LỜI MỞ ĐẦU
Chất lượng luôn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết
định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày
càng gay gắt, mang tính quốc tế như hiện nay, chất lượng được coi là một giải
pháp cơ bản có lợi rất lớn, một vũ khí tham gia cạnh tranh. Nhờ tăng chất lượng
sản phẩm hoặc dịch vụ, vị thế của doanh nghiệp ngày càng được củng cố và mở
rộng. Uy tín, danh tiếng giúp cho doanh nghiệp thu hút được khách hàng, tăng
doanh thu, phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho cải tiến, đổi mới sản
phẩm và cơ cấu sản phẩm, làm cho chúng ngày càng thích ứng với những mong
đợi của khách hàng. Đó là cơ sở của sự phát triển lâu dài.
Nâng cao chất lượng sản phẩm là biện pháp hữu hiệu kết hợp thống nhất
các lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng, xã hội và người lao động. Chính
vì vậy, quản lý chất lượng đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giai đoạn
hiện nay bởi vì quản lý chất lượng một mặt làm cho chất lượng sản phẩm – dịch
vụ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả của
hoạt động quản lý. Quản lý chất lượng có tác dụng giảm chi phí trên cơ sở quản
lý, sử dụng tốt hơn các yếu tố sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm
giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn.
Trên thế giới, có rất nhiều phương pháp quản lý chất lượng đã được nhân
loại áp dụng. Một trong số đó là mô hình ERP (Enterprise Resource Planning
- Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp). Có nhiều doanh nghiệp đã
áp dụng thành công mô hình ERP và đạt được thành công trong khi không ít
doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc triển khai ERP ở một khâu nào đó. Như
vậy, mô hình ERP là gì? Vai trò của mô hình này đối với hoạt động quản lý chất
lượng trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng như ngân hàng thương mại
như thế nào? Đó chính là lý do nhóm tác giả lựa chọn “Nghiên cứu và ứng
dụng mô hình ERP trong quản trị ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm
đề tài của bài thuyết trình này.
1
Chương 1: Tổng quan về mô hình ERP
1.1. Khái niệm chung
cung ứng Cách này cho phép doanh nghiệp có đủ vật tư sản xuất nhưng vẫn
không để lượng tồn kho quá lớn gây đọng vốn. ERP còn hỗ trợ lên kế hoạch
trước các nội dung công việc, nghiệp vụ cần trong sản xuất kinh doanh. Chẳng
hạn, hoạch định chính sách giá, chiết khấu, các kiểu mua hàng giúp tính toán ra
phương án mua nguyên liệu, tính được mô hình sản xuất tối ưu Cách này giảm
thiểu sai sót trong xử lý nghiệp vụ.
E: Enterprise (Doanh nghiệp). Đây chính là đích đến thật sự của ERP.
ERP cố gắng tích hợp tất cả các phòng ban và toàn bộ chức năng của công ty
vào chung một hệ thống máy tính duy nhất mà có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu
quản lý khác nhau của từng phòng ban. ERP loại bỏ các hệ thống máy tính riêng
lẻ ở bộ phận Tài chính, Nhân sự, Sản xuất và dự trữ, thay thế chúng bằng một
chương trình phần mềm hợp nhất phân chia theo các phân hệ phần mềm khác
nhau xấp xỉ gần đúng với các hệ thống riêng lẻ cũ. Các bộ phận tài chính, sản
xuất và dự trữ vẫn sẽ có phần mềm riêng ngoại trừ giờ đây phần mềm sẽ được
nối kết lại để nhân viên ở bộ phận Tài chính có thể nhìn vào phần mềm của bộ
phận dự trữ để xem đơn hàng đã xuất chưa. Hầu hết các nhà cung cấp phần mềm
ERP linh động trong việc cài đặt một số phân hệ theo yêu cầu, ngoại trừ việc
mua toàn bộ. Ví dụ, một số công ty chỉ cài đặt một phân hệ Tài chính hay quản
lý Nhân sự và các chức năng còn lại sẽ triển khai sau.
Tóm lại, ta có thể hình dung ERP là phần mềm quản lý tổng thể doanh
nghiệp, cho phép doanh nghiệp tự kiểm soát được trạng thái nguồn lực của
mình. Từ đó, họ có thể lên kế hoạch khai thác các nguồn tài nguyên này hợp lý
nhờ vào các quy trình nghiệp vụ thiết lập trong hệ thống. Ngoài ra ERP còn
cung cấp cho các doanh nghiệp một hệ thống quản lý với quy trình hiện đại theo
chuẩn quốc tế, nhằm nâng cao khả năng quản lý điều hành doanh nghiệp cho
lãnh đạo cũng như tác nghiệp của các nhân viên.
3
1.2. Lịch sử ra đời và phát triển của ERP
Khái niệm ERP đã có từ những năm 60. Hồi đó ERP mới đóng vai trò như
một hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh. Kể
hàng,…
Giai đoạn 4a: Hoạch định nguồn nhân lực doanh nghiệp - Enterprise Resource
Planning (ERP).
Đây là giai đoạn cuối trong quá trình phát triển ERP. Về cơ bản thì ERP
cũng giống như các quy trình kinh doanh ở phạm vi ngày càng rộng lớn hơn,
quản lí hiệu quả hơn đối với doanh nghiệp có nhiều đơn vị, phòng ban. Hệ thống
tài chính được tích hợp chặt chẽ hơn. Các công cụ dây chuyền cung ứng cho
phép hỗ trợ các công ty kinh doanh đa quốc gia, …. Mục tiêu của ERP: Giảm
chi phí và đạt hiệu quả kinh doanh thông qua sự tích hợp các quy trình nghiệp
vụ. Với sự phát triển của Internet, ERP tiếp tục phát triển.
Giai đoạn 4b: Inter-Enterprise Co-operation
Mục tiêu: tăng hiệu quả thông qua sự hợp tác dựa tren dây chuyền cung
ứng (SCM).
Giai đoạn 4c: Collaborative Business
Mục tiêu: Giá trị được tạo ra thông qua sự cộng tác trong cộng đồng kinh
doanh.
5
1.3.Tác dụng của mô hình ERP
Tiếp cận thông tin quản trị đáng tin cậy
Điểm phân biệt cơ bản nhất của việc ứng dụng ERP so với cách áp dụng
nhiều PM quản lý rời rạc khác (như phần mềm kế toán, quản lý nhân sự, quản lý
bảo hành ) là tính tích hợp. ERP chỉ là một phần mềm duy nhất và các module
của nó thực hiện các chức năng tương tự như các phần mềm quản lý rời rạc,
nhưng các module này còn làm được nhiều hơn thế trong môi trường tích hợp.
Tính tích hợp của hệ thống ERP được gọi là tính “tổng thể hữu cơ” do các
module có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
ERP giúp các nhà quản lý dễ dàng tiếp cận các thông tin quản trị đáng tin
cậy để có thể đưa ra các quyết định dựa trên cơ sở có đầy đủ thông tin chính xác.
Nếu không có hệ thống ERP, một cán bộ quản lý cấp cao phải dựa vào nhiều
nguồn khác nhau và có thể tìm thấy nhiều số liệu khác nhau (Tài chính kế toán
khi giao hàng cho khách hàng và bộ phận Tài chính xuất hóa đơn. Chẳng thà bạn
lấy thông tin từ chung một hệ thống còn hơn nhận thông tin rải rác từ các hệ
thống khác nhau của từng phòng ban. Hệ thống phần mềm ERP giúp công ty
bạn theo dõi đơn hàng một cách dễ dàng, giúp phối hợp giữa bộ phận kinh
doanh, kho và giao hàng ở các địa điểm khác nhau trong cùng một thời điểm.
Hy vọng nhất của ERP trong việc chứng minh giá trị là cải thiện cách thức
công ty nhận đơn hàng và xử lý nó cho đến khi ra hóa đơn và ghi nhận doanh
thu – cách gọi khác là quá trình xử lý đơn hàng hoàn chỉnh (order fulfillment
process). Chính vì thế mà ERP thường được xem như là phần mềm hỗ trợ vô
hình. ERP không xử lý các quy trình trước khi bán hàng (hầu hết các nhà cung
cấp phần mềm hiện này phát triển phần mềm CRM để đáp ứng yêu cầu quản lý
này). Hơn thế, ERP nhận đơn hàng từ khách hàng và sau đó cung cấp “đường
7
đi” phần mềm để thực hiện tự động hóa các bước khác nhau trong suốt quy trình
xử lý đơn hàng cho đến khi hoàn tất.
Khi nhân viên dịch vụ khách hàng nhập đơn hàng vào hệ thống ERP, nhân
viên này sẽ có đầy đủ thông tin cần thiết để hoàn tất đơn hàng (như hạn mức tín
dụng của khách hàng, lịch sử đặt hàng từ phân hệ Tài chính, lượng hàng tồn kho
của công ty từ phân hệ Kho và lịch trình giao hàng từ phân hệ Cung ứng, chẳng
hạn). Nhân viên ở các phòng ban khác nhau đều có thể xem chung thông tin và
cập nhật chúng. Khi một phòng ban nào đó thực hiện xong đơn hàng thì thông
tin đó sẽ tự động nối kết qua hệ thống ERP rồi truyền tải đến bộ phận khác. Nếu
bạn muốn kiểm tra xem thực hiện đơn hàng đến đâu rồi, bạn chỉ cần kết nối vào
hệ thống ERP và theo dõi chúng. Với ERP, quá trình đơn hàng di chuyển như tia
sét xuyên suốt hệ thống, khách hàng nhận hàng nhanh hơn và ít xảy ra sai sót
hơn trước kia. Với cách thức như vậy ERP có thể vận dụng cho các quy trình
kinh doanh chính khác của doanh nghiệp như quản lý nhân viên hoặc báo cáo tài
chính…
Chuẩn hóa và tăng hiệu suất sản xuất
Phân hệ hoạch định và quản lý sản xuất của phần mềm ERP giúp các công
- Có tính tích hợp chặt chẽ: Việc tích hợp các module cho phép kế thừa
thông tin giữa các phòng, ban; đảm bảo đồng nhất thông tin, giảm việc cập nhật
xử lý dữ liệu tại nhiều nơi; cho phép thiết lập các quy trình luân chuyển nghiệp
vụ giữa các phòng ban.
- Có khả năng phân tích quản trị: Hệ thống ERP cho phép phân tích dựa
trên các trung tâm chi phí (cost center) hay chiều phân tích (dimension); qua đó,
đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ví dụ có thể phân tích chi phí nhập kho
ứng với toàn bộ nguyên vật liệu, một công trình, một đơn hàng, một nhà vận
chuyển hay một sản phẩm Hệ thống cũng có thể đánh giá hiệu quả sản xuất
kinh doanh thông qua tổ hợp các chiều phân tích. Ví dụ phân tích hiệu quả kinh
doanh sản phẩm cho từng dây chuyền sản xuất ứng với vùng thị trường của từng
đơn hàng Đây là điều các doanh nghiệp rất hay bỏ qua khi lựa chọn ERP.
9
- Tính mở: Tính mở của hệ thống được đánh giá thông qua các lớp tham số
hóa quy trình nghiệp vụ. Tùy thuộc vào thực tế có thể thiết lập các thông số để
thích ứng với thực tế (cấu hình hệ thống). Thông qua thay đổi thông số, người
dùng có thể thiết lập quy trình quản lý mới trong doanh nghiệp. Với cách này
doanh nghiệp có thể thêm, mở rộng quy trình quản lý của mình khi cần. Tính mở
còn thể hiện trong khả năng kết nối dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, từ nhiều
cơ sở dữ liệu khác nhau trong hệ thống.
Hệ ERP còn có khả năng sửa chữa, khai thác thông tin. Do đó, cùng với
quy trình vận hành, ERP có tính dẫn hướng (driver). Mặt tích cực này cho phép
doanh nghiệp học tập các quy trình quản lý doanh nghiệp trong chương trình, từ
đó thiết lập quy trình quản lý của mình và hoạch định các quy trình dự kiến
trong tương lai.
10
Chương 2: Ứng dụng mô hình ERP trong quản trị ngân hàng
thương mại
2.1. Ứng dụng mô hình ERP trong quản trị doanh nghiệp kinh doanh
thương mại.
đó người phụ trách chỉ đạo nên là một thành viên của ban lãnh đạo; xác định
hiện trạng doanh nghiệp, nhất là hiện trạng về CNTT; xác định chiến lược phát
triển của doanh nghiệp trong vòng 3 năm. Tiếp đó, cần tìm kiếm một nhà tư vấn
có uy tín và kinh nghiệm về các ngành kinh doanh cũng như các phần mềm
ERP. Doanh nghiệp có thể đứng trước hai lựa chọn:
Một đơn vị tư vấn độc lập sẽ hỗ trợ doanh nghiệp xác định nhu cầu, giúp
doanh nghiệp đặt ra các bài toán trong hồ sơ mời thầu, lựa chọn một cách trung
lập sản phẩm và đối tác cung cấp dịch vụ triển khai, hỗ trợ. Đôi khi nhà tư vấn
còn là trọng tài cho những khuynh hướng chiến lược khác nhau giữa các lãnh
đạo công ty dựa trên mục đích chung của doanh nghiệp.
Công ty cung cấp gói sản phẩm ERP có thể tiến hành hỗ trợ tư vấn triển
khai cho DN như một nhà tư vấn độc lập với chi phí thấp hơn, thậm chí miễn phí
nhưng có nhược điểm là thiếu khách quan do có thiên hướng tập trung về sản
phẩm và dịch vụ mình cung cấp.
Bước 2: Lựa chọn phần mềm và nhà cung cấp dịch vụ triển khai
Sau khi xác định được "bài toán ERP", doanh nghiệp cần lựa chọn phần
mềm và nhà cung cấp dịch vụ triển khai. Trong trường hợp doanh nghiệp mời
nhà tư vấn độc lập, nhà tư vấn cần phải quản lý quy trình mời thầu, chọn thầu
một cách minh bạch, trong sáng và đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, phán quyết cuối cùng về giải pháp ERP được lựa chọn vẫn thuộc
doanh nghiệp chứ không phải của nhà tư vấn. Các doanh nghiệp nhỏ hơn có thể
trao đổi với nhiều nhà cung cấp giải pháp trong các cuộc giới thiệu sản phẩm;
đánh giá, so sánh, tự đưa ra sự lựa chọn hợp lý nhất. Để tránh lựa chọn sai giải
pháp và nhà cung cấp, doanh nghiệp nên chú ý đến các lời khuyên sau đây:
12
- Đề cao sự phù hợp của giải pháp với doanh nghiệp của mình.
- Giá cả không phải là tiêu chí quan trọng nhất.
- Xem demo trình diễn sản phẩm của càng nhiều giải pháp càng tốt.
- Lựa chọn các giải pháp linh hoạt, có khả năng thích ứng trong tương lai.
- Tham khảo các ý kiến khách quan của các khách hàng đã và đang sử dụng
thể hiện rõ nét nhất. Với mỗi doanh nghiệp, các quy trình được phân thành các
quy trình sản xuất kinh doanh chính và các quy trình phụ trợ. Các quy trình sản
xuất kinh doanh chính là đối tượng đầu tiên được mô phỏng trên hệ thống ERP.
Một điều cần nói là rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam, cho dù đã hoạt động
nhiều năm, nhưng vẫn không có các tài liệu về các quy trình hoạt động của
mình và các tài liệu này chỉ được xây dựng dưới sự giúp đỡ của các công ty tư
vấn xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO.
Tuy nhiên, qua một vài năm, những thay đổi nhờ có Internet đã giúp các
nhà cung ứng giảm đáng kể thời gian cung cấp các module ERP. Quá trình triển
khai nhanh chóng này (có nghĩa là thời gian triển khai chỉ tính bằng tuần chứ
không tính bằng năm) là kết quả của việc phân phối loại phần mềm ERP mới
được gọi dịch vụ theo yêu cầu hay còn gọi là phần mềm như một dịch vụ (SaaS).
Các ứng dụng của ERP theo yêu cầu và ERP SaaS (như là toàn bộ nguồn nhân
lực (HR) và tài chính) đều do bên thứ ba cung cấp và khách hàng chỉ cần truy
cập vào các ứng dụng ERP dành cho nhiều người (hay còn gọi là các ứng dụng
ERP chia sẻ) bằng cách kết nối Web. Do phần mềm này không cần phải được
cài đặt giống như các ứng dụng theo yêu cầu truyền thống nên thời gian triển
khai có thể được rút ngắn một cách đáng kể so với việc triển khai các ứng dụng
ERP theo yêu cầu.
Có thể khẳng định, triển khai hệ thống ERP là xu hướng tất yếu, cũng như
quá trình phát triển của một xã hội, đến một giai đoạn nào đó thì doanh nghiệp
bắt buộc phải thay đổi nếu không sẽ bị đào thải do không thích nghi nổi với thời
đại. Tuy nhiên, thời điểm, mô hình, cách thức triển khai như thế nào cho phù
14
hợp thì mỗi doanh nghiệp cần được tư vấn kỹ càng, chuẩn bị đầy đủ trước khi
quyết định “vượt vũ môn”. Mặt khác, nếu ứng dụng thành công ERP, cũng như
“cá chép hóa rồng”, doanh nghiệp sẽ thực sự lột xác, không chỉ nâng tầm doanh
nghiệp mà còn cho tất cả thành viên của doanh nghiệp, sẵn sàng hội nhập vào
“biển lớn”.
Quy trình hiện tại đó có thể không hiệu quả cao nhưng lại khá đơn giản. Tài
thương mại đang dần trở thành nhu cầu cấp thiết của các ngân hàng thương mại
hiện nay, đặc biệt là tại các ngân hàng tổ chức quản lý tập trung nhưng có mức
độ phân tán về địa lý cao.
* Những thuận lợi khi triển khai ERP tại ngân hàng:
- Đã từ lâu, các ngân hàng rất coi trọng việc ứng dụng CNTT trong hoạt
động của mình. Hầu hết các phần mềm lõi tác nghiệp (Core Banking) đều đã
sớm được ứng dụng từ những năm 90 và liên tục được nâng cấp. Gần đây, việc
ứng dụng phần mềm quản lý nội bộ đã được áp dụng tại các ngân hàng quốc
doanh và các ngân hàng thương mại lớn như BIDV, VCB, ICB, MSB,…
- Các ngân hàng thương mại luôn có nhu cầu đánh giá hiệu quả của các
mảng hoạt động kinh doanh của mình.
- Kết hợp với các thành tựu của công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng
máy tính và các kỹ thuật tổ chức và khai thác dữ liệu như kho dữ liệu, cơ sở dữ
liệu phân tán, mô hình ERP trong các ngân hàng có lợi thế khi tổ chức quản lý
tập trung đối với các ngân hàng phân tán về địa lý.
* Mô hình ERP trong các ngân hàng thương mại:
Trong các ngân hàng thương mại, hệ thống ERP được xây dựng theo hai
mô hình như sau:
Trước tiên, mô hình được ứng dụng phổ biến nhất trong các ngân hàng
thương mại là mô hình được mô tả ở hình 2.1.
16
Hình 2.1. Mô hình ứng dụng ERP trong ngân hàng
Theo mô hình này, hệ thống ERP cho ngân hàng sẽ chia các mảng ứng
dụng theo các loại hình hoạt động và kinh doanh khác nhau của ngân hàng như:
kinh doanh ngân hàng, ứng dụng nội bộ, quản lý thuê mua tài chính, quản lý
chứng khoán, quản lý nợ và khai thác tài sản, quản lý khai thác bất động sản…
17
Từ đó, các số liệu sẽ được tổng hợp và tập trung tại một lõi, mà bản chất là một
hệ thống sổ cái tổng hợp (general ledger). Từ hệ thống sổ cái này, ngân hàng có
thể khai thác số liệu qua hệ thống báo cáo tác nghiệp, báo cáo quản lý, các báo
tiện và chính xác hơn.
Bên cạnh mô hình ứng dụng ERP trong các ngân hàng thương mại như
trên, hiện nay, một số ngân hàng thương mại cũng đang ứng dụng mô hình ERP
với các phân hệ như sau:
- Phân hệ quản lý cấp tín dụng
- Phân hệ quản lý tiền gửi
- Phân hệ quản lý thanh toán
- Phân hệ quản lý tài chính
- Phân hệ quản lý nhân sự
- Phân hệ quản trị hệ thống
- Phân hệ tự động văn phòng
- Phân hệ quản lý hành chính
- Phân hệ hỗ trợ thông tin lãnh đạo
Tuy nhiên, có thể thấy việc áp dụng cách quản lý theo phân hệ như trên sẽ
khó có thể giúp ngân hàng trong việc quản lý các lĩnh vực kinh doanh khác của
ngân hàng như kinh doanh bất động sản, dịch vụ cho thuê tài chính và dịch vụ
kinh doanh chứng khoán.
19
Hình 2.2. Mô hình tích hợp các phân hệ ERP cho quản lý nội bộ và các hoạt động khác
của ngân hàng
2.2.2. Những lợi ích thu được từ việc ứng dụng hệ thống ERP vào trong quản
trị ngân hàng thương mại
Tính an toàn thông tin cao
Trong hệ thống quản lý tài chính nội bộ, các bút toán được sinh ra một cách
tự động và được kiểm soát nhiều tầng thông qua quá trình phê duyệt, vì thế hạn
chế được những sai sót về định khoản. Tuy nhiên, với ý nghĩa là một hệ thống
phản ánh trung thực nhất các hoạt động kinh tế phát sinh, hệ thống không cho
phép người dùng xóa bất kỳ một bút toán nào đã hạch toán vào hệ thống. Tất cả
những gì mà người sử dụng có thể làm là thực hiện bút toán điều chỉnh. Với đặc
điểm này, số liệu kế toán do hệ thống cung cấp luôn có độ tin cậy cao.
sử dụng nhân sự hiệu quả, đồng thời giảm thiểu các sai sót và gian lận trong hệ
thống tính lương.
Đặc biệt ở các ngân hàng có nhiều chi nhánh khác nhau, bộ phận Hành
chánh nhân sự có thể không có phương pháp chung và đơn giản để theo dõi giờ
giấc của nhân công và hướng dẫn họ về các nghĩa vụ và quyền lợi. ERP có thể
giúp ngân hàng đảm đương việc đó.
21
Như vậy, có thể nói với những lợi ích to lớn mà mô hình ERP có thể mang
lại cho các ngân hàng cùng với tính cấp thiết của nhu cầu nâng cao năng lực
quản lý tập trung, hệ thống của các ngân hàng thương mại, hiện nay, một số
ngân hàng đã quyết định sẽ dành một phần vốn cho việc ứng dụng ERP. Với
thông tin này có thể thấy ERP đang dần được các ngân hàng quan tâm. Tuy
nhiên, từ quan tâm tới việc triển khai và nghiệm thu thành công là một quãng
đường rất dài, trong khi bản thân ngân hàng là ngành chịu áp lực cạnh tranh cao
hơn nhiều so với các lĩnh vực khác. Điều này cũng làm hạn chế phần nào quyết
tâm của các ngân hàng trước các hệ thống ứng dụng lớn, phức tạp như ERP.
Nhưng ngược lại, cũng chính sức ép cạnh tranh sẽ đẩy các ngân hàng phải đối
diện trước quyết định hoặc là đi trước một bước với ERP, hoặc là thụt lùi.
22
Chương 3: Thực trạng triển khai mô hình ERP ở Việt Nam
3.1. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại
Việc triển khai ERP tại Việt Nam mới được chú ý nhiều từ năm 2003.
Theo tạp chí PC World, các công ty triển khai sớm các dự án ERP ở Việt Nam
có thể kể đến Bảo Minh ( triển khai năm 2003 ), Thép Miền Nam ( năm 2003 ),
Vinatex ( năm 2003 ). Trong những năm tiếp theo các dự án ERP quy mô lớn
được triển khai đồng loạt tại các công ty như SaiGon Coop, Bibica, Savitex,
Tổng công ty lương thực Miền Nam, Vinamilk. Các doanh nghiệp nhỏ hơn cũng
đã bắt đầu triển khai với các giải pháp phù hợp với quy mô và có những doanh
nghiệp đã tạo những quy trình sản xuất rất hiện đại nhờ ứng dụng ERP.
Tuy nhiên nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn
giai đoạn then chốt để tiến lên giai đoạn Thứ tư. Do vậy, doanh nghiệp cần tập
trung tối ưu hóa quy trình hoạt động thông qua các chuẩn mực kinh doanh tốt
nhất (ISO…). Mặt khác, cần tiến hành chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu hiện hữu,
chuẩn bị sẵn sàng để kết nối hoặc chuyển cơ sở dữ liệu sang hệ thống mới. Song
song với đó, cần nghiên cứu các giải pháp ERP phù hợp nhất (nên cân nhắc thuê
tư vấn).
Có thể nói khái quát về trình độ quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam nói
chung là manh mún, chưa có cái nhìn toàn diện và tổng thể trong việc thu thập,
xử lý và phân tích dữ liệu. Các quy trình hoạt động vẫn mang tính đơn lẻ, rời rạc
và lập kế hoạch mang tính chắp vá. Điều này có lẽ là thói quen mang tính cố hữu
của nhiều người Việt Nam, do đó khi quyết định áp dụng một hệ thống ERP thì
đã có những cái nhìn sai lệch:
Về phía doanh nghiệp:
Quan niệm ERP sẽ thay toàn bộ sức người. ERP sẽ giải quyết mọi vấn đề
khó khăn của doanh nghiệp. Điều này hoàn toàn sai lầm, về bản chất đó chỉ là
một phần mềm, một công cụ để ghi nhận, phản ánh, xử lý và phân tích dữ liệu.
Việc nhìn nhận của người quản lý về báo cáo này sẽ đưa đến quyết định cho
hoạt động của doanh nghiệp mình.
24
Về phía đơn vị triển khai:
Khi bán hệ thống cố gắng tối đa hóa giá trị phần mềm bằng các module, số
người sử dụng và tai hại hơn cả là tập trung vào việc giải quyết các yêu cầu
không mang tính hệ thống quản trị chuẩn mực của khách hàng. Điều này dẫn
đến việc chủ yếu tập trung nguồn nhân lực để can thiệp vào cấu trúc hệ thống.
Hệ quả là những thiệt hai cho cả hai bên, đồng thời dự án triển khai ERP
thành công không nhiều, mà thất bại lại không ít. Có thể kể ra một số những
thiệt hại mà hai phía phải gánh chịu.
Về phía doanh nghiệp :
• Tốn kém chi phí một cách không cần thiết do chi phí mua phần mềm bị
thổi lên quá cao,