Nghiên cứu thống kê đánh giá tác động của khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế ở việt nam - Pdf 13


Tổng cục Thống kê Báo cáo tổng hợp
kết quả nghiên cứu khoa học
đề tài cấp tổng cục đề tài: Nghiên cứu thống kê đánh giá tác động
của khoa học công nghệ đối với
phát triển kinh tế ở Việt Nam Đơn vị chủ trì: Viện Khoa học Thống kê
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Tăng Văn Khiên
Phó Chủ nhiệm đề tài: TS. Tạ Don Trịnh
Th ký: ThS. Nguyễn Thị Thu Huyền
Th ký: CN. Đỗ Thị Thúy

Thành viên
8. CN. Dương Thanh Hằng “ Thành viên
9. CN. Trịnh Quang Vượng Vụ Hệ thống Tài khoản Quốc gia,
Tổng cục Thống kê
Thành viên
11. ThS. Đỗ Văn Huân Trường Đại học Kinh tế
Quốc dân
Thành viên
12. TS. Nguyễn Hồng Danh Viện Khoa học Thống kê Thành viên
13. CN. Vũ Thị Mai “ Thành viên
TĐTDS&NƠ T ổng Điều tra Dân số và Nhà ở
TFP năng suất các nhân tố tổng hợp
TSCĐ tài sản cố định
TP thành phố
XK xuất khẩu
WEF Diễ
n đàn kinh tế thế giới
UNDP Cơ quan Phát triển Liên Hợp Quốc
VĐT vốn đầu tư

4
MỤC LỤC
Tr.
Lời nói đầu 6
CHƯƠNG I
LỰA CHỌN CÁC CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NGHIÊN CỨU TÁC
ĐỘNG CỦA KHCN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
9
1.1.
Vai trò của KHCN đối với phát triển kinh tế và phương
hướng nghiên cứu của thống kê
9
1.1.1. Vai trò của KHCN đối với phát triển kinh tế
9

C. Nhóm chỉ tiêu thống kê về công nghệ thông tin và truyền thông
42
1.4.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu trong phạm vi ngành công nghiệp
44
A. Nhóm chỉ tiêu thống kê phản ánh đổi mới công nghệ
44
B. Nhóm chỉ tiêu thống kê phản ánh chuyển giao công nghệ
46
C. Nhóm chỉ tiêu thống kê về công nghệ thông tin và truyền thông
46
CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP TÍNH CÁC CHỈ SỐ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ KHCN (TRONG PHẠM VI TOÀN NỀN KTQD)
48
2.1.
Sự cần thiết phải tính toán các chỉ số chung về phát triển
kinh tế và KHCN
48
2.2. Phương pháp tính chỉ số chung về phát triển kinh tế
51
2.2.1. Tính toán các chỉ số riêng biệt
51
2.2.2. Tính toán chỉ số chung về phát triển kinh tế
57

5
2.3. Phương pháp tính chỉ số chung về chất lượng lao động
59
2.3.1. Tính toán các chỉ số riêng biệt
60

109

Danh sách các sản phẩm của đề tài
112

Những bài báo liên quan đến kết quả nghiên cứu của đề tài đã
được công bố
113

Danh mục các chuyên đề của đề tài
114

Tài liệu tham khảo
116


”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là lựa chọn đưa ra được các chỉ tiêu thống
kê và đề xuất một số mô hình cho phép đánh giá xu thế tác động của KHCN đối
với phát triển kinh tế ở Việt Nam (có thí điểm tính toán một số trường hợp cụ thể).
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lựa chọn các chỉ tiêu và xây dựng
phương pháp đánh giá trong phạm vi toàn nền kinh tế quốc dân (KTQD) (ở c
ấp
tỉnh/TP và toàn quốc) và một ngành kinh tế đặc trưng (ngành công nghiệp chế
biến).

7
Nội dung khái quát nghiên cứu của đề tài gồm 3 chương:
Chương I:
Lựa chọn các chỉ tiêu thống kê nghiên cứu tác động của
KHCN đối với phát triển kinh tế;
Chương II: Phương pháp tính các chỉ số chung về phát triển kinh tế và
KHCN;
Chương III: Phân tích đánh giá tác động của KHCN đối với phát triển
kinh tế ở Việt Nam qua số liệu thống kê.
Để thực hiện yêu cầu nghiên cứu của đề tài, Ban Chủ nhiệm (BCN) đề tài
còn phải tiến hành điều tra thu thập số liệu ở 34 tỉnh/TP trong cả nước theo
phương án điều tra riêng.
Khi thu thập số liệu có 3 loại phiếu điều tra: Phiếu 01- Thu thập các chỉ tiêu
thống kê t
ổng hợp chung cho toàn tỉnh, đối tượng cung cấp số liệu của phiếu này là
Cục thống kê các tỉnh/TP; Phiếu 02- Thu thập số liệu để đánh giá trình độ công
nghệ thông tin, đối tượng cung cấp số liệu là các sở/ban/ngành của tỉnh/TP (mỗi
tỉnh điều tra 20 sở/ban/ngành); Phiếu 03- Thu thập thông tin về một số chỉ tiêu
thông qua ý kiến chuyên gia dưới dạng điều tra dư luận xã hội, đố
i tượng cung cấp

tế để làm căn cứ xác định quyền số khi tính chỉ số chung về phát triển kinh tế.
Song song với quá trình nghiên cứu, BCN đề tài đã phối hợp với Ban Biên
tập tờ “Thông tin Khoa học Thống kê’ biên soạn chuyên san
đặc biệt về “Thống kê
KHCN và phát triển kinh tế
” nhằm giới thiệu những nội dung cơ bản liên quan đến
nội dung nghiên cứu của đề tài. Chuyên san đã hoàn thành và xuất bản gửi đến
đông đảo bạn đọc tháng 11 năm 2007.
Với thời gian gần 2 năm kể từ lúc đề tài bắt đầu triển khai nghiên cứu, BCN
đề tài đã hết sức cố gắng phối hợp với các đơn vị, các ngành có liên quan, đặc biệt
tranh thủ được nhiề
u ý kiến của các chuyên gia am hiểu sâu và có nhiều kinh
nghiệm nghiên cứu về vấn đề này, tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước, tổ
chức khai thác số liệu, điều tra bổ sung thông tin để thực hiện các nội dung nghiên
cứu của đề tài đã đặt ra. Nhưng chủ đề nghiên cứu của đề tài là vấn đề mới và khó,
và còn rất ít tài liệu đi sâu nghiên cứu. Hơn nữa, thời gian nghiên cứu lại có hạn,
nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. BCN đề tài mong nhận được ý kiến
đóng góp của độc giả.

BCN đề tài

9
Chơng I
Lựa chọn các chỉ tiêu thống kê nghiên cứu tác động

i sõu sc, mnh m c v c cu, chc nng v phng thc hot ng to nờn
mt s phỏt trin nhy vt, mt bc ngot lch s cú ý ngha trng i sang mt
thi i kinh t mi (thng gi l thi i kinh t
tri thc) quỏ sang mt nn

10
văn minh mới (thường gọi là nền văn minh trí tuệ) mà nguyên nhân và động lực
chính là cuộc cách mạng KHCN mới
1
hình thành từ mấy chục năm qua.
Nói kinh tế tri thức tức là nói nền “kinh tế trong đó sản sinh ra, phổ cập và
sử dụng tri thức đóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra
của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”
2
.
Đặc điểm của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng to lớn của những đổi mới
liên tục về KHCN trong sản xuất và vai trò chủ đạo của thông tin và tri thức với tư
cách là nguồn lực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế.
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, KHCN đã thực sự thúc đẩy sự gia tăng của
cải vậ
t chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng
cao của con người.
KHCN đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường
độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ tiêu hao vật chất,
tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm, … Nhiều sản phẩm mới ra đời phong
phú, đa dạng, đa năng, m
ẫu mã đẹp, kích thước nhỏ, nhẹ hơn. Chu kỳ sản xuất
cũng được rút ngắn đáng kể.
Theo một số số liệu thống kê đáng tin cậy:

.
Ở Việt Nam, khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nền khoa học -
kỹ thuật Việt Nam mới được hình thành và từng bước phát triển hướng đến mục
tiêu xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh
phúc.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Đảng và nhà nước ta
đặc biệt quan tâm phát triển KHCN phục vụ đắc lực cuộc cách mạng kỹ thuật thời
chiến, giành thắng lợi trong chiế
n tranh và xây dựng tiềm lực sẵn sàng tiến hành
cuộc cách mạng khoa học trên quy mô lớn với trình độ cao sau khi kết thúc chiến
tranh. Song do xuất phát điểm từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh
tàn phá nặng nề, nên trình độ khoa học - công nghệ - kỹ thuật tuy có phát triển
nhưng vẫn chậm chạp và thua kém so với trình độ phát triển KHCN chung của các
nước trong khu vực.
Từ khi chúng ta bắt đầu sự nghiệp
đổi mới và mở cửa và đặc biệt là từ khi có
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996), nhận thức về vai trò của KHCN đã được
nâng cao rõ nét và ngày càng khẳng định vai trò động lực của KHCN trong phát triển
kinh tế. Phương châm phát triển kinh tế phải dựa vào KHCN và KHCN phải hướng
vào xây dựng kinh tế. Đặc biệt trong trào lưu hội nhập quốc tế và khu vực, nhiều
doanh nghiệp đã nhận thức là chỉ có đổi mới công ngh
ệ mới đủ sức cạnh tranh và tồn
tại được trong nền kinh tế thị trường. Chủ trương đó đã thúc đẩy và tạo điều kiện các
ngành các cấp, các tầng lớp tri thức, sinh viên, doanh nhân, kể cả nông dân, nghệ
nhân, chủ trang trại, … nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học, kỹ thuật, tiếp nhận
chuyển giao công nghệ với tinh thần làm giàu cho mình, cho quê hương, cải thiện
điều kiệ
n lao động, tạo ra nhiều sản phẩm mới có giá trị cao, phục vụ tiêu dùng và

3

tốc độ tăng khá cao (công nghiệp chế biến tăng 13,5%/năm). Nông lâm nghiệp và
thủy sản đạt loại khá cao trên thế giới. Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới về XK
gạo, cà phê; thứ tư về cao su và thứ nhất về hạt điều.
- Hàng hóa và dịch vụ không những bảo đảm nhu cầu tiêu dùng trong nướ
c
mà còn tăng nhanh giá trị XK. Kim ngạch XK thời kỳ 1996- 2000 tăng bình
quân/năm trên 21%, 2001- 2005 tăng 17,5%.
- Tiềm lực KHCN nước ta được tăng cường một bước đáng kể. Hiện nay cả
nước ta hiện có khoảng 2,4 triệu người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên, gần

13
đây mỗi năm sinh viên ra trường trên dưới 200 nghìn người là lực lượng tiềm năng
tham gia hoạt động KHCN.
Với nhịp độ tăng cao và khá ổn định về các chỉ tiêu kinh tế như hiện nay,
trong điều kiện bình thường, Việt Nam có khả năng rút ngắn thời gian đạt mục tiêu
cơ bản, hoàn thành công nghiệp hóa – hiện đại hóa trước năm 2020.
* *
*
Qua phân tích trên ta thấy ở đâu và lúc nào KHCN cũng luôn là lực lượng
sản xuất số một, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề làm thế nào có thể đánh giá tác động hay đánh giá sự
đóng góp của KHCN đối với phát triển kinh tế trong một quốc gia, một tỉnh/TP
hoặc một ngành nào đó luôn luôn là vấn đề thời sự thu hút nhiều quốc gia, nhiều
giới xã hội quan tâm nghiên cứu trong th
ập niên qua.
Trên thế giới vấn đề đánh giá tiến bộ KHCN đã và đang được nhiều nước
công nghiệp phát triển quan tâm, và các nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường cũng đang cố gắng xây dựng phương pháp luận phù hợp với điều kiện của
mình. Trong quá trình đổi mới hệ thống quản lý KHCN, nhiều tổ chức quốc tế và
các nước công nghiệp phát triển, và

cường chỉ đạo, quản lý phát triển kinh tế nói chung và phát triển KHCN còn bị hạn
chế.
Vấn đề hiện nay là tiếp tục hoàn chỉnh những chỉ tiêu thống kê KHCN đã
có đồng thời phải sớm xác định được những chỉ tiêu định hướng được vai trò của
KHCN trong phát triển kinh tế (tức là phần cống hiến, phần hiệu suất của KHCN
trong độ tăng trưởng kinh tế
).
Đây là vấn đề khá phức tạp, khó khăn hơn nhiều bởi lẽ “tiến bộ khoa học”
thường tiềm ẩn (nằm gọn) trong máy móc (tư bản) trong “trí tuệ” của lao động,
không dễ tách bóc ra khỏi tư bản và lao động để đánh giá, thống kê, định lượng.
Đương nhiên do yêu cầu của cuộc sống cần phải sớm nghiên cứu đề xuất
một hệ thống chỉ tiêu KHCN hợ
p lý, thực thi cao cùng phương pháp tính toán các
chỉ tiêu đó phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tiếp cận thống kê KHCN quốc tế và
qua thực nghiệm, thực hành, tích lũy kinh nghiệm sẽ điều chỉnh, bổ sung ngày
càng hoàn chỉnh.
1.1.2. Tóm lược các chỉ tiêu thống kê KHCN của các nước thuộc tổ chức OECD
và tổng quan về thống kê KHCN ở Việt Nam
1.1.2.1. Tóm lược các chỉ tiêu thống kê KHCN của các nước thuộc tổ chức OECD
Phần lớn các nước trên thế giới cũng như các tổ chức quốc tế đều có đưa ra
hệ thống chỉ tiêu thống kê KHCN. Tuy nhiên tùy thuộc vào nhu cầu thông tin về
KHCN và trình độ thống kê khác nhau mà có hệ thống chỉ tiêu thống kê KHCN
hoàn thiện ở những mức độ khác nhau, với số lượng chỉ tiêu nhiều ít và chi tiết

15
khác nhau. Dưới đây xin giới thiệu hệ thống chỉ tiêu thống kê KHCN của các nước
thuộc tổ chức OECD do các nước thuộc tổ chức này có số lượng chỉ tiêu tương đối
đầy đủ hơn so với một số nước châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Trung
Quốc.
a/ Các chỉ tiêu về chi phí trong nước cho NCPT

nh hướng so với tổng chi ngân sách cho lĩnh vực dân sự;

16
- Mức chi và tỷ lệ chi ngân sách cho quỹ chung của các trường đại học so
với tổng chi ngân sách trong lĩnh vực dân sự.
c/ Các chỉ tiêu về chi cho NCPT cho các chi nhánh tại nước ngoài
- Chi cho NCPT của các chi nhánh tại nước ngoài;
- Tỷ lệ % chi cho NCPT của các chi nhánh tại nước ngoài so với mức chi
cho NCPT của các doanh nghiệp.
d/ Các chỉ tiêu phản ánh cán cân thanh toán công nghệ

- Các khoản thu và các khoản thanh toán về công nghệ;
- Tỷ lệ % các khoản chi thanh toán về công nghệ so với tổng chi trong nước
cho NCPT.
e/ Các chỉ tiêu về nhân lực KHCN

- Tổng số cán bộ nghiên cứu;
- Tổng số nhân lực NCPT;
- Nhân lực nghiên cứu tính trên 1000 lao động tuyển dụng;
- Cán bộ nghiên cứu tính trên 1000 nhân lực ở độ tuổi lao động;
- Cán bộ nghiên cứu tính trên đầu người ở phạm vi chung và riêng giới nữ.
Ngoài ra còn có các chỉ tiêu thống kê phản ánh chi tiết về số lượng và cơ
cấu cán bộ nghiên cứu ở một số ngành và một số lĩnh vực chủ yế
u như: cán bộ
NCPT trong lĩnh vực công nghiệp thương mại, trong lĩnh vực giáo dục bậc cao và
trong các cơ quan NCPT của chính phủ v.v…
g/ Các chỉ tiêu thống kê thương mại quốc tế đối với các ngành công nghiệp
có “hàm lượng và tỷ suất đầu tư cao vào các hoạt động NCPT”
- Tổng kim ngạch XK về công nghiệp không gian/vũ trụ;
- Thị phần trên thị trường XK về công nghiệp không gian /vũ trụ;

tiến bộ KHKT chưa được quan tâm nghiên cứu và cũng chưa được tổ chức thực
hiện một cách nghiêm túc.

18
Năm 1982, Nhà nước có tổ chức cuộc điều tra với quy mô khá lớn về cán
bộ KHKT (hay còn gọi là cán bộ KHCN), số liệu điều tra đã được tổng hợp nhưng
cuối cùng chưa được sử dụng rộng rãi vì số liệu còn nhiều hạn chế.
Năm 1989, trên cơ sở số liệu của Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở
(TĐTDS&NƠ), chúng ta đã tổng h
ợp được số liệu về cán bộ KHCN có trình độ từ
cao đẳng và đại học trở lên. Số liệu được phân theo nhóm tuổi (phù hợp với nhóm
tuổi phân chia trong TĐTDS&NƠ) và được tổng hợp chung của toàn quốc cũng
như mỗi tỉnh/TP (mỗi tỉnh/TP chia ra thành thị và nông thôn; nam và nữ).
Năm 1994, Tổng cục Thống kê đã tiến hành Tổng điều tra kinh tế ở các đơn
vị sản xu
ất kinh doanh, các cơ quan hành chính sự nghiệp, các tổ chức xã hội…
Nhưng do cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, cuối cùng cũng chỉ có thể
công bố được số liệu về cán bộ “có trình độ từ cao đẳng đại học trở lên”.
Năm 1995 và 1996, Viện KHTK - TCTK đã phối hợp với Vụ Kế hoạch Tài
chính, Bộ KHCN&MT (nay là Vụ Kế hoạch, Bộ KHCN) tổ chức điều tra thu thập
thông tin ở các đơn v
ị sự nghiệp KHCN thuộc các bộ/ngành Trung ương.
Các chỉ tiêu thống kê KHCN thu thập và tính toán được trên đây tuy là đơn
giản, chỉ phản ánh được một số mặt chủ yếu nhất của tiềm lực KHCN, hơn nữa lại
chỉ ở phạm vi các đơn vị sự nghiệp KHCN của Chính phủ. Song đây các bước đi
khởi đầu, đã nói lên các yêu cầu và thể hiện được các yêu cầu đ
ó qua những chỉ
tiêu cụ thể. Và quan trọng hơn là các chỉ tiêu này đã được thể chế hoá qua phương
án điều tra và được tiến hành điều tra thực tế. Kết quả điều tra vừa phản ánh tính
khả thi của các chỉ tiêu nêu ra, vừa cung cấp được những thông tin thống kê vô

độ tiến sĩ và
tiến sĩ khoa học có đến năm 1999. Cuộc điều tra này có 3 mục đích chính:
1. Xác định lại đối tượng điều tra mà đã ghi được từ TĐTDS&NƠ: Loại bỏ
số người người có thông tin sai, đồng thời bằng nhiều cách và từ nhiều nguồn
thông tin tiếp tục tìm hiểu để bổ sung thêm những người chưa khai hoặc diện khai
sót khi tiến hành tổng
điều tra.
2. Lập danh sách cán bộ KHCN với các thông tin về cá nhân như là một lý
lịch khoa học để biên soạn cuốn “Danh mục các nhà khoa học” vừa để giới thiệu
đối tượng này với các cơ quan, tổ chức, cá nhân để khi có yêu cầu họ có cơ sở để
hợp tác, vừa để ghi nhận danh sách một đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Sản phẩm
là Danh sách của gần 9000 tiến sĩ và tiến sĩ
khoa học được biên soạn thành 6 cuốn:
TP. Hà Nội 4 cuốn, TP. Hồ Chí Minh 1 cuốn và các tỉnh/TP khác 1 cuốn, tổng số
dầy 2700 trang. Danh sách này được sắp xếp theo trình tự A, B, C của họ tên các
tiến sĩ. Riêng cuốn thứ 6 được sắp xếp theo thứ tự tỉnh/TP, sau đó trong mỗi
tỉnh/TP được xếp theo thứ tự A, B, C của họ tên các tiến sĩ.
3. Trên cơ sở số liệu thu thập sẽ được tổ
ng hợp để nghiên cứu sâu, đánh giá
hiện trạng đội ngũ cán bộ này. Số liệu đã kịp thời phục vụ cho Hội nghị TW6
(khoá IX). Đồng thời đã tiến hành phân tích, biên soạn thành cuốn sách “Thực

20
trạng đội ngũ cán bộ có trình độ tiến sỹ và tiến sỹ khoa học ở Việt Nam qua số
liệu thống kê năm 2000” xuất bản công khai và phổ biến rộng rãi trong toàn quốc.
Qua hơn 10 năm tiếp cận, nghiên cứu tìm tòi, có cả điều tra riêng, có cả
điều tra kết hợp trên cơ sở cài đặt thông tin trong các cuộc điều tra kinh tế, xã
hội… có thể thấy rằng, chúng ta hoàn toàn có khả nă
ng tổ chức thu thập tổng hợp
được các thông tin thống kê về KHCN. Điểm đáng lưu ý ở đây là thông tin thu

* *
*
Thực hiện yêu cầu của Luật Thống kê, ngày 24 tháng 11 năm 2005, Thủ
tướng Chính phủ đã có Quyết định số 305/2005/QĐ-TT ban hành hệ thống chỉ tiêu
thống kê quốc gia. Với 24 nhóm chỉ tiêu thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong đó có
nhóm chỉ tiêu thống kê KHCN. Nhóm chỉ tiêu này gồm 8 chỉ tiêu cụ thể: Số đơn vị
KHCN; Số người làm KHCN, số người có học vị, chức danh; Số đề tài khoa học
được nghi
ệm thu, số đề tài đưa vào ứng dụng thực tế; Số phát minh, sáng chế được
cấp bằng bảo hộ; Số giải thưởng KHCN quốc gia, quốc tế được trao tặng; Chi phí
cho hoạt động KHCN; Chi phí cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp; và Giá
trị mua bán công nghệ.
Có thể nói những năm 2001 trở lại đây, Nhà nước ta có sự quan tâm đặc
biệt đến phát triển KHCN, trong đó đặc biệt chú ý đến xây d
ựng và hoàn thiện hệ
thống chỉ tiêu thống kê, và thực tế cũng có nhiều biện pháp hữu hiệu nhằm thu
thập được những thông tin rất có ý nghĩa về KHCN. Tuy nhiên đây mới chỉ dừng
lại ở mức yêu cầu thông tin và đưa ra các chỉ tiêu thống kê. Trừ số liệu về số liệu
lao động phân theo trình độ CMKT có thể khai thác thác từ số liệu điều tra chọn
mẫu về lao
động việc làm do Bộ Lao động và Thương binh Xã hội thực hiện hàng
năm (từ năm 2001 đến 2006).Vấn đề còn lại và đặc biệt quan trọng là làm thế nào
để có được số liệu để tính toán các chỉ tiêu đó; tổ chức nào, ai là người đứng ra thu
thập số liệu thống kê; mối quan hệ, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong
việc thu thập tổng hợp và cung cấp số li
ệu thống kê KHCN như thế nào Trước
mắt, đó còn là một bài toán khó và hết sức phức tạp.
1.1.3. Phương hướng nghiên cứu thống kê tác động của KHCN đối với phát
triển kinh tế
Đo lường tác động của tiến bộ KHCN đối với phát triển kinh tế, chính là

riêng biệt hoặc nhóm các chỉ tiêu liên quan, nhưng đưa về cùng một loại đơn vị
tính để tổng hợp thành một chỉ tiêu chung.
* Hồi quy đơn tuyến tính có dạng:

bxay
ˆ
x
+=
; (1.1.3.1a)
Trong đó:
x
y
ˆ
là trị số lý thuyết của biến phụ thuộc; a và b là các hệ số của
phương trình (trong đó b >0 thì đường thẳng đi lên, b<0 thì đường thẳng đi xuống
và b =0 đường thẳng song song với trục hoành).
Hệ số tương quan:

yx
y.xxy
R
σσ

=
; (1.1.3.1b)
Trong đó:

23

n

)( −Σ
=
σ

Hệ số tương quan có giá trị trong khoảng từ -1 đến 1 (-1≤ r ≤1);
- Khi r mang dấu dương, giữa x và y có tương quan thuận chiều, khi r mang
dấu âm là tương quan ngược chiều;
- Khi r càng gần 0 thì quan hệ càng lỏng lẻo, ngược lại càng gần 1 hoặc -1
thì càng chặt chẽ . Trong trường hợp r =0 thì giữa x và y không có quan hệ.
* Hồi quy phi tuyến tính (đường cong) giữa 2 chỉ tiêu
- Phương trình hồi quy
Trong thực tế tùy theo đặc điểm và tính chất c
ủa mối quan hệ của các chỉ
tiêu nghiên cứu phương trình hồi quy phi tuyến tính cho phù hợp. Sau đây là một
số phương pháp hồi quy phi tuyến tính thường dùng:
- Phương trình parabol bậc 2:

2
x
cxbxay
~
++= ; (1.1.3.2)
- Phương trình hypecbol:
x
b
ay
~
x
+= ; (1.1.3.3)
- Phương trình hàm số mũ:

24
()
n
yy
~
2
x
2
y
x


: Phương sai đo độ biến thiên của chỉ tiêu y do ảnh
hưởng của tất cả các chỉ tiêu yếu tố.
Tỉ số tương quan có một số tính chất sau:
+ Tỉ số tương quan lấy giá trị trong khoảng [0;1], tức là 0
≤η≤ 1.
• Nếu
η= 0 thì giữa x và y không có liên hệ tương quan;
• Nếu
η
= 1 thì giữa x và y có liên hệ hàm số.
• Nếu
η càng gần 1 thì giữa x và y có liên hệ tương quan càng chặt chẽ và
càng gần 0 thì liên hệ tương quan càng lỏng lẻo.
+ Tỉ số tương quan lớn hơn hoặc bằng giá trị tuyệt đối của hệ số tương
quan, tức là
r≥η
. Nếu
r=η

tác động nghịch chiều.
- Hệ số hồi quy chuẩn hoá – ký hiệu
i
β
, được dùng để đánh giá mức độ ảnh
hưởng của từng chỉ tiêu KHCN
i
x đối với chỉ tiêu phát triển kinh tế y và được tính
theo công thức sau:
y
x
ii
i
b
σ
σ

; (1.1.3.7)

25
Dấu của β
i
là dấu của
i
b
, phản ánh chiều hướng mối liên hệ là thuận chiều
hay nghịch chiều giữa biến độc lập x
i
với biến phụ thuộc y.
- Hệ số tương quan bội (ký hiệu là R) được sử dụng để đánh giá mức độ

22110x,x
xbxbby
~
21
+
+
= ; (1.1.3.9)
Trong đó
21
x,x
y
~
là giá trị lý thuyết của chi tiêu phát triển kinh tế và có các hệ
số b
1
, b
2
… là các hệ số đặc trưng mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu KHCN đối
với chỉ tiêu phát triển kinh tế.
Hệ số tương quan bội khi dùng để đánh giá mức độ chặt chẽ giữa một biến
phụ thuộc với hai biến độc lập được nghiên cứu theo công thức tính như sau:

2
xx
xxyxyx
2
yx
2
yx
21

ở trên có thể tính:
- Hệ số tương quan riêng giữa y và x
1
(Loại trừ ảnh hưởng của x
2
):
()( )
2
xx
2
yx
xxyxyx
)x(yx
212
2121
21
r1.r1
r.rr
r
−−

= ; (1.1.3.11)
- Hệ số tương quan riêng giữa y và x
2
(Loại trừ ảnh hưởng của x
1
):

()( )
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status