đầu tư và các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư - Pdf 20

LỜI NÓI ĐẦU
Một nền kinhh tế chỉ có thể tăng trưởng và phát triển về chiều rộng hay
chiều sâu thông qua đầu tư và tích luỹ vốn cho đầu tư. Con đường hiệu quả
nhất để đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội là đầu tư đúng hướng với liều
lượng phù hợp.
Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động đầu tư trở lên sôi động trên phạm vi
toàn thế giới, nền kinh tế giữa các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau hơn.
Thông qua đầu tư quốc tế, người ta cùng hợp tác, cùng kỳ vòng sao cho các
bên cùng có lợi trên cơ sở đóng góp những thế mạnh hiện có.
Các lý thuyết kinh tế thường nhận định rằng, đầu tư gia tăng sẽ có tác
động tích cực tới nền kinh tế. Nhưng chi tiêu đầu tư còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác và khi đặt trong mối quan hệ đó không phải bao giê nó cũng đạt
được hiệu quả như mong muốn. Đứng trước yêu cầu cấp bách hiện nay,
những nứơc đang phát triển vốn hạn chế cả về số lượng vốn đầu tư lẫn năng
lực sử dụng nguồn vốn đang gặp một vấn đề lớn là làm thế nào để tăng chi
tiêu đầu tư và quan trọng hơn là để sự hi sinh nguồn lực hiện tại sẽ đem lại kết
quả như dự tính trong tương lai.
Để giải quyết vấn đề đó, bài viết này có trình bày sơ qua một số yếu tố
có ảnh hưởng tới chi tiêu đầu tư, trên cơ sở đó phân tích một số giải pháp có
ảnh hưởng đến kích cầu đầu tư ở Việt Nam trong những năm qua. Do thời
gian, kiến thức và khuôn khổ bài viết còn hạn chế, chắc rằng những vấn đề
được nghiên cứu trong bài viết này còn chưa thật xác đáng và đầy đủ. Rất
mong nhận được sự dóng góp của thầy cô và các bạn!
Nhóm I:
 Ninh Văn Huệ
 Dương Ngọc Hùng
 Nguyễn Hồng Thanh
 Phan Đức Bình
 Trần Minh
1
Chng I Lý lun chung v u t v

®Çu t.
-Chi phí dự phòng Chi phÝ dù phßng
+Chi phí nhân công trực tiếp Chi phÝ nh©n c«ng trùc tiÕp
+Chi phí cho công nghệ Chi phÝ cho c«ng nghÖ
+Chi phí quản lý Chi phÝ qu¶n lý
Như vậy nội dung của chi tiêu đầu tư gồm rất nhiều vấn đề vì vậy cần
tìm hiểu và nghiên cứu kĩ những yếu tố tác động mạnh tới chi tiêu đầu tư để
có thể điều chỉnh một cách hợp lý sao cho có thể phát huy hiệu quả của hoạt
động đầu tư một cách tối ưu nhằm giúp cho nền kinh tế tăng truởng và phát
triển một cách bền vững và cân đối.
2. Kích cầu đầu tư
Nói một cách đơn giản, thì kích cầu là kích thích nhu cầu tiêu dùng hàng
hoá và dịch vụ,hay nói theo mối quan hệ cung cầu tiền tệ thì kích cầu là các
giải pháp làm tăng sức mua có khả năng thanh toán bằng tiền của nền kinh tế
nói chung và của nhân dân nói riêng.
Từ đó, ta thấy kích cầu phải được thực hiện với cả hàng hoá và dịch vụ tư
liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Kích cầu hàng hoá và dịch vụ cho sản xuất
chính là kích cầu đầu tư, làm tăng lượng vốn vào xây dựng cơ sở vật chất và
tăng vốn lưu động vào sản xuất kinh doanh trong đó chủ yếu là sức mua về tư
liệu sản xuất.
Như vậy, kích cầu nói chung và kích cầu đầu tư nói riêng đều nhằm
mục đích làm tăng quy mô đầu tư, kích thích sự phát triển của nền kinh tế.
II. một số yếu tố ảnh hưởng tới chi tiêu đầu tư
1. Lợi nhuận kỳ vọng tương lai:
Theo lý thuyết của Kyenes,một trong các nhân tố ảnh hưởng đến cầu
đầu tư là lợi nhuận kỳ vọng. Nếu lợi nhuận kỳ vọng mà nhỏ hơn lãi suất tiền
vay thì nhf đầu tư sẽ không bỏ tiền sản xuất mà gửi tiết kiệm. Cũng theo ông
thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suất đầu tư của số tiền đầu
3
tư mới. Do đó,vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm, nhà đầu

vốn hay lãi suất và chính sách thuế thu nhập. Vì vậy, sự thay đổi của sản
lượng đầu ra, hoặc sự thay đổi của lãi suất, của thuế suất thuế thu nhập sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến quy mô của nền kinh tế.
Theo lý thuyết gia tốc đầu tư,sản lượng đầu ra là yếu tố quyết định mức
đầu tư.vì vậy, tăng chi tiêu của chính phủ hoặc giảm thuế thu nhập sẽ thúc đẩy
đầu tư của nền kinh tế thông qua tác động của chúng đến tổng cầu.
Theo lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ, chính sách thuế thu nhập doanh
nghiệp còng sẽ ảnh hưởng lớn đến đầu tư của nền kinh tế. Các biện pháp
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đều có thể dẫn tới làm tăng nguồn vốn nội
bộ và từ đó làm tăng vốn đầu tư.
Vì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nên giảm thuế để khuyến
khích đầu tư. Mặt khác, nếu tăng thuế suất sẽ không khuyến khích sản xuất
phát triển, khi đó cũng có nghĩa là không có nguồn thu nào cho ngân sách.
Tác động trái chiều đó sẽ bị gây ra trong cả hai hệ thống thuế trực thu và gián
thu. Thuế trực thu, loại thuế trực tiếp điều tiết thu nhập của người chịu thuế,
nếu ở mức cao sẽ làm nản lòng các nhà đàu tư do đó làm tăng chi phí đầu tư
và giảm thu nhập của các nhà đầu tư. Đồng thời nó làm giảm nguồn vốn nội
bộ của doanh nghiệp, không khuyến khích các doanh nghiệp tái đầu tư mở
rộng sản xuất. Thuế gián thu, với tính chất đánh vào hàng hoá và dịch vụ, nó
tác động trực tiếp tới giá cả sản phẩm, quyết định tới hành vi của người tiêu
dùng. Từ đó nó cũng ảnh hưởng tới quyết định của chủ đầu tư.
4. Cầu tiêu dùng
Ta đã phân tích rằng đầu tư tác động đến tiêu dùng nhưng đồng thời
cầu tiêu dùng cũng tác động ngược trở lại đầu tư.
5
Xét trong dài hạn, tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng đối với các phân tích dài
hạn do vai trò của nó đối với tăng trưởng kinh tế. Cụ thể chúng ta sẽ xem xét
mô hình sản lượng nền kinh tế đóng:
Y = C + I + G
Y: Tổng sản lượng nền kinh tế

ngành kinh tế phát triển hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó giúp cho các
ngành trong nền kinh tế có điều kiện mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá
với nhau, do đó hàng hoá sẽ tiêu thụ được nên sản xuất phát triển, nhu cầu
đầu tư tăng. Nhu cầu đầu tư tăng sẽ dẫn đến chi tiêu đầu tư tăng. Hơn nữa, khi
sản xuất phát triển thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cao tức là GDP tăng,
vì vậy quốc gia đó sẽ có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho giai đoạn sau, có
nghĩa là chi tiêu đầu tư cho giai đoạn sau tăng.
Nhu cầu về vốn đầu tư cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của một
quốc gia phụ thuộc rất lớn vào hệ số ICOR của nền kinh tế. Hệ số ICOR thể
hiện mức độ gia tăng vốn đầu tư so với mức độ gia tăng sản lượng của nền
kinh tế. Hệ số ICOR trong các ngành khác nhau là khác nhau. Vì vậy, nhu cầu
về vốn cũng khác nhau dẫn đến cơ cấu đầu tư đối với các ngành trong nền
kinh tế và cơ cấu đầu tư trong nội bộ các ngành cũng khác nhau.
Như vậy, cơ cấu đầu tư có ảnh hưởng rất lớn tới chi tiêu đầu tư không
những ở hiện tại mà cả trong tương lai, không những trong nội bộ các ngành
mà cả trong nội bộ nền kinh tế.
6. Môi trường đầu tư
7
Theo cách hiểu chung nhất thì môi trường là tập hợp các yếu tố bên
ngoài liên quan đến sự vật, hiện tượng. Bất cứ một cơ thể sống nào, một sự
vật hiện tượng nào đều tồn tại trong môi trường của chúng, chịu tác độngcủa
những yếu tố bên trong môi trường đó. Bởi vậy, đầu tư cũng phải chịu tác
động của các yếu tố trong môi trường đầu tư. Một môi trường đầu tư được
đánh giá là hấp dẫn khi nó có sự chặt chẽ trong hệ thống luật pháp, sự thông
thoáng trong cơ chế chính sách, sự ổn định về chính trị… đảm bảo cho các
nhà đầu tư quyền tự chủ, độc lạp trong các quyết định đầu tư của mình, có lợi
nhuận hợp lý nhưng không ảnh hưởng đến người khác.
Môi trường đầu tư gồm môi trường pháp lý, môi trường văn hoá, môi
trường kinh tế… Khi nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới chi tiêu
đầu tư đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ, toàn diện tất cả các yếu tố, đặt chúng

được huy động ở đây bao gồm ba nguồn cơ bản sau đây:
Vốn ngân sách nhà nước: Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
là thuế. Nguồn vốn này thường được nhà nước đầu tư chủ yếu vào các hoạt
động đầu tư phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào lĩnh vực cần có
sự tham gia của nhà nước, phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch
xây dựng đô thị và nông thôn.
Vốn tín dụng nhà nước gồm: trái phiếu chính phủ và các tín dụng có
giá khác của nhà nước. Nguồn vốn này thường được huy động khi nhà nước
muốn đầu tư vào một hoạt động nào đó mà không cần phải sử dụng vốn của
ngân sách nhà nước. Nhà nước thường phát hành trái phiếu có thời hạn dài
nhằm thu hót nguồn vốn nhàn rỗi trong dân
Vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường
với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, chi phối sự vận động của các thành phần kinh tế khác, bởi vậy
quy mô vốn và hiệu quả sử dụng vốn của hệ thống doanh nghiệp nhà nước giữ
vị trí then chốt trong nền kinh tế.
9
Có thể nói rằng đầu tư nhà nước là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế, để
hoạt động đầu tư nhà nước có hiệu quả cần có sự quản lý và phân phối hợp lý
giữa các địa phương để từ đó giúp kinh tế phát triển bền vững và cân đối.
8. Những yếu tố khác
Ngoài những yếu tố trên còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới hoạt
động chi tiêu đầu tư như:
a. Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư.
Với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật hiện nay đã làm cho năng suất lao động
tăng lên dẫn tới sản lượng nền kinh tế cũng tăng lên đáp ứng ngày càng đầy
đủ hơn nhu cầu của con người. Sù thay đổi nhu cầu con người làm quan hệ
cung cầu trên thị trường còng thay đổi theo. Những tiến bộ trong khoa học kĩ
thuật có thể làm quy luật tỷ suất lợi nhuận biên giảm dần bị hạn chế hoặc mất

Lãi suất được coi là một trong số các công cụ được sử dụng để kích cầu
đầu tư của chính phủ. Thông qua hạ lãi suất sẽ kích thích các tầng líp dân cư
đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh hoặc tăng tiêu dùng, kích thích các doanh
nghiệp vay vốn đầu tư mở rộng sản xuất. Thế nhưng thực tế ở Việt Nam, vấn
đề lãi suất cần dược phân tích sâu hơn.
Trong năm 1999, sau 5 lần điều chỉnh lãi suất cho vay, ngày 25-10 trần
lãi suất cho vay đồng nội tệ dã giảm xuống mức thấp nhất (ở đô thị là
0.85%/tháng, nông thôn 1%/tháng). Tuy nhiên, đến cuối năm 1999, tổng số
dư nguồn vốn huy động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng ước tính
tăng gần 20% so với dự kiến kế hoạch và bằng dưới 50% mức tăng năm
1998, hàng ngàn tỉ đồng vốn bị ứ đọng trong các ngân hàng thương mại.
Nguyên nhân của tình trạng trên có thể kể đến đó là:
Đây vẫn là mức lãi suất hấp dẫn với ngưòi dân, họ chọn giải pháp gửi
tiết kiệm vào ngân hàng vừa để “tích trữ phòng cơ”, vừa để hưởng lãi suất kép
(lãi cho vay và lãi do đồng tiền lên giá). Họ chưa muốn đầu tư vào sản xuất
kinh doanh vì sợ rủi ro và cũng chưa muốn mang ra mua sắm vì hi vọng giá
vẫn tiếp tục giảm xuống, càng không muốn vay ngân hàng vì sợ lỗ đúp ( lỗ do
trả tiền vay và lỗ do giảm giá).
Lãi suất có giảm nhưng tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp vẫn
thấp hơn tỷ lệ lãi suất vay của ngân hàng.
Đối với khu vực nông thôn, tuy nhu cầu vay vốn rất lớn song người dân
rất khó có thể vay được do thủ tục phức tạp, không có cầm cố thế chấp và
cũng gần như không có khả năng trả nợ do tỷ lệ lãi suất cho vay chưa hợp lý,
còn cao hơn ở thành thị.
Từ tháng 6-2002, lãi suất nội tệ tăng cao. Đến đầu tháng 7-2003, lãi
suất huy động vốn nội tệ kỳ hạn một năm của các ngân hàng thương mại phổ
biến ở mức 8% - 8.4%/năm, so với mức lạm phát chỉ có 3%- 3.5%, làm cho
12
lãi suất thực của lợi tức tiền gửi ngân hàng lên tới 4.5- 5%/năm, cao nhất
trong vòng 10 năm qua và quá cao so với mức kỳ vọng trong điều hành vĩ mô

thường sẽ chuyển chi phí thuế lên người lao động dưới hình thức lương thấp
hơn, và một phàn chuyển sang người tiêu dùng thông qua các mức giá cao
hơn.
+ Hiện tượng trèn thuế còn phổ biến ở các doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp nhá thường có thể giảm gánh nặng thuế nhờ mang tính phi chính thức
và trèn thuế. Các doanh nghiệp lớn cũng có thể giảm gánh nặng thuế nhờ khả
năng đàm phán các đặc ân về thuế và khả năng trèn thuế thông qua các
phương tiên luật pháp phức tạp.
+ Tệ quan liêu, tham nhòng trong hệ thống quản lý thuế còng làm giảm
động cơ nép thuế của các doanh nghiệp cũng như góp phần gây thất thoát.
Bên cạnh thuế TNDN, việc áp dụng thuế GTGT và các hình thức thuế
gián thu khác (thuế TTĐB, thuế nhập khẩu) là một phương hướng quan trọng
của cải cách thuế. Từ khi ra đời, hệ thống thuế GTGT đã góp phần thúc đẩy
hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng giao lưu hàng hoá và dịch vụ, đơn
giản hoá hệ thống thuế. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều mức thuế suất, (một
mức phổ thông 10% đánh vào đa số hàng hoá, dịch vụ chịu thuế, một mức ưu
đãi 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu) và hai phương
pháp tính thuế đã thể hiện sự phức tạp trong quản lý thuế GTGT.
Hai sắc thuế TTĐB và thuế nhập khẩu thực sự đang ảnh hưởng đến các
doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thời gian tới, xu hướng thuế nhập khẩu giảm
mạnh là tất yếu. Đó là một thuận lớn cho khu vực kinh doanh, kích thích được
tiêu dùng nội địa. Nhưng hiện tại thì tổng cầu nội địa vẫn chưa được kích
thích do thuế nhập khẩu vẫn dược thiết kế ở mức cao, cơ hội kinh doanh của
các doanh nghiệp, sức hót của môi trường đầu tư đã phải chịu nhiều thiệt thòi.
3.Cầu tiêu dùng
Xuất phát từ mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa cầu tiêu dùng
và cầu đầu tư cho thấy muốn tăng cầu đầu tư thì tất yếu phải kích cầu tiêu
dùng. Sau khi khắc phục đựoc tình trạng lạm phát phi mã trong thời kỳ 1986 –
1991, tốc độ tăng giá đã giảm mạnh, thậm chí có những năm nhà nước phải áp
14

15
tăng dần qua các năm. Vốn đầu tư xã hội được phân bố tập trung vào 2 vùng
kinh tế trọng điểm là Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ. Các
vùng miền núi phía Bắc và miền núi Tây Nguyên có tỷ trọng vốn đầu tư trong
tổng vốn đầu tư xã hội nhỏ nhất.
Cơ cấu đầu tư như trên đã tạo chuyển biến đáng kể trong cơ cấu kinh
tế. Mặc dù tất cả các ngành đều có tăng trưởng dương nhưng tốc độ tăng
trương của công nghiệp, dịch vô thường xuyên phá triển với nhịp độ cao và
ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng GDP cả nước ( năm 1990 là 61.62%,
năm 1999 là 74.17%). Cơ cấu vùng, lãnh thổ được phân bổ vốn đầu tư nhìn
chung là hợp lý, bước đầu khắc phục được sự phát triển không đồng đều giữa
các vùng, tạo điều kiện cho các vùng khó khăn triển khai các chương trình
xoá đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng… Mặt khác, đầu tư góp phần
hình thành lên những vùng chuyên môn hoá tập trung, những khu kinh tế
trọng điểm và phát huy lợi thế so sánh trong từng vùng.
Tuy nhiên cơ cấu đầu tư thời gian quacũng thể hiện những bất cập. Thứ
nhất, cơ cấu nguồn vốn chưa hợp lý. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của đất
nước là rất lớn nhưng khả năng đáp ứng các nguồn vốn thấp. Cơ chế chính
sách huy động các nguồn vốn còn thiếu đồng bộ, chưa mang tính khuyến
khích và hấp dẫn cao, thiếu tính năng động sáng tạo trong khai thác các nguồn
vốn. Các bộ, ngành, địa phương còn trông chờ, ỷ lại vào vốn ngân sách. Thứ
hai, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư chưa cao,còn dàn trải, lãng phí
và thất thoát lớn trong đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước. Chưa phát huy hết lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của đất
nước trên trường quốc tế. Thứ ba, cơ cấu đầu tư theo ngành, vùng chưa dịch
chuyển mạnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng ngành và từng
vùng, chưa tạo ra được cơ cấu kinh tế có khả năng khai thác các thế mạnh
trong từng ngành và từng vùng phát triển.
5. Đầu tư nhà nước
Nguồn vốn đầu tư của nhà nước chỉ chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu

ước trên 10 tỷ USD. Hàng trăm ngàn tỷ đồng đã được người dân dùng vào
việc mở nhà xưởng,kinh doanh xuất nhập khẩu, xây dựng khách sạn, khu du
17
lịch, nhà nghỉ, mở cửa hàng, lập trang trại…Từ cuối 2000, luật đất đai được
bổ sung, sửa đổi làm thị trường bất động sản tăng giá liên tục, người dân hăng
hái tham gia kinh doanh bất động sản và đầu tư xây dựng nhà ở. Luật khuyến
khích đầu tư trong nước đã thực sự khuyến khích được các nhà đầu tư đặc biệt
là ở khu vực tư nhân. Từ 1 –1 – 2004, luật thuế TNDN có hiệu lực, lần đầu
tiên chính sách thuế được áp dụng chung cho doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Luật đầu tư nước ngoài được thông qua vào năm 1987, qua nhiều lần
được bổ sung, sửa đổi và đưa vào thực hiện đã đạt được những kết qủa nhất
định. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ năm 1988 đến nay đạt hơn 28 tỷ USD
(gồm cả vốn thực hiện của các dự án hết hạn hoặc giải thể trước thời hạn).
Riêng thời kỳ 1991 – 1995,vốn thực hiện đạt 7.15 tỷ USD, thời kỳ 1996 –
2000 đạt 13.4 tỷ USD. Trong 3 năm 2001 – 2003, vốn thực hiện đạt 7.7 tỷ
USD bằng 70% mục tiêu đề ra. Tính đến hết năm 2003, các dự án đầu tư nước
ngoài đã đạt tổng doanh thu gần 70 tỷ USD (không kể dầu khí). Trong đó,
riêng 3 năm 2001 – 2003 đạt khoảng 38.8 tỷ USD. Giá trị xuất khẩu của khu
vực đầu tư nước ngoài đạt trên 26 tỷ USD, riêng 3 năm 2001 – 2003 đạt 14.6
tỷ USD (nếu tính cả dầu khí là 24.7 tỷ USD). Xuất khẩu của khu vực doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, bình quân trên 20%/năm đã làm
cho tỷ trọng của khu vực kinh tế này trong tổng giá trị xuất khẩu của cả nước
tăng liên tục qua các năm: năm 2001 là 24.4%, năm 2002 là 27.5% và năm
2003 là 31.4%.
Nhìn chung hệ thống luật pháp chính sách về đầu tư nước ngoài của
nước ta tiếp tục được hoàn chỉnh theo hướng xoá bỏ phân biệt đối xử giữa đầu
tư trong nước và nước ngoài, minh bạch hơn và phù hợp hơn với nhu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên việc triển khai xây dựng một số văn bản còn
chậm, chất lượng một số văn bản chưa đạt yêu cầu, sau khi ban hành đã buộc

lớn nhưng chất lượng chưa cao, cơ cấu đào ạo giữa các ngành, các cấp chưa
thoả đáng dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ, lao động chưa được sử dụng
hợp lý, gây lãng phí nguồn nhân lực
19
20
CHƯƠNG III – MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
1. Điều chỉnh lãi suất
Trong thời gian tới hệ thống ngân hàng với vai trò trung gian thu hót
vốn cho đầu tư phát triển phải tích cực hoàn thiện, đổi mới theo xu hướng hội
nhập, nâng cao hiệu quả của các nghiệp vụ ngân hàng. Trong đó việc điều
hành công cụ lãi suất phải hướng tới một số vấn đề sau:
+ NHNN nên cân nhắc giải pháp giảm mạnh hơn nữa tỷ lệ dữ trữ bắt
buộc tiền gửi ở cả hai loại kỳ hạn: dưới 12 tháng và dưới 24 tháng, tốt nhất là
xuống còn 0% - tối đa là 2%.
+ Tập trung phát triển thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống
ngân hàng, thu hót tiền nhàn rỗi, tiền thanh toán trong xã hội vào ngân hàng,
tạo thành nguồn vốn dồi dào có lãi suất đầu vào thấp để mở rộng đầu tư cho
nền kinh tế.
+ Phát triển thị trường trái phiếu, huy động vốn trung, dài hạn đầu tư
cho các dự án, nhưng cần phối hợp chặt chẽ lãi suất các loại trái phiếu do các
đơn vị khác nhau phát hành, bảo đảm tính hợp lý lãi suất trong nền kinh tế.
+ NHNN cần khắc phục bất hợp lý về công bố lãi suất cơ bản, các mức
lãi suất công bố cần hợp lý và sát thực hơn. NHNN cũng cần có những biện
pháp, hoặc cũng có thể thông qua Hiệp hội ngân hàng để giảm thiểu nghịch lý
về cạnh tranh lãi suất.
2. Cải thiện hệ thống thuế
Tiếp tục cải cách đồng bộ trên cả 3 mặt chính sách thuế, hành chính
thuế và dịch vụ tư vấn thuế, tiếp tục xây dựng và củng cố một hệ thống thuế
hiện đại có cơ cấu hợp lý, có đầy đủ các sắc thuế cần thiết, phù hợp với thể
chế thị trường, có tính công bằng và có khả năng hội nhập quốc tế tốt.

Đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, dịch vụ, cần đầu tư tập
trung vào ngành mòi nhọn, phát triển các mô hình khu chế suất,khu công nghệ
cao, khu công nghiệp tập trung để tạo nguồn lực cho xã hội, song cần tránh
đầu tư dàn trải, theo phong trào. Sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước
và hướng vào hoạt động có hiệu quả hơn.
22
4. Tạo cơ cấu đầu tư hợp lý
Đổi mới cơ cấu đầu tư phải nhằm mục tiêu thực hiện thắng lợi các quá
trình của CNH, góp phần làm chuyển dịch một cách sâu sắc và toàn diện cơ
cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ,
khắc phục sự mất cân đối giữa các vùng, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
ổn định và nang cao mức sống nhân dân
Đối với vốn đầu tư của nhà nước chỉ nên tập trung vào những ngành
then chốt, những ngành có tính đột phá tạo đà cho các ngành khác phát triển.
Coi trọng quy luật cung – cầu trong nền kinh tế thị trường, phát huy
tính chủ động sáng tạo của cơ sở đồng thời đảm bảo vai trò quản lý của nhà
nước.
Đổi mới cơ cấu đầu tư đảm bảo nguyên tắcvốn trong nước là quyết
định, vốn nước ngoài là quan trọng, đảm bảo sự phát triển hợp lý giữa các
vùng và xây dựng các vùng trọng điểm.
5. Tăng cường vai trò đầu tư nhà nước
Đầu tư chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong các ngành kinh tế, vùng kinh
tế theo hướng CNH – HĐH, phát huy lợi thế, tăng hiệu quả và sức cạnh tranh
của từng ngành, từng sản phẩm và toàn bộ nền kinh tế. Có kế hoạch phân bổ
nguồn vốn đầu tư phù hợp gắn với cơ chế thị trường, nhà nước chỉ thực hiện
chức năng điều tiết thông qua chính sách đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư chung
và tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần
kinh tế.
Về nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước:
+ Tiếp tục giải quyết những vướng mắc trong cơ chế xử lý rủi ro, thủ

Thực hiện hiện đại hoá công tác hành chính.
24
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh của thời đại ngày nay, với yêu cầu chung để phát triển
kinh tế, Việt Nam đang từng bước nâng cao cả số lượng và chất lượng nguồn
vốn đầu tư. Nhiệm vụ đang đặt ra cho chóng ta là làm thế nào để có thể đi tắt,
đón đầu, hoà vào nhịp phát triển ngày càng mạnh mẽ, để có thể chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế.
Do đặc điểm xã hội và do hoàn cảnh kinh tế nước ta trong những năm
qua còn nhiều khó khăn, việc tăng chi tiêu đầu tư bằng các biện pháp chung
như thế giới áp dụng chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Trước thực
trạng đó chúng ta đã từng bước và áp dụng linh hoạt các biện pháp kích cầu
đầu tư và cũng đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần đáng kể vào
đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân trên cơ sở phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác khu vực và quốc tế. Nhưng cũng
không phải là không có những hạn chế làm giảm hiệu quả của các biện pháp
kích cầu.
Để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả và hiệu lực của các chính sách
cho giai đoạn tới, việc xem xét đánh giá lại tình hình thực hiện các biện pháp
kích cầu trong thời gian qua, cả mặt được và chưa được là rất cần thiết. Từ đó
có chính sách kích cầu đầu tư hợp lý.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status