1
Luận văn
Đề tài: Thị trường chứng khoán Việt
Nam và giải pháp thúc đẩy sự phát triển
của thị trường chứng khoán
2
Mục lục
L
ờ
i n
ó
i
đ
ầ
u
4
N
ộ
i dung
đ
ờ
ng ch
ứ
ng kho
á
n
9
1.
Khái niệm
9
2.
Chức năng
9
2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế 9
2.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng 10
2.3 Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán 10
2.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp 11
2.5 Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ
mô
11
3.
Các chủ thể tham gia thị trường
11
3.1 Nhà phát hành 11
3.2 Nhà đầu tư 12
3.3 Các công tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán 12
18
1.
Sự cần thiết phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
18
2. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian
qua
19
3
II. Thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển thị trường
chứng khoán Việt Nam
21
1.
Thuận lợi
22
2.
Khó khăn
22
III. Một số nhận định của các nhà đầu tư về thị trường
chứng khoán Việt Nam
24
IV. Một số giải pháp và ý kiến cá nhân để thúc đẩy sự phát
triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
26
1.
ả
ng
ch
ữ
vi
ế
t t
ắ
t
37
Danh mục tài liệu tham khảo
38
4
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam bắt đầu tiến hành đổi mới từ năm 1986 và kể từ đó tới nay đất
nước ta đã phát triển với một tốc độ rất nhanh. Từ một nền kinh tế bao cấp
trước đổi mới nước ta đã dần chuyển sang một nền kinh tế thị trường kể từ sau
đổi mới. Biết bao thách thức đã đặt ra cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại 5
Chính vì thế, mà hơn bao giờ hết chúng ta cần phải chuẩn bị một cách kỹ
càng cả về kiến thức cơ bản và các kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới
về cơ cấu quản lý và kiểm soát hoạt động của thị trường chứng khoán. Để thị
trường này thất sự là một kênh huy động vốn hiêu quả cho các mục tiêu phát
triển kinh tế.
Trên cơ sở đó em hi vọng đề án tài chính tiền tệ với đề tài Thị trường
chứng khoán Việt Nam và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường
chứng khoán có thể có những đóng góp cho sự phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam
không nhận được cổ tức kì đó. Một vấn đề rất quan trọng trong việc phát hành
cổ phiếu ưu đãi là thuế. Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu
nhập công ty, cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu
ưu đãi. Mặc dù vậy thì cổ phiếu ưu đãI vẫn có ưu điểm với cả nhà phát hành và
nhà đầu tư. Tuy nhiên thông thường thì cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng
nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành.
7
Cổ phiếu thông thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì các ưu đIểm
của nó đáp ứng được yêu cầu của cả người đầu tư và công ty phát hành. Là cổ
phiếu xác định quyền sở hữu của cổ đông trong công ty. Cổ phiếu thường được
đặc trưng bởi quyền quản lí, kiểm soát công ty. Cổ đông sở hữu cổ phiếu
thường được tham gia bầu hội đồng quả trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các
vấn đề lớn của công ty. Cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hội đồng quản
trị công bố. Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường
sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho
cổ phiếu ưu đãi. Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được cơ quan quản lý có
thẩm quyền cho phép phát hành gọi là vốn cổ phần. Phần lớn những cổ phiếu
đã phát hành nằm trong tay những nhà đầu tư - cổ đông. Những cổ phiếu này
được coi là đang lưu hành trên thị trường. Tuy nhiên, có thể chính công ty phát
hành mua lại một số cổ phiếu của mình và giữ nó nhằm những mục đích nhất
định và những cổ phiếu đó được coi như không lưu hành.
2.2 Trái phiếu
Trái phiếu là thoả thuận vay nợ mang tính chất hợp đồng theo đó người
đi vay phát hành trái phiếu với cam kết se trả cho người cho vay, người nắm
giữ trái phiếu một số tiền lãi định kì và khi trái phiếu hết hạn là lúc khoản thanh
toán cuối cùng sẽ được thực hiện
Trái phiếu được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khac nhau
2.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán
Gồm các loại chứng khoán sau
Chứng quyền: là giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếu mới phát hành
tại mức giải tường bán ra của công ty. Các chứng quyền thường được phát hành
cho cổ đông cũ, sau đó chúng có thể được đem ra giao dịch.
Chứng khế: là các giấy tờ được phát hành kèm theo các trái phiếu, trong
đó xác nhận quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiện nhất định.
Chứng chỉ thụ hưởng: là giấy xác nhận quyền lợi của khách hàng là
những nhà đầu tư cá nhân trong các quỹ đầu tư nhất định. Chứng chỉ này có thể
được mua bán, giao dịch trên thị trường chứng khoán như các giấy tờ có giá trị
khác. Chứng chỉ này do công ty tín thác đầu tư hay các quỹ tương hỗ phát hành
(là tổ chức chuyên nghiệp thực hiện đầu tư theo sự uỷ nhiệm của khách hàng)
9
II. Thị trường chứng khoán
1 Khái niệm
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại được
quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động trong giao dịch mua bán chứng khoán
trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành trên thị trường sơ cấp khi
người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và ở
những thị trường thứ cấp khi có sự mua di bán lại các chứng khoán đã được
phát hành ở thị trường sơ cấp
Như vậy xét về mặt hình thức thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra
các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán qua đó
thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán
2 Chức năng
2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thị trường chứng khoán được xem như chiếc cầu vô hình nối liền người
mà các chứng khoán do công ty phát hành dễ dàng được chấp nhận trên thị
trường do nó có thể đựoc mua đI bán lại dễ dàng
2.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá chính xác các hoạt động của
doanh nghiệp thông qua chỉ số chứng khoán trên thị trường .Việc này kích thích
các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, áp dụng công nghệ mới. Ví
dụ một loại chưng khoán như cổ phiếu mà trên thị trường đang có như cầu cao
điều đó chứng tỏ hoạt động của công ty phát hành đang rất thuận lợi, làm ăn
hiệu quả nên giá trị thi trường của cổ phiếu của nó trên thi trường cũng tăng
cao. Điều đó đồng thời thúc đây doanh nghiệp mở rộng đầu tư thúc đây kinh
doanh. Có thể nói tối đa hoá giá trị cổ phiếu trên thị trường là một trong những
mục tiêu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2.5 Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
Thông qua các chính sách vĩ mô đối với thị trường chứng khoán chính
phủ có thể định hướng đầu tư hay thúc đẩy thị trường tài chính bởi thị trường
chứng khoán là một trong những thị trường bậc cao nhất của thị trường chứng
khoán. Ngoài ra chính phủ cũng có thể huy động vốn bằng cách phát hành trái
11
phiếu chính phủ trên thị trường để huy động vốn cho các mục tiêu vĩ mô hay
mua bán trái phiếu kiềm chế lạm phát
3 Các chủ thể tham gia thị trường
3.1 Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán, hàng
hoá của thị trường chứng khoán. Trong đó:
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương
doanh chứng khoán khi nó mua chứng khoán nhằm mục đích đầu tư sinh lời.
Chẳng hạn như các ngân hàng mua chứng khoán nhằm mục đích sinh lời, hơn
nữa chứng khoán còn nhằm mục đích tạo tính thanh khoản cho các tàI sản của
ngan hàng hay các công ty bảo hiẻm cũng vậy
3.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
3.4.1 Cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan quản lý nhà nước được thành lập để quản lý hoạt động của thị
trường chứng khoán có vai trò quan trọng nhất. Cơ quan này được thành lập với
những tên gọi khác nhau, như tại Anh có uỷ ban đầu tư chứng khoán (SBI –
securicties investment board ) hay tại Mỹ có uỷ ban chứng khoán và giao dịch
chứng khoán ( SEC – securities and exchange commisson ). ở Việt Nam thì uỷ
ban chứng khoán nhà nước được thành lập theo nghị định 75 của chính phủ
ngày 28/11/96.
3.4.2 Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)
Sở giao dịch chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng
khoán. Sở giao dịch được tổ chức thành 3 hình thức
Thứ nhất: SGDCK được tổ chức dưới hình thức “câu lạc bộ mini” hay
được tổ chức theo chế độ hội viên. Đây là hình thức tổ chức SGDCK có tính
chất tự phát. Trong hình thức này, các hội viên của SGDCK tự tổ chức và tự
quản lý SGDCK theo pháp luật không có sự can thiệp của nhà nước. Các thành
viên của SGDCK bầu ra hội đồng quản trị để quản lý và hội đồng quản trị bầu
ra ban điều hành.
Thứ hai: SGDCK được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần có cổ đông
là công ty chứng khoán thành viên. SGDCK tổ chức dưới hình thức này hoạt
động theo luật công ty cổ phần và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên
môn về chứng khoán và thị trường chứng chứng khoán do chính phủ lập ra.
13
3.4.7 Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Các tổ chức này là các công ty chuyên đưa ra các đánh giá về tình hình
và triển vọng của các công ty khác dưới dạng các hệ số tín nhiệm.
14
4 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
4.1 Nguyên tắc công khai
Theo nguyên tắc này tất cả các hoạt động của thị trường chứng khoan,
các văn bản pháp luật, các tài liệu về các công ty niêm yết , báo cáo kết quả
kinh doanh dưới hình thức bản cáo bạch của công ty này đều phải được công bố
rộng rãi công khai không có sự che giấu thông tin.
4.2 Nguyên tắc đấu giá
Khi phát hành hay bán một số lượng lô lớn cổ phiếu thì phải thực hiện
đấu giá trên thị trường
4.3 Nguyên tắc trung gian
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường đều được thực hiện thông
qua các trung gian
5 Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau,
mỗi tiêu thức có một sự phân chia khác nhau.
5.1 Căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn
Thị trường chứng khoán được phân làm hai loại
5.1.1 Thị trường cấp 1: là thị trường tài chính trong đó diễn ra các hoạt
động mua bán chứng khoán đang phát hành hay chứng khoán mới phát hành lần
đầu. Các loại hàng hoá như cổ phiếu, trái phiếu của công ty và của chính phủ
khi mới phát hành đều được đem bán ở thị trường này. Việc mua bán chứng
khoán trên thị trường cấp 1 thường được tiến hành thông qua các trung gian đó
bày thì sở giao dịch chứng khoán hiện nay có 3 hình thức tổ chức
5.2.2 Thị trường phi tập trung ( thị trường OTC - over the counter
market)
Thị trường phi tập trung hay thị trường trao tay trong đó các nhà buôn
bán tại các địa đIểm khác nhau có một danh mục chứng khoán và đứng ra sẵn
sàng mua và bán chứng khoán theo kiểu mua bán thẳng cho bất kỳ ai đến cới
họ, có ý định chấp nhận giác của họ. Do những nhà buôn bán thẳng có tiếp xúc
với nhau qua mạng máy tính và biết giá của nhau nên thị trường kiểu này có
16
tính cạnh tranh cao và không khác nhiều so với thị trường ở trung tâm giao dịch
nói trên
5.3 Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
5.3.1 Thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bá các trái phiếu đã
được phát hành, các trái phiếu này bao gồm tráI phiếu công ty, trái phiếu đô thị
và trái phiếu chính phủ
5.3.2 Thị trường cổ phiếu
Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu,
bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
5.3.3 Thị trường các công cụ phái sinh
Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đI
bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp
đồng quyền chọn…
17
18
Bảng thị trường chứng khoán nhỏ
2000
2001 2002 2003 2004 2005
Tài khoản giao dịch cá nhân
Tài khoản giao dịch tổ chức
Chứng khoán được niêm yết
Tập trung vốn trên thị trường
2870
38
5
8703
71
10
13398
122
20
15569
166
26
2.3
21402
193
có lãi trong năm trước.
Hoạt động của thị trường thứ cấp đối với các trái phiếu yết danh vẫn
chưa bắt đầu ở Hà Nội nhưng đã chớm bắt đầu ở thành phố Hồ Chí Minh. Tính
đến đầu năm 2006 giá trị giao dịch hàng ngày của trung tâm giao dịch thành
phố Hồ Chí Minh vào khoảng 3.9 tỷ đồng cổ phiếu và 78.4 tỷ đồng trái phiếu
Tính đến đầu năm 2006 trong số 30 công ty yết danh tại trung tâm giao
dịch thành phố Hồ Chí Minh thì có đến 29 doanh nghiệp nhà nước thực hiện
bán cổ phiếu ra ngoài thị trường trong kế hoạch cổ phần hoá trước khi chính
thức yết danh. Rất ít công ty sử dụng thị trường chứng khoán làm cơ sở tăng
vốn thông qua bán cổ phiếu ban đầu ra ngoàI thị trường. NgoàI ra, phần lớn các
trung gian môI giới trên thị trường có quan hệ chặt chẽ với các tổ chức tàI
19
chính nhà nước. Hiện tại thị trường có 13 công ty chứng khoán, 1 công ty quản
lý ngân quỹ, 3 ngân hàng lưu kí chứng khoán và 1 ngân hàng thanh toán. Trong
số 13 công ty chứng khoán thì có đến 7 công ty thuộc sở hữu của các ngân hàng
thường mại.
Trong khi đó một thị trường chứng khoán không chính thức (OTC) được
phát triển mạnh mẽ hơn nhiều. Hiện tại thì giá trị của nó ứoc tính gấp 4 đến 5
lần giá trị của 2 trung tâm giao dịch chính thức. Thị trường OTC này được thực
sự hình thành như một sản phẩm phụ của quá trình cổ phần hoá ngay cả trước
khi trung tâm giao dich thành phố Hồ Chí Minh thành lập. Theo một ước tính
có khoảng 30 ngân hàng cổ phần và 100 công ty cổ phần có cổ phiếu được giao
dịch trên thị trường OTC
Có hai nhóm trung gian hoạt động trên thị trường phi chính thức này.
Loại thứ nhất chiếm 60 đến 80 môi giới chứng khoán độc lập, không có giấy
phép. Một số buôn bán chứng khoán làm nghề phụ nhưng nghề chính là làm
việc cho các tổ chức tài chính kể cả các công ty môi giới chính thức. Nhóm thứ
nghiệp của nhà nước. Sau một thời gian dàI nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt
động không thật sư hiệu quả và để đáp ứng yêu cầu nền kinh tế thị trường thì
nhà nước đã thực hiện chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp trong đó thực hiện
trước tiên với các doanh nghiệp nhà nước là thuận lợi cho sự phát triển của thị
trường chứng khoán
Thuận lợi thứ ba với sự phát triển của thị trường chứng khoán là mội
trường đầu tư của Việt Nam ngày càng cải thiện và chúng ta đã thu hút được
một lượng lớn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua cùng với chính sách thu
hút đầu tư nước ngoài của chính phủ thì sự phát triển của thị trường chứng
khoán là cần thiết đồng thời với việc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoàI
thông qua thị trường chứng khoán sẽ làm thị trường chứng khoán phát triển
nhanh và lành mạnh.
Thứ tư nữa là quá trình phát triển kinh tế nước ta trong thời gian qua đã
hình thành nên một hệ thống các ngân hàng thường mại, các tổ chức tín dụng,
quỹ đầu tư . Đây là các tác nhân quan trọng cho sự phát triển của thị trường
chứng khóan. Và đặc biệt với việc gia nhâp WTO ngày 9/11 vừa qua thì thị
trường chứng khoán Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi để phát triển.
21
2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi thì khó khăn với sự phát triển của thị trường
chứng khoán Việt Nam còn rất nhiều. Khó khăn trước tiên và cũng là khó khăn
của hầu hết các nước đang phát triển khi mới phát trỉên thị trường chứng khoán
đó là thu nhập của đại bộ phận dân chúng còn thấp, chênh lệch giữa tiết kiệm
và thu nhập cao. Chính do thu nhập thấp mà đại bộ phận dân chúng sau khi đã
chi tiêu thì số dư còn lại từ thu nhập là không đáng kể nên việc đầu tư vào
chứng khoán của người dân là rât ít. Cũng vì phần dư của thu nhập sau khi chi
tiêu còn ít mà hơn nữa đầu tư vào chứng khoán còn có nhiều rủi ro, cộng với
cho mình và phân tán rủi ro
Nhận định thứ hai khá phổ biến đó là tiến trình xây dựng các sở giao dịch
ở các địa phương còn quá chậm. Hiện nay mới chỉ có trung tâm giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, do vậy làm hạn chế những
nhà đầu tư ở các địa phương khác muốn tham khảo các tàI liệu, bản cáo bạch và
mua cổ phiếu của các công ty hiện đang niêm yết và trong tương lai sẽ niêm yết
trên sàn. Tuy nhiên các nhà đầu tư cũng nhận định rằng việc phát triển thị
trường chứng khoán ở hai trung tâm giao dịch trên là hợp lí và cũng phù hợp
với sự phát triển của nền kinh tê. Trung tâm giao dịch đầu tiên được thành lập
trong thành phố Hồ Chí Minh nơi có nền kinh tế phát triển năng động nhất Việt
Nam, đây sẽ là nơI thích hợp cho sự phát triển thử nghiệm với thị trường chứng
khoán vì thị trường tàI chính ở đây khá phát triển. Sau đấy là tới trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội được thành lập và năm ngoài. Đó cũng là bước đi
quan trọng và hợp lí cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam vì
đây là trung tâm kinh tế thứ hai của đất nước. Có chằng là khoảng thời gian để
thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội cách qua xa thời gian thành
lập trung tâm giao dịch thành phố Hồ Chí Minh, có cần một khoảng thời gian
thử nghiệm dài như vậy để thành lập một trung tâm giao dịch thứ hai không?
Một vấn đề thứ ba trên thị trường chứng khoán đó là các thông tin trên
thị trường đã thật sự phản ánh đúng tình hình phát triển của thị trường chưa.
Đầu năm 2006 chỉ số VN index đã lên một mức rất cao hơn 500 điểm, thị
trường rất sôi động nhưng tại sao lại như vậy? Phải chăng các công ty đang trên
23
đà phát triển? Nhưng tại sao chỉ ngay sau đó khoảng 2 tháng chỉ số lại tụt rất
nhanh, điều này cho thấy sự phát triển của thị trường không lành mạnh. theo
các nhà đầu tư thì tình trạng sôi động cuả thị trường là ảo, chỉ số VN index
trong thời gian đó không phản ánh đúng sự phát triển của thị trường. Sự sôi
khoán. Thị trường chứng khoán cuả Việt Nam đang trong thời gian phát triển,
hàng hoá trên thị trường không nhiều, chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư của nhà đầu
tư. Với việc cổ phần hoá doanh nghiệp sẽ tạo ra nhiều doanh nghiệp cổ phần và
các doanh nghiệp này se niêm yết trên thị trường chứng khoán. Điều này sẽ làm
cho hàng hoá trên thị trường chứng khoán đa dạng hơn và hấp dẫn nhà đầu tư
hơn. Như vậy nó sẽ tạo điều kiện phát triển thị trường chứng khoán để đây là
một kênh huy động vốn hiệu quả và tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
vì giờ đây các doanh nghiệp đã tự chủ trong sản xuất kinh doanh nên mục tiêu
cao nhất của doanh nghiệp là lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tàI sản của chủ doanh
nghiệp là mục tiêu của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Điều đó
sẽ tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh, là một thi
trường tài chính phát triển cao nhất của nền kinh tế. Và thực tế thì cổ phần hoá
đã được nhà nước ta thực hiện từ năm 1992 với một số doanh nghiệp có quy mô
vừa và nhỏ, kinh doanh có lãi và tự nguyện cổ phần hoá để thực hiện thí điểm.
Và trong năm 2004 nhà nước ta đã đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước để có thể đáp ứng các điều kiện của một nền kinh tế thị
trường.Trong thời gian gần đây khi mà chúng ta đã gia nhập WTO thì cổ phần
hoá lại càng là một yêu cầu cần thiết để phát triển doanh nghiệp noi chung cũng
như thị trường chứng khoán nói riêng.
Cụ thể một số biện pháp cổ phần hoá
1.1 Giải pháp cho các DN còn gặp khó khăn về tài chính và quản lý
Theo tin từ ban CPH DNNN thì nhà nước đã có chủ trương phân loại
DNNN thành 4 nhóm.
- Nhóm DN làm ăn có hiệu quả.
- Nhóm DN có khó khăn về tài chính.
- Nhóm DN có khó khăn về quản lý, giá thành sản xuất lên cao.
- Nhóm DN thua lỗ kéo dài (từ 3 năm trở nên).
cho sự thành công của việc CPH nhiều DN.