Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư và tình hình kích cầu đầu tư ở Việt Nam - Pdf 26

Câu 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư và tình hình kích cầu đầu tư ở Việt
Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư
1. Lợi nhuận kì vọng
1.1 Lí thuyết của Keynes
- Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hi vọng sẽ thu
được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư. Theo lí thuyết của Keynes, lợi nhuận kì
vọng là 1 trong 2 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết đầu tư của doanh nghiệp. Nếu lợi
nhuận kì vọng lớn, nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh. Lợi nhuận cao sẽ kích thích
nhu cầu đầu tư, ngược lại nếu lợi nhuận kì vọng thấp và nhỏ hơn tiền lãi thu được khi gửi
tiền vào các ngân hàng thì các nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào sản xuất kinh doanh mà
thay vào đó, họ gửi tiền vào ngân hàng.
- Mặt khác, theo ông thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suất đầu tư
của số tiền đầu tư mới. Do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm dần.
Điều này có thể giải thích do các nguyên nhân sau:
Trước hết, khi tăng chi tiêu đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư sẽ tăng. Cầu về vốn tăng
dẫn đến sự gia tăng của lãi suất cho vay (giá của đồng vốn). Nếu các yếu tố khác không đổi
thì khi đó, lợi nhuận giảm nên tỷ suất lợi nhuận biên giảm.
Thứ hai, xuất phát từ phương diện cung sản phẩm cho thị trường. Khi gia tăng đầu
tư và kết quả đầu tư đã đi vào hoạt động, phát huy kết quả trong thực tiễn thì cung sản
phẩm sẽ tăng, nghĩa là có nhiều sản phẩm được cung ứng vào nền kinh tế. Cung tăng, giá
sản phẩm sẽ giảm, chi phí sản xuất xem như ổn định, lúc đó tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư
giảm.
Thứ ba, xuất phát từ năng suất lao động. Khi gia tăng vốn đầu tư vào sản xuất thì
sự gia tăng về kĩ thuật, công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho mỗi lao động cũng
giảm dần, nghĩa là khi lượng vốn còn ít thì mỗi sự gia tăng của 1 đơn vị vốn sẽ làm cho
năng suất lao động gia tăng nhiều hơn
so với khi lượng vốn nhiều. Năng suất lao động biên giảm dần dẫn đến lợi nhuận biên của
vốn cũng giảm dần.
Thứ 4, khi quy mô vốn đầu tư tăng, hiệu quả biên của vốn giảm dần nên các nhà
đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư cho tới khi hiệu quả biên của vốn còn lớn hơn mữ lãi suất vốn

như thế nào, mức độ phát triển của các dịch vụ hạn chế rủi ro (bảo hiểm, tín dung,..) và
quan trọng nhất là sự ổn định của môi trường đầu tư cả về kinh tế, xã hội và chính trị.
1.2.3 Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất
Với mỗi dự án, khi nhà đầu tư quyết định bỏ vốn đầu tư thì họ phải xác định được
các yêu tố đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hành khai thác kết quả của
dự án sau này, đó bao gồm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Cụ thể là:
- Các điều kiện về nguồn nhân lực: bao gồm cả về chất lượng và số lượng. Khi xem
xét nguồn nhân lực ta cần chú ý về khả năng dự báo tốc độ tăng dân số, về tiền lương, về
trình độ học vấn và văn hóa của họ…
- Nguồn vốn cho hoạt động đtpt: đó chính là khả năng huy động vốn trên thị trường
tài chính và tỷ lệ phân bổ vốn cho hoạt động đầu tư.
- Về nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào: phụ thuộc vào các chính sách bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, tốc độ đền bù giải phóng mặt bằng, các mối liên hệ giữa các ngành
kinh tế….
- Về trình độ công nghệ: phụ thuộc vào các quy định về chuyển giao công nghệ, khả
năng nghiên cứu ứng dụng của đội ngũ khoa học trong nước. Nếu là nhập công nghệ từ
nước ngoài thì còn phụ thuộc vào trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học trong nước: họ tiếp
thu, triển khai công nghệ đó như thế nào?
- Về cơ sở hạ tầng: phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước, do đó phụ thuộc
vào quy hoạch vùng và khả năng ngân sách.
1.2.4 Thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái phân phối của
cải xã hội vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các ngành, vùng miền. Thuế ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên các ưu đãi về thuế thường được sử
dụng như 1 biện pháp khuyến khích đầu tư.
2
Vấn đề ở đây là phải xây dựng một chính sách thuế phù hợp. Bởi nếu ưu đãi quá
mức sẽ gây thất thu ngân sách và giảm đầu tư công cộng. Ngược lại, một mức thuế cao sẽ
giảm tính cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước cũng như làm gia tăng tình trạng
trốn thuế hay buôn lậu

đi tiêu dùng. Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra sự cân bằng trên thị trường vốn. Ngoài ra
lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của sự điều tiết của ngân hàng nhà nước thông qua chính sách
tiền tệ như lãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt
buộc.
Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụ thuộc vào
tỉ lệ lạm phát.

Trong đó r là lãi suất thực tế; i là lãi suất danh nghĩa; π là tỷ lệ lạm phát
3
Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi IRR của dự án lớn hơn lãi suất thực tế. Do đó khi
lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư sẽ giảm.
Đồ thị:
Tuy nhiên lãi suất thấp hơn thì sẽ có nhiều dự án có IRR thấp được triển khai, tức là
các dự án ít hiệu quả, độ rủi ro cao. Khi đó nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh do tổng
đầu tư tăng nhưng kết cục có thể dẫn đến lạm phát cao, chính phủ buộc phải thực thi các
biện pháp kiểm soát tiền tệ, các dự án có hiệu quả thấp sẽ bị lỗ nếu tiếp tục vay vốn, nhiều
dự án sẽ bị phá sản, nền kinh tế lại rơi vào suy thoái. Ngoài ra nếu lãi suất trong nước thấp
hơn lãi suất thế giới thì có thể vốn đầu tư trong nước sẽ chảy ra nước ngoài do đó không
làm tăng tổng đầu tư trong nước.
Do đó cần cân nhắc thận trọng khi điều tiết chính sách tiền tệ - lãi suất.
3. Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia
Đây là một chỉ tiêu vĩ mô ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều yếu tố khác.
- Nhu cầu về sản lượng sản phẩm hay việc thay đổi sản lượng là nhân tố ảnh hưởng
đến việc tăng hay giảm qui mô vốn đầu tư.
Ví dụ: Khi GDP tăng nhanh sẽ làm tăng thu nhập của người dân, do đó vừa kích thích tiêu
dùng lại vừa làm tăng tiết kiệm.
Khi tiêu dùng tăng thì tổng cầu cũng tăng; tiết kiệm tăng thì cung vốn tăng làm giảm lãi
suất, kích thích đầu tư.
Hơn nữa, khi toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo ra tâm lí hướng về đầu tư.
Quá trình này sẽ tạo ra hiệu ứng “số nhân”, tức là: một sự tăng thêm ban đầu trong sản

- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tứ. Khi kinh tế tăng trưởng cao,
sản lượng nền kinh tế tăng , cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư
tăng nhiều.
Tuy nhiên, nó còn có 1 số hạn chế :
Thứ nhất, ở đây giả định quan hệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định. Thực tế đại
lượng này (x) luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khác.
Thứ hai, thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ không
phải sư biến động của tổng đầu tư do sự thay đổi của sản lượng. Thật vậy, từ công thức (*)
ở trên có thể viết:
Tại thời điểm t: Kt =x . Yt (1)
Tại thời điểm (t-1): Kt-1 = x . Yt-1 (2)
Lấy (1) trừ (2) ta có :
Kt –Kt-1 = x.Yt –x.Yt-1 = x.(Yt –Yt-1)
Trong đó.(Yt –Yt-1) là đầu tư ròng và bằng (It – D), với D là khấu hao
Do đó, (It – D) = (Yt –Yt-1) = x.(Yt – Yt-1) = x.∆Y
Và đầu tư ròng : ∆I = x.∆Y
Như vậy theo lí thuyết này thì đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượng đầu ra.
Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần).
Nếu sản lượng giảm, đầu tư thuần sẽ âm.
Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không đổi, đầu tư ròng sẽ bằng không.
Khi .∆Y = 0 thì ∆I = 0
Thứ ba, theo lí thuyết này thì toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện
ngay trong cùng 1 thời kì. Điều này không đúng vì nhiều lí do, chẳng hạn như do việc cung
cấp các yếu tố có liên quan đến vốn đầu tư không đáp ứng, do cầu vượt quá cung…Do đó,
lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiện qua thời gian. Theo lí thuyết đầu tư sau này
thì vốn đầu tư mong muốn được xác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và
quá khứ, nghĩa là quy mô đầu tư mong muốn được xác định trong thời gian dài hạn.
4. Chu kì kinh doanh
5
- Thế nào là chu kì kinh doanh? Đó là những dao động của nền kinh tế xung quanh

t
Hình I.5. Chu kỳ kinh
doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status