/
dự án.
Trong đó, các dự án ĐTRNN tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công nghiệp với
24 dự án, tổng vốn đầu tư là 239 triệu USD, chiếm 46,1% số dự án và 75,5% tổng
vốn đầu tư. Tiêu biểu có dự án của Công ty cổ phần hợp tác kinh tế Việt – Lào đầu
tư xây dựng nhà máy thủy điện Nậm Mô (Lào) với tổng vốn đầu tư 142,09 triệu
USD.
6
Về địa bàn, Lào vẫn là quốc gia dẫn đầu về đầu tư Việt Nam ra nước ngoài với 13
dự án, tổng vốn đầu tư là 137,3 triệu USD.
Dự báo tổng số vốn đăng ký ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam trong năm
2008 bao gồm cả tăng vốn sẽ đạt khoảng 800 triệu USD, trong đó vốn thực hiện
khoảng 400 triệu USD.
(Nguồn: Website Đảng Cộng sản VN)
1.2. Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư ở Việt nam
hiện nay
1.2.1. Lợi nhuận kỳ vọng
Theo lý thuyết Keynes
_ một trong hai yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh
nghiệp là Lợi nhuận kì vọng(LNKV).Nếu LNKV tăng:nhà đầu tư sẽ mở rộng quy
mô đầu tư và ngược lại LNKV giảm:nhà đầu tư sẽ thu hẹp quy mô đầu tư
_Keynes còn đưa ra thuật ngữ liên quan đến LNKV:Hiệu quả cận biên của
1.2.3. Sản lượng quốc gia
Xuất phát tư công thức(đã nêu ở 2.3 phần II chương 1) ta thấy hoạt động đầu
tư va sản lượng quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp tới nhau. Ở đây ta xem xét sự thay
đổi của sản lượng quốc gia sẽ tác động đến hoạt động đầu tư như thế nào.
Sản lượng quốc gia tăng ( với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi) sẽ là
nhân tố cơ bản làm tăng quy mô vốn đầu tư.Thực tế chứng minh rằng khi mà nên
kinh tế đang trong đà phát triển (hay đang trong giai đoạn phục hồi) thì các nhà đầu
tư sẽ mở rộng quy mô đầu tư.( xem cụ thể trong phần chu kì kinh tế). Và ngược lại
khi sản lượng quốc gia giảm (với điệu kiện các yếu tố khác không thay đổi) là nhân
tố cơ bản làm giảm quy mô vốn đầu tư vì các nhà đầu tư sẽ thu hẹp quy mô đầu tư.
Tuy nhiên tốc độ tăng của sản lượng quốc gia và tốc độ tăng quy mô vốn đầu
tư không giống nhau. Khi sản lượng nền kinh tế thay đổi thì vốn đầu tư thay đổi
theo cùng chiều nhưng tốc độ thay đổi của vốn đầu tư lớn hơn nhiều lần so với sự
thay đổi sản lượng.Cụ thể khi doanh thu tăng thêm i% thì vốn đầu tư phải tăng
thêm 1 số j lớn hơn i rất nhiều lần vì để sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm thì tiêu
tốn rất nhiều nguồn lực nên tổng số vốn để sản xuất ra 1đơn vị sản phẩm đó là rất
nhiều và ngược lại.
1.2.4. Tổng đầu tư xã hội
Tổng đầu tư xã hội= Đầu tư của nhà nước+ Đầu tư của doanh nghiệp
Theo tổng cục Thống kê, khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm
2007 theo giá thực tế ước tính vốn khu vực nhà nước 200.000 tỉ đồng, chiếm 43,3%
tổng vốn và tăng 8,1%; vốn khu vực ngoài nhà nước 187.800 tỉ đồng, chiếm 40,7%
và tăng 24,8%. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện chín tháng đầu năm khu vực nhà
nước 162.200 tỉ đồng, tăng 8%; khu vực ngoài nhà nước 118.500 tỉ đồng, giảm
9,6%. Số liệu này chứng tỏ, khu vực nhà nước sử dụng vốn ít hiệu quả hơn xét trên
khía cạnh tạo công ăn việc làm, trong khi tiếp tục có nguồn vốn đầu tư ổn định
Trong hai bộ phận trên thì đầu tư của nhà nước là khởi nguồn cho đầu tư của
doanh nghiệp. có thể thấy rõ nhận định này khi xem xét vai trò của Chính phủ- kim
chỉ nam, lực lượng đi đầu, định hướng cho tất cả các thành phần kinh tế khác.
Thứ nhất, với những khu vực kinh tế mới, những ngành kinh tế mới, doanh
Đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh, trở
thành nguồn tạo công ăn việc làm chủ yếu cho nền kinh tế, trong khi kinh tế nhà
nước ngày càng giảm tỷ trọng trong GDP.
Thứ nhất, mặc dù số lượng và vốn đầu tư của DN tăng đáng kể, song quy mô
của DN vẫn còn nhỏ và tăng trưởng chậm. Theo thống kê của CIEM, Việt Nam
hiện có tới 80% DN có vốn dưới 5 tỷ đồng
Yếu về quy mô, những chỉ số khác đều cho thấy, DN Việt Nam còn phải phấn
đấu nhiều, tăng trưởng tài sản DN đạt tốc độ trung bình 18,2%/năm, tăng trưởng
vốn chủ sở hữu khiêm tốn hơn với 14,7%/năm, tăng trưởng về doanh thu đạt
17,5%/năm, còn tăng trưởng về lợi nhuận chỉ đạt 13%/năm.
Doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã
đóng góp tích cực vào việc thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người
lao động. Theo nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Quang A, trong bảy năm tính từ
2000, số việc làm mới được tăng thêm là 3.180.000 người. Con số này là nhờ khối
doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài, trong đó, khối tư nhân tạo ra 2.329.000
người và khối có vốn nước ngoài là 1.037.000 người. Khối doanh nghiệp nhà nước
trong bảy năm đó không tạo thêm việc làm mới mà còn mất đi hơn 181.000 việc
làm.
Điều đó chứng tỏ việc phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác là một định hướng đúng và không chỉ có hiệu quả về kinh tế mà còn có hiệu
quả lớn hơn về mặt xã hội. Cần tạo môi trường thông thoáng hơn và khuyến khích
việc thành lập doanh nghiệp ngoài nhà nước.
9
Ngoài ra vốn trung bình tạo một việc làm mới cho khối tư nhân là 0,25 tỉ
đồng/chỗ làm, trong khi con số tương ứng ở khối doanh nghiệp nhà nước là 0,84 tỉ
đồng. Đánh giá khái quát, ông Nguyễn Quang A chỉ ra, khối doanh nghiệp nhà
nước tuy chỉ có chưa tới 5% tổng số lao động cả nước nhưng lại sử dụng gần 1/2
tổng đầu tư xã hội và chỉ đóng góp 37% vào GDP của năm 2006.
Mô hình tốt nhất mà tôi nghĩ VN nên áp dụng là xây dựng quan hệ đối tác giữa
đầu tư công và đầu tư tư nhân, kết hợp hai nguồn vốn này để cùng nhau xây dựng
hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản lượng và việc làm. Một trong những phiên
bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong suy thoái là do mức lương thực
tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường lao động.
• Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực
10
hay tiêu cực về năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh
tế và gây ra những dao động có tính chu kỳ. Những người ủng hộ lý thuyết này là
nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 2004 Edward Prescott, Charles Prosser,...
Nắm vững những đặc điểm của từng pha trong chu kì kinh tế mà các doanh
nghiệp có thể lựa chọn thời điểm đầu tư cho phù hợp
Ở pha suy thoái khi mà GDP thực tế giảm đi, đồng nghĩa với việc thu nhập xã hội
giảm. Chính vì lí do này làm cho lợi nhuận kì vọng giam đi.Một khi lợi nhuận lì
vọng giảm đi(như đã phan tích ở trên)thi các nhà đầu tư sẽ thu hẹp quy mô sản
xuất.Và đây chính là nguyên nhân của tình trạng đầu tư bị trì trệ khi nền kinh tê
lâm vào suy thoái.
Ngược lại các nhà đầu tư sẽ mở rộng quy mô đầu tư khi nên kinh tê đang ở giai
đoạn phục hồi và hưng thịnh bởi họ hi vọng quá trình đầu tư trong thời điểm này sẽ
mang lại hiệu quả cao.Như vậy các nhà đầu tư sẽ ồ ạt đầu tư,làm cho nên kinh tê
phát triển qua nong.Kết quả của một nền kinh tế phát triển quá nóng sẽ là sự suy
thoái.Bởi lẽ giai đoạn cuối của pha hưng thịnh trong chu ki kinh tế là pha suy thoái.
Các nha đầu tư cân dưng quá trình mở rộng đầu tư khi mà nên kinh tê ở dã phát
triển quy hưng thịnh
Như vậy là chu kì kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của doanh
nghiệp.Chính vì vậy khi ra quyết đinh đầu tư doanh nghiệp phải chú ý rất lớn đến
thời điểm quyết định mở rộng hay thu hẹp quy mô đầu tư.
Ngày nay các chuyên gia kinh tế đã tìm cách xây dựng và phát triển công cụ dự báo
những thay đổi trong nền kinh tế. Những mô hình đơn giản nhất dựa trên số liệu dễ
thu thập như sản lượng một số tư liệu sản xuất quan trọng (thép,...), khối lượng
hàng hóa vận chuyển... rồi công thức hóa số liệu thống kê để đưa ra chỉ số có tính
chất dự báo. Dần dần, với sự phát triển của công nghệ thông tin, người ta đã xây
được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996
thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký
hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ
bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án
có quy mô vốn vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN được cấp
phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư
gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông).
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu
phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với
năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm,
chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm
2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với
năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ
lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi
so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ
USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của
Chính phủ
1[2]
, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn
chung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao
hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy
mô vừa và nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã
tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư
chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ
cao,...) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ
cao cấp .v.v.). Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt
Nam.
1
rộng sản xuất tại Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an tâm của nhà
ĐTNN vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.
2.1.3. Quy mô dự án :
Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả năng tài
chính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường đầu tư Việt
Nam. Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua các giai
đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997.
Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án/
năm. Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự án đạt 11,6 triệu USD
trong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3 triệu USD/dự án trong 5 năm
1996-2000. Điều này thể hiện số lượng các dự án quy mô lớn được cấp phép trong
giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5 năm trước. Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký
trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự án trong thời kỳ 2001-2005. Điều này cho thấy
13
đa phần các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa
và nhỏ. Trong 2 năm 2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án
đều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời
kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một
số dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio....).
2.1.4. Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến 2007:
ĐTNN phân theo ngành nghề :
- Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng
thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các lĩnh vực
ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục các lĩnh
vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư. Trong những năm 90 thực hiện
chủ trương thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích
các dự án : (i) sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuất
khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), (iii) sử dụng nguồn nguyên liệu
trong nước và có tỷ lệ nội địa hoá cao.
5,14
8,473,303
2 CN nhẹ
2,54
2
13,26
8,720,908
3,63
9,419,314
3 CN nặng
2,40
4
23,97
6,819,332
7,04
9,365,865
4 CN thực phẩm 310
3,62
1,835,550
2,05
8,406,260
5 Xây dựng 451
5,30
1,060,927
2,14
6,923,027
Tổng số
5,74
5
50,02
căn hộ để bán và cho
thuê
153 9.262 1.892
4 Phát triển khu đô thị
mới
9 3.477 283
5 Kinh doanh hạ tầng
KCN-KCX
28 1.406 576
6 Tài chính – ngân hàng 66 897 714
7 Văn hoá - y tế – giáo
dục
271 1.248 367
8 Dịch vụ khác (giám
định, tư vấn, trợ giúp
pháp lý, nghiên cứu
thị trường...)
954 2.145 445
Tổng cộng 1.912 28.609 7.399
Trong năm 2007 tuy vốn đầu tư đăng ký tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công
nghiệp (50,6%), nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư mạnh vào lĩnh vực dịch
vụ, chiếm 47,7% tổng vốn đăng ký của cả nước, tăng 16,5% so với năm 2006
(31,19%) với nhiều dự án xây dựng cảng biển, kinh doanh bất động sản, xây dựng
khu vui chơi, giải trí.v.v.
- ĐTNN trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư :
Dành ưu đãi cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp đã
được chú trọng ngày từ khi có luật đầu tư nước ngoài 1987. Tuy nhiên đến nay do
nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này,
nên kết quả thu hút ĐTNN vào lĩnh vực Nông – Lâm ngư chưa được như mong
muốn.
1
Nông-Lâm
nghiệp
803
4,0
14,833,499
1,8
56,710,521
2 Thủy sản
130
4
50,187,779
1
69,822,132
Tổng số
933
4,4
65,021,278
2,0
26,532,653
ĐTNN phân theo vùng, lãnh thổ :
Qua 20 thu hút, ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước, không còn địa phương
“trắng” ĐTNN nhưng tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là
vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và các vùng phụ cận
(xem biểu 5).
Vùng trọng điểm phía Bắc có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên
thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang chuyển
dần sang trở thành trung tâm dịch vụ cao cấp của cả vùng (bưu chính, viễn thông,
tài chính, ngân hàng..) cũng như hướng thu hút vốn ĐTNN vào các ngành công
nghệ cao thông qua một số khu công nghệ cao (Quang Trung, Hòa Lạc)
Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng ký
8,6 tỷ USD qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cả
nước, trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ USD) hiện đứng
đầu các tỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô có vốn
đăng ký 1,7 tỷ USD. Tiếp theo là Đà Nẵng (113 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ
USD), Quảng Nam (15 dự án với tổng vốn đăng ký 1,1 tỷ USD) đã có nhiều tiến bộ
trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm
nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế, bước đầu đã góp phần giảm tình trạng
“cháy” buồng, phòng cho khách du lịch, nhưng nhìn chung vẫn còn dưới mức nhu
cầu và tiềm năng của vùng. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN còn
khiêm tốn như vùng Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng (93 dự án với
tổng vốn đăng ký 318,4 triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực Tây Nguyên nhưng
chỉ chiếm tỷ trọng 1% về số dự án. Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốn ĐTNN
còn thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và
3,2% vốn thực hiện của cả nước.
2
18