Ngân hàng thương mại
MỤC LỤC
1
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với
sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn
và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại khi kinh tế
hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM
cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu
được.
Nhất là tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực
sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn)
của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một
nền kinh tế thị trường còn non yếu. Ngân hàng thực sự là ngành tiên phong trong quá
trình đổi mới cơ chế kinh tế. Đặc biệt trong những năm qua, hoạt động ngân hàng nước ta
đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển,
tạo điều kiện thu hút vốn nước ngoài để tăng trưởng kinh tế trong nước. Hệ thống ngân
hàng thương mại xứng đáng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhà nước đẩy lùi lạm phát, ổn
định giá cả.
Có thể nhiều người biết NHTM có một vai trò quan trọng đến nền kinh tế đến như
vậy, tuy nhiên những định nghĩa cụ thể về nó, những nghiệp vụ, chức năng hay khả năng
phân biệt giữa các loại ngân hàng đang tồn tại ở Việt Nam vẫn còn là một điều khó khăn
và chưa rõ ràng. Để giải quyết những khó khăn ấy, nhóm nghiên cứu đã đã quyết định
chọn đề tài về vấn đề ngân hàng thương mại. Với kết cấu đề tài gồm bốn chương như sau:
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
+ Đến cuối thế kỉ XVII, các nghiệp vụ của ngân hàng đã hoàn thiện, bao gồm:
nhận tiền gửi, cho vay, phát hành tiền giấy có thể chuyển đổi ra vàng, chiết khấu
thương phiếu, chuyển tiền, thanh toán bù trừ…
− Thời kì từ thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX:
+ Nhà nước bắt đầu can thiệp vào hoạt động ngân hàng.
+ Hệ thống ngân hàng được chia thành hai nhóm: ngân hàng phát hành được phép
phát hành tiền và ngân hàng trung gian không được phép phát hành tiền.
− Thời kì từ đầu thế kỉ XX đến nay:
+ Nhà nước nắm lấy các ngân hàng phát hành để điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ
mô.
+ Hệ thống ngân hàng được cấu thành bởi hai bộ phận: ngân hàng trung ương và
ngân hàng trung gian.
1.2 Khái niệm
Cho đến thời điểm hiện nay xuất hiện rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại.
Tại Việt Nam, Luật Tổ chức tín dụng (2004) đã xác định “Ngân hàng là một loại hình tổ
chức tín dụng, hoạt động của ngân hàng là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán”. Tại Mỹ, ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ,
3
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài
chính. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại
là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức kí thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho
chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Như vậy, có thể nói ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về
tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung
nghiệp có quy mô lớn. các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty.
4
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
+ Ngân hàng bán lẻ: ngân hàng loại này chú trọng đến việc đa dạng hóa sản
phẩm. Số lượng sản phẩm rất nhiều, rất lớn để đáp ứng nhu cầu của nhiều
khách hàng. Tuy giá trị của từng sản phẩm không lớn nhưng bù lại là một
lượng khách hàng rất lớn. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy
động vốn từ mọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vần đề tiêu
dùng hoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa.
+ Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là dạng ngân hàng bao gồm các hai
hoạt động nêu trên. Ngân hàng nhắm vào tất cả các dạng khách hàng từ
nhỏ đến lớn.
– Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động:
+ Ngân hàng chuyên doanh: chỉ hoạt động kinh doanh chuyên môn hóa
trong một lĩnh vực nào đó.
+ Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: là ngân hàng hoạt động ở nọi
lĩnh vực kinh tế và thực hiện bất kì nghiệp vụ nào được phép của ngân
hàng thương mại.
1.4 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại
1.4.1 Cơ cấu tổ chức:
– Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của ngân hàng.
– Hội đồng quản trị: là cơ quan quản trị ngân hàng, có toàn quyền nhân danh ngân
hàng để quyết định, thực hiện mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền và nghĩa
vụ của ngân hàng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông (đối
với Ngân hàng thương mại cổ phần) hoặc chủ sở hữu (đối với Ngân hàng thương
mại nhà nước, Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được tổ chức dưới
– Văn phòng đại diện: là đơn vị phụ thuộc Ngân hàng thương mại, có con dấu, thực
hiện chức năng đại diện theo ủy quyền của ngân hàng thương mại. Văn phòng đại
diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh.
– Đơn vị sự nghiệp: là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, có con dấu, thực
hiện một hoặc một số hoạt động kinh doanh theo ủy quyền của Ngân hàng thương
mại ( hoạt động trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, quản lý, khai thác, bán tài sản).
6
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
– Phòng giao dịch: là bộ phận phụ thuộc sở giao dịch hoặc chi nhánh của Ngân hàng
thương mại, hạch toán báo sổ, có con dấu, thực hiện một số giao dịch với khách
hàng theo ủy nhiệm của đơn vị trực tiếp quản lý.
1.5 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.5.1 Chức năng trung gian tín dụng:
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng
thương mại. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người
có nhu cầu về vốn. Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai
trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là các khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và
lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và
người đi vay.
1.5.2 Chức năng trung gian thanh toán:
Ở đây Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá
nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản
tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các Ngân hàng
thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy
nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ
lượng tiền gửi mới là 900.000. Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có thể cho vay là 810.000.
Số tiền này được cho người cần vay vay, người cho vay chi trả các khỏan đến người được
chi trả, người được chi trả đem số tiền được trả gửi vào ngân hàng C. Lúc này ngân hàng
C sẽ có số tiền gửi mới là 810.000. Và cứ như thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi
mới bằng 0. Người ta tính được rằng lượng tiền gửi mới trong tòan hệ thống ngân hàng là
10.000.000, lượng tiền dự trữ bắt buộc là 1.000.000 và tiền cho vay là 9.000.000. Và do
cách thức này mà tiền đã được tạo ra trong hệ thống ngân hàng 2 cấp.
Tên các ngân hàng
Tiền gửi mới
Thanh toán cho Dự trữ
vay mới
buộc
A
1.000.000
900.000
100.000
B
900.000
810.000
90.000
cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốc
trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, từ
sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng
làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Các sản phẩm dịch vụ
mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành công nghiệp này thông qua việc tạo ra những nguồn
thu mới cho ngân hàng – các khoản lệ phí của dịch vụ không phải lãi, một bộ phận có xu
hướng tăng trưởng nhanh hơn so với các nguồn thu truyền thống từ lãi cho vay.
1.6.2 Sự gia tăng cạnh tranh:
Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi
ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ. Các ngân hàng
địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài
chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí,
dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải
đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, ngân
hàng đầu tư Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm
như Prudential. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch
vụ cho tương lai.
8
Chương 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.6.3 Sự gia tăng chi phí vốn:
Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực
tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng. Với sự nới lỏng các luật lệ,
ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi.
Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – một
nguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc họ phải tìm cách cắt
giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Chương 2. NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Nghiệp vụ tài sản Nợ - Huy động vốn
Là nghiệp vụ huy động, tạo nguồn vốn kinh doanh cho NHTM. Hoạt động huy động vốn
được phản ánh thông qua cơ cấu nguồn vốn của NHTM, bao gồm:
− Vốn của ngân hàng
− Vốn tiền gửi
− Vốn đi vay
− Các nguồn vốn khác
2.1.1 Vốn của ngân hàng: là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, bao gồm : vốn tự
có và vốn coi như tự có.
a. Vốn tự có gồm:
− Vốn điều lệ: là khoản vốn mà ngân hàng phải có để đi vào hoạt động và được ghi
trong bản điều lệ, được hình thành từ khi NHTM mới thành lập. Mức vốn này không
được nhỏ hơn vốn pháp định ( là số vốn tối thiểu theo luật định mà NH phải có để đi vào
hoạt động). Tùy theo loại hình mà nó được hình thành từ những nguồn khác nhau:
+
NHTM quốc doanh: do nhà nước cấp
+
NHTM cổ phần: là vốn góp của cổ đông
+
NH liên doanh: do các đối tác góp vốn
− Các quỹ và lợi nhuận chưa phân phối ( Quỹ dự trữ) bao gồm: quỹ dự trữ để bổ sung
vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Các quỹ này được trích từ lợi nhuận
ròng hàng năm theo những tỷ lệ quy định.
b. Vốn coi như tự có: bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng. Là
những khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chi tiêu nhất định nhưng tạm thời
chưa được sử dụng như: lợi nhuận chờ phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán, quỹ
khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định…
nhưng được hưởng lãi cao hơn tài khoản séc thông thường. Tài khoản này ra đời tại Mỹ
năm 1972. Những người gửi tiền vào tài khoản này với mong muốn vừa hưởng lãi cao,
vừa có thể thanh toán khi cần, tuy vậy các lệnh thanh toán này không thuận lợi như séc.
− Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ: tiền gửi loại này dùng để đầu tư vào thị trường
tiền tệ và cho phép những người chủ tài khoản ( các cổ đông) được phép kí phát séc. Tiền
gửi loại này không phải dự trữ bắt buộc.
− Tài khoản ATS: loại tài khoản này cho phép chủ tài khoản được phép phát séc nhưng
có thêm 1 đặc tính đặc biệt là khi số dư trên tài khoản vượt quá một mức nhất định thì
phần tiền vượt quá sẽ tự động chuyển sang một tài khoản tiết kiệm được hưởng lãi cao
hơn. Ngược lại khi số dư trên tài khoản ATS xuống thấp hơn mức tối thiểu thì tiền trong
tài khoản tiết kiệm sẽ được chuyển ngược trở lại tài khoản ATS để phục hồi số dư tối
thiểu.
− Tiền gửi không kì hạn là một nguồn vốn quan trọng của NH. Tuy nhiên do người gửi
tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này thường xuyên biến động, vì vậy NH
chủ yếu dùng nó để cho vay ngắn hạn.
b. Tiền gửi có kì hạn: là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất
định từ một vài tháng đến vài năm.
Mức lãi suất của tiền gửi có kì hạn thường cao hơn tiền gửi không kì hạn nhưng những
người gửi tiền loại này không được hưởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng ( ví dụ như
không được kí phát séc).
Mục đích chủ yếu của người gửi có kì hạn là để lấy lãi.
Theo nguyên tắc tiền gửi có kì hạn không được phép rút trước hạn, song để cạnh tranh thì
các ngân hàng vẫn cho rút nhưng sẽ phải chịu một khoản phạt, chẳng hạn như không
được hưởng lãi suất hoặc lãi suất chỉ bằng lãi suất của tiền gửi không kì hạn.
Ở Việt Nam, tiền gửi có kì hạn tồn tại dưới 2 dạng:
i. Tiền gửi có kì hạn theo tài khoản
11
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
thiểu của mỗi lần gửi do ngân hàng quy định.
iii. Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục
đích xây dựng nhà ở. Những người gửi tiền ngoài hưởng lãi còn được ngân hàng
cho vay nhằm bổ sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà ở. Mức cho vay tối
thiểu tối đa bằng số dư tiền gửi tiết kiệm.
Như vậy tiền gửi có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch, có cùng
tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khoản không được phát séc.
Lý do phải tách riêng tiền gửi tiết kiệm ra mà không xếp vào 2 dạng tiền gửi không kì
hạn và tiền gửi có kì hạn mặc dù tính chất của chúng giống nhau là vì đây là tiền gửi tiết
12
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
kiệm của tầng lớp dân cư, là tài sản tích lũy của quốc gia, được xem là nguồn vốn nội lực
của đất nước, cho nên cần có chính sách ưu tiên bảo vệ.
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn, là nguồn
vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh. Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để
cho vay. Chính vì vậy, người ta gọi NHTM là ngân hàng tiền gửi.
2.1.3 Vốn đi vay
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng còn có thể vay vốn từ NHTW hay các tổ chức
tín dụng khác, hoặc từ thị trường tài chính trong và ngoài nước.
a. Vay từ NHTW: bất kì NHTM nào khi được NHTW cho phép thành lập đều hưởng
quyền vay tiền tại NHTW khi thiếu hụt qua 2 hình thức:
- Chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá
- Cho vay thế chấp hay ứng trước
b. Vay ngắn hạn các khoản dự trữ từ các tổ chức tín dụng khác:
Mục đích chính của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định của
NHTW. Trong quá trình hoạt động, 1 số NHTM cho vay nhiều dẫn đến thiếu hụt dự trữ
− Vốn hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ví dụ như trong nghiệp vụ
qua lại đồng nghiệp, trong nghiệp vụ trung gian của ngân hàng…
2.2 Nghiệp vụ tài sản có – sử dụng vốn
2.2.1 Nghiệp vụ ngân quỹ: với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên,
NH luôn giữ 1 lượng tiền mặt dưới các dạng sau:
− Tiền mặt tại quỹ của ngân hàng: tùy theo quy mô hoạt động, tính thời vụ ( ví dụ
như lễ tết khách hàng sẽ có nhu cầu rút tiền nhiều), các ngân hàng phải duy trì mức tồn
quỹ tiền mặt để thực hiện chi trả trong ngày.
− Tiền gửi tại các NHTM khác: để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền
cho khách hàng
− Tiền gửi tại NHTW: bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán để
phục vụ các hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng thông qua vai trò trung gian thanh
toán của NHTW
− Tiền mặt trong quá trình thu: là khoản phát sinh do quan hệ thanh toán vãng lai
giữa các ngân hàng, khi ngân hàng đã ghi bên nợ nhưng thực chất lại chưa nhận được
tiền.
Ngoài tiền mặt, ngân hàng còn giữ các chứng khoán ngắn hạn, có tính lỏng cao để có
thể chuyển thành tiền mặt nhanh chóng khi cần như tín phiếu, thương phiếu… Lượng tiền
mặt trong nghiệp vụ ngân quỹ này chỉ chiếm 1 tỷ trọng nhỏ và tỷ trọng nhỏ này đang bị
giảm.
2.2.2 Nghiệp vụ cho vay: là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng trung gian
nói chung và các NHTM nói riêng. Một số loại hình chủ yếu:
a. Cho vay ứng trước: là hình thức cho vay trong đó NH cung cấp cho người đi vay 1
khoản tiền vay nhất định để sử dụng trước. Người đi vay chỉ phải trả lãi lúc hoàn trả vốn
gốc.
Cho vay ứng trước có 2 loại:
i. Cho vay ứng trước có đảm bảo :
+
Bảo đảm bằng các động sản như hàng hóa, tài sản hay chứng từ (cho vay cầm
cố): là cho vay trên cơ sở cầm cố tại NH các tài sản, hiện vật như vật tư hàng hóa,
nhất định trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa NH với khách hàng. Dành cho khách hàng
có khả năng tài chính mạnh và có uy tín.
d. Cho vay chiết khấu: là cho vay dưới hình thức NHTM mua lại các thương phiếu chưa
đến hạn trả tiền với giá thấp hơn số tiền ghi trên thương phiếu. Khi đến hạn trả tiền, NH
sẽ đòi toàn bộ số tiền ghi trên thương phiếu ở người trả tiền thương phiếu. Phần lãi của
NH chính là khoản chênh lệch giữa giá mua và số tiền ghi trên thương phiếu.
e. Tín dụng ủy thác thu hay bao thanh toán: là nghiệp vụ trong đó công ty con của NH
cam kết mua lại các khoản thanh toán chưa tới hạn phát sinh từ những hoạt động xuất
khẩu, cung ứng hàng hóa và dịch vụ với giá chiết khấu. Các khoản nợ này thường là ngắn
hạn (30 đến 120 ngày).
f. Cho vay thuê mua: còn gọi là tín dụng thuê mua, là hình thức tín dụng trung, dài hạn
được thực hiện thông qua việc cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và
bất động sản khác. NH sẽ dùng vốn của mình để mua tài sản theo yêu cầu của người thuê
và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh
toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được 2 bên thỏa thuận và không được hủy bỏ
hợp đồng trước hạn. Khi hết hạn bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp
tục thuê tài sản đó tùy theo các điều kiện đã thỏa thuận.
g. Cho vay bằng chữ kí: là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực tiếp cho
khách hàng vay bằng tiền nhưng bằng uy tín ( chữ kí) của mình, ngân hàng tạo điều kiện
để khách hàng sử dụng vốn vay của người khác và đảm bảo thanh toán hộ khách hàng.
Chính vì vậy, mặc dù là 1 hình thức tín dụng nhưng trong hạch toán, nó không làm thay
đổi bảng quyết toán tài sản của ngân hàng mà được hạch toán ngoại bảng.
Có 2 hình thức:
− Nghiệp vụ chấp nhận: hiện nay trong thương mại quốc tế, thương phiếu được sử dụng
rất phổ biến. Nghiệp vụ chấp nhận chia ra làm 2 loại:
15
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Những nghiệp vụ ngoại bảng của ngân hàng thương mại như:
− Nghiệp vụ chuyển tiền - thanh toán hộ: là nghiệp vụ mà ngân hàng nhận sự ủy thác
của khách hàng, dùng phương tiện mà khách hàng yêu cầu để chuyển một số tiền nhất
định cho một người khác ở một địa điểm quy định trong hay ngoài nước. Về mặt kĩ thuật,
nghiệp vụ này được thực hiện thông qua các phương tiện lưu thông tín dụng như séc, thư
chuyển tiền, điện chuyển tiền…
− Nghiệp vụ thu hộ: là nghiệp vụ mà ngân hàng thương mại nhận sự ủy thác của khách
hàng để thu hộ các khoản tiền căn cứ vào các chứng từ của khách hàng giao như séc,
16
Chương 2. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
thương phiếu, các chứng khoán… Khi tiến hành nghiệp vụ này, ngoài việc thu thủ tục phí
của khách hàng, ngân hàng cón có thể tranh thủ sử dụng tiền của khách hàng.
− Nghiệp vụ tín thác: là nghiệp vụ mà ngân hàng thương mại nhận sự ủy thác của khách
hàng, đứng ra mua bán hộ các loại chứng khoán, kim loại quý, ngoại hối hoặc quản lí tài
sản, vốn đầu tư của của tổ chức hay cá nhân theo hợp đồng (ví dụ tài sản dăng tranh chấp,
tài sản thanh lí trong quá trình phá sản, tài sản của cô nhi, quả phụ…).
− Nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp: Là nghiệp vụ mà các ngân hàng thương mại thu chi
hộ lẫn nhau trên cơ sở ngân hàng này mở một tài sản vãng lai tại ngân hàng kia và việc
thanh toán giửa hai ngân hàng được tiến hành theo định kì sau khi đã thanh toán bù trừ
những khoản tiền mà hai bên đã thu chi hộ cho nhau trong thời gian của định kì đó.
Trong nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp, các ngân hàng không thu thủ tục phí. Khi tiến hành
thu chi hộ, nếu trên tài khoản vãng lai không còn tiền thì ngân hàng này sẽ cung cấp tín
dụng cho ngân hàng kia theo phương thức tín dụng cho vay vượt chi.
− Kinh doanh vàng bạc đá quý.
− Làm tư vấn tiền tệ, tài chính như cung cấp thông tin, hướng dẫn chính sách tài chính
tiền tệ, thương mại, lập dự án đầu tư tín dụng, ủy thác đầu tư…
doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính. Trước
yêu cầu của thực tiễn, tháng 12.1997, hai Pháp lệnh ngân hàng đã được Quốc hội nâng
lên thành hai luật về ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 1.10.1998). Sau đó, Luật Ngân hàng
nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng được sửa đổi và bổ sung vào năm 2003, 2004.
Như vậy, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã chính thức đánh dấu sự ra đời và
phát triển khoảng trên 20 năm (từ 1990 đến nay). Trải qua chặng đường trên, hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn điều lệ
không ngừng gia tăng, mạng lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong
kinh doanh. NHTM nhà nước sau nhiều lần bổ sung vốn đã nâng tổng vốn chủ sở hữu
của 05 NHTM nhà nước lên trên 20.000 tỷ đồng năm 2006, tăng gấp 3 lần so với thời
điểm cuối năm 2000. Vốn điều lệ của NHTM cổ phần được gia tăng đáng kể từ lợi nhuận
giữ lại, sáp nhập, các quỹ bổ sung vốn điều lệ, phát hành thêm cổ phiếu… từ đó giúp tổng
vốn điều lệ NHTM cổ phần đến cuối năm 2005 tăng gấp 5 lần so với năm 2000.
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam gồm:
− Ngân hàng thương mại Quốc doanh: Là ngân hàng thương mại được thành lập bằng
100% vốn ngân sách nhà nước. Thuộc loại này gồm:
Chương 3. Hoạt động của NHTM tại VN
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Bank for Agriculture
and Rural Development)
+ Ngân hàng Công thương Việt Nam (Industrial and commercial Bank of viet nam –
ICBV) gọi tắt là VietIncombank
+ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (Bank for Investement and
Development of Viet nam – BIDV)
+ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Bank for Foreign Trade of Vietnam –
Vietcombank)
− Ngân hàng thương mại cổ phần (Joint Stock Commercial bank): là ngân hàng thương
mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó một cá nhân hay pháp nhân
Chương 3. Hoạt động của NHTM tại VN
các dịch vụ về đầu tư, quản lý nợ và khai thác tài sản, cho thuê tài chính và các dịch vụ
ngân hàng khác.
Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của ACB cho thấy, năm 2010, hai lĩnh vực
hoạt động thế mạnh của ngân hàng này là dịch vụ, kinh doanh ngoại hối và vàng đều có
sự giảm sút đáng chú ý. Ở hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, trong quý 4/2010,
ACB ghi nhận khoản -128,9 tỷ đồng; lũy kế cả năm chỉ đạt 191,1 tỷ đồng, giảm mạnh
so với mức 422,33 tỷ đồng của năm 2009. Tuy nhiên, thu nhập lãi và các khoản thu
nhập tương tự của ACB trong năm 2010 lại tăng mạnh trong năm 2010, đạt 14.970,77
tỷ đồng so với 9.613,88 tỷ đồng năm 2009. Kết quả kinh doanh hợp nhất năm 2010,
ACB đạt 3.105,6 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế; lợi nhuận sau thuế là 2.339,01 tỷ đồng,
tăng nhẹ 6,3% so với năm 2009 và từ ngày 31/12/2010 vốn điều lệ của ACB là 9.376,96
tỷ đồng.
ACB đang xây dựng tầm nhìn mới, chiến lược mới để hoàn thành kế hoạch 5 năm
2011-2015, phấn đấu đến 2020 trở thành tập đoàn tài chính đa năng hàng đầu Việt Nam
và ngân hàng quy mô quốc tế và khu vực. Để duy trì được tốc độ cao trong những năm
tới, ACB tiếp tục xây dựng và phát triển ngân hàng truyền thống, kênh phân phối đa
dạng trên nền tảng công nghệ cao phù hợp với nhu cầu ngày càng cao và phức tạp của
khách hàng, bởi nhu cầu đối với sản phẩm ngân hàng truyền thống sẽ vẫn tăng rất cao
trong bối cảnh thị trường tài chính - ngân hàng còn sơ khai của Việt Nam.
Agribank (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam)
Agribank từ khi thành lập (26/3/1988) đến nay luôn khẳng định vai trò là Ngân
hàng thương mại lớn nhất, giữ vai trò chủ đạo, trụ cột đối với nền kinh tế đất nước, đặc
biệt đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; thực hiện sứ mệnh quan trọng dẫn dắt
thị trường; đi đầu trong việc nghiêm túc chấp hành và thực thi các chính sách của Đảng,
Nhà nước, sự chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về chính sách
tiền tệ, đầu tư vốn cho nền kinh tế.
Agribank là ngân hàng lớn nhất, dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam về
đầu cung cấp sản phẩm dịch vụ tiện ích, hiện đại có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu
của đông đảo khách hàng, đồng thời tăng nguồn thu ngoài tín dụng, Agribank không
ngừng tập trung đổi mới, phát triển mạnh công nghệ ngân hàng theo hướng hiện đại
hóa. Năm 2010, Agribank phấn đấu đạt được các mục tiêu tăng trưởng cụ thể, đó là: so
với năm 2009, nguồn vốn tăng từ 22%-25%; tỷ lệ cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt
70%/tổng dư nợ; nợ xấu dưới 5%; tỷ lệ thu ngoài tín dụng tăng 20%; lợi nhuận tăng
10%; hệ số an toàn vốn (CAR) theo chuẩn quốc tế.
Để đạt được các mục tiêu trên, Agribank tập trung toàn hệ thống thực hiện đồng
bộ các giải pháp. Trước tiên, tiếp tục thực hiện nghiêm túc, kịp thời chủ trương của
Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về chính sách tiền tệ. Đẩy mạnh huy động
vốn từ nhiều nguồn. Tăng cường hợp tác, kết nối thanh toán với các tổ chức, doanh
nghiệp lớn. Tăng cường huy động vốn tại các đô thị, thành phố để bổ sung vốn cho
nông thôn, đảm bảo các yêu cầu vốn phục vụ “tam nông”. Thực hiện đầu tư có chọn lọc
và có trình tự ưu tiên, tập trung thu hồi nợ đến hạn và nợ xấu để quay vòng vốn đáp ứng
vốn cho ‘tam nông” và các chương trình trọng điểm của Chính phủ, đảm bảo tăng
trưởng tín dụng toàn hệ thống theo đúng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Tổ chức
đánh giá triển khai thực hiện chiến lược 10 năm (2001-2010), xây dựng chiến lược kinh
doanh giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến 2020; xây dựng chiến lược phát triển thương
hiệu Agribank. Phát triển mạnh công nghệ ngân hàng theo hướng hiện đại hóa trên hệ
thống IPCAS II để phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ mới có chất lượng nhằm đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của khách hàng, nâng cao thế cạnh tranh, trong đó chú trọng phát triển
các sản phẩm thanh toán như thanh toán biên giới, chi trả kiều hối, kinh doanh ngoại tệ,
đầu tư giấy tờ có giá. Không ngừng hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ theo mô hình
quản lý mới phù hợp với thông lệ quốc tế của ngân hàng hiện đại. Đặc biệt, chú trọng
xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực mạnh về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu
phát triển của Agribank trong giai đoạn mới, đưa thương hiệu, văn hóa Agribank không
ngừng lớn mạnh, có tầm ảnh hưởng trong nước và vươn xa hơn trên thị trường khu vực
và quốc tế, với phương châm vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững của ngân hàng,
khách hàng, đối tác và cộng đồng.
khoán dưới 0,5% tổng dư nợ, dành doanh số cho vay từ 50.000-55.000 tỷ đồng cho các
Doanh nghiệp thu mua xuất khẩu (gấp 2 lần so với năm 2010, nâng tỷ trọng cho vay
doanh nghiệp thu mua hàng xuất khẩu chiếm 5%/Tổng dư nợ) và doanh số cho vay
khoảng 165.000 - 170.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ (gấp 1,5 lần so với
năm 2010), nâng tổng tỷ trọng cho DNV&N lên 20%/Tổng dư nợ, kiểm soát cho vay
ngoại tệ không vượt quá 20%/Tổng dư nợ trên nguyên tắc chỉ phục vụ cho các hoạt
động sản xuất, kinh doanh thiết yếu của nền kinh tế và doanh nghiệp vay có nguồn thu
ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc đẩy mạnh công tác Cổ phần hóa trong
năm 2011 để tăng vốn điều lệ tối thiểu từ 4.000-5.000 tỷ đồng, đưa vốn chủ sở hữu lên
29.000-30.000 tỷ đồng và vốn điều lệ lên 18.000-19.000 tỷ đồng (vốn điều lệ hiện tại
của BIDV là 14.374 tỷ đồng - Nguồn: NHNN) được xem là trọng điểm, và cuối cùng là
tiếp tục làm việc với các cơ quan Nhà nước để tổ chức phát hành 500 triệu USD trái
phiếu quốc tế của BIDV nhằm tăng vốn cấp 2 khi điều kiện thị trường cho phép.
Chương 3. Hoạt động của NHTM tại VN
Vietcombank (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam)
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức
được thành lập theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30
tháng 10 năm 1962 trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng
Trung ương (nay là NHNN). Theo Quyết định nói trên, NH Ngoại thương đóng vai trò
là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt
động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các
dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm...), thanh toán quốc tế, kinh doanh
ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính
phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)...
Ngoài ra, NH Ngoại thương còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách
quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân
hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Chương 3. Hoạt động của NHTM tại VN
hàng hóa” còn rất thấp chính là tình trạng đôla hóa và tiền mặt hóa của nền kinh tế vẫn
phổ biến quá mức. Vấn đề này là trở lực lớn gây tác động tiêu cực đến hiệu quả của
chính sách tiền tệ quốc gia và của việc huy động và sử dụng nguồn vốn tiết kiệm và
nhàn rỗi trong dân cư.
Hệ thống ngân hàng thương mại của chúng ta từ ngày được sinh ra cho đến nay
hầu như đang bị “đô thị hóa” hoàn toàn, và tình trạng đô thị hóa đó không phải vì lợi
ích chung của toàn nền kinh tế. Hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long và cả miền
Đông Nam bộ chỉ còn một ngân hàng cổ phần nông thôn hoạt động cầm chừng. Trên
thực tế, các ngân hàng nông thôn trước đây, tuy mang tiếng là ngân hàng nông thôn
nhưng chẳng những không tập trung mở rộng tín dụng cho nông dân - những người thật
sự cần vốn - mà dần dần có xu hướng đô thị hóa, tham gia tích cực các hoạt động cho
vay thương mại cùng các hoạt động kinh doanh chứng khoán và đầu cơ bất động sản.
Bản thân ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng không mặn mà lắm với
việc cho vay nông nghiệp và phát triển nông thôn như tên gọi của mình.
Quy mô về vốn của các ngân hàng thương mại VN còn nhỏ, quy mô về tín dụng
chưa cao, trình độ công nghệ, trình độ quản lý của các NHTMVN còn thấp. Nhóm
NHTM nhà nước tuy chiếm gần 70% tổng nguồn vốn huy động và gần 80% thị phần tín
dụng nhưng chỉ có tổng số vốn tự có chưa tới 1 tỷ USD, từng NHTM trong nhóm các
NHTM nhà nước đạt tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản chưa tới 5% (thông lệ tối thiểu của
ngân hàng quốc tế đạt tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản là 8%). Khối NHTM cổ phần với 36
ngân hàng chỉ chiếm 11% tổng nguồn vốn huy động và 10% thị phần tín dụng. Nhóm
chi nhánh các ngân hàng nước ngoài và liên doanh (30 ngân hàng) có tiềm lực khá
mạnh với 30% vốn chủ sở hữu trong hệ thống NHTM đang hoạt động tại VN nhưng
nhìn chung họ có ưu thế hơn các NHTMVN về công nghệ, loại hình dịch vụ, chiến lược
khách hàng, hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản.
Dịch vụ ngân hàng của các NHTMVN, còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện ích
chưa cao, chưa tạo thuận lợi và bình đẳng cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế
những giải pháp kỹ thuật, một lần nữa quyết định bán ra ngoại tệ được công bố.
Quy mô các ngân hàng phát triển mạnh
Năm 2010 đánh dấu sự hiện diện và hoạt động một cách toàn diện của các ngân
hàng 100% vốn nước ngoài với sự mở rộng mạng lưới, sản phẩm dịch vụ một cách
nhanh chóng. Vào thời điểm cuối năm, thị trường đón nhận loạt thông tin các ngân
hàng ngoại tăng mạnh vốn được cấp. Sức cạnh tranh từ khối này chính thức bước vào
giai đoạn mới.
Đi cùng với những chuyển động này là sự gia tăng lợi ích của khách hàng. Bên
cạnh các sản phẩm truyền thống, năm 2010 ghi nhận sự mở rộng của các dịch vụ tiện
ích như ngân hàng điện tử, đặc biệt là dịch vụ thẻ với việc triển khai kết nối mạng lưới
ATM, POS thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc.
Lãi suất đột ngột đảo chiều
Từ tháng 6, nhiều lần Chính phủ nhấn mạnh đến định hướng hạ lãi suất VND.
Nỗ lực theo hướng này ghi nhận ở điểm đến 11%/năm của lãi suất huy động. Tuy
nhiên, lạm phát gia tăng, cuộc đua lãi suất đột ngột bùng phát vào cuối năm và đỉnh
điểm là sự kiện Techcombank “3 ngày vàng” khuyến mại, thị trường nhiều xáo trộn.
Đi cùng với diễn biến trên, lãi suất trong năm 2010 có sự song hành của các cam
kết đồng thuận và sự mong manh của nó. “Phá trần”, “giao dịch ngầm”, “lãi suất
chui”… là những cụm từ được một số phương tiện truyền thông dùng để phản ánh cho
thực trạng của lãi suất những tháng cuối năm. Phải đến trung tuần tháng 12, Ngân hàng
Nhà nước vào cuộc qua cam kết giữa các nhà băng, tình hình mới tương đối ổn định.