MỤC LỤC
1
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta sau hơn hai mươi năm đổi mới và mở cửa đã có những
chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển. song cũng
trong bối cảnh đó, các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp.
Các quan hệ này không chỉ được thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh trong nước mà
còn mở rộng tới các tổ chức nước ngoài. Khi đàm phán ký kết hợp đồng các bên đều
muốn tốt đẹp nhưng do những khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, luật pháp…nên tranh
chấp là khó tránh khỏi. Việc giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh luôn là
vấn đề được các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu quan tâm giải quyết kịp thời.
Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh sau: kiếu nại, trọng tài và tòa án. Trong điều kiện của nền kinh tế thị
trường, hoạt động kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng và không ngừng phát
triển trong tất cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư… vấn đề lựa
chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại phải được các
bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất
của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc
giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp,
các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của một phương
thức để có quyết định hợp lý.
Hiện nay, không có phương thức giải quyết tranh chấp nào chiếm vị thế tuyệt
đối cả. Trong phạm vi đề tài này, nhóm xin trình bày về “Giải quyết tranh chấp
trong hợp đồng mua bán ngoại thương bằng phương pháp khiếu nại”.
Mặc dù vậy, do kiến thức và kinh nghiệm của chúng em còn hạn chế nên việc
tìm hiểu vấn đề có thể sẽ còn chưa cặn kẽ và tiểu luận sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và
bạn bè để tiểu luận này được hoàn thiện hơn.
2
NỘI DUNG
I. TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG.
đồng mua bán ngoại thương :
- Tranh chấp trong ngoại thương có yếu tố quốc tế. Yếu tố quốc tế của tranh chấp
trong ngoại thương thể hiện ở chỗ các bên tranh chấp có trụ sở thương mại đặt ở các
nước khác nhau.
- Cơ quan giải quyết tranh chấp trong ngoại thương là toà án hay trọng tài của một
nước nào đó được coi là toà án hay trọng tài nước ngoài.
- Tranh chấp trong ngoại thương mang tính thương mại. Tất cả các tranh chấp
trong ngoại thương đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động buôn bán,
cụ thể là hoạt động buôn bán với nước ngoài.
- Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thương rất đa dạng và phức
tạp: luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán quốc tế và các án lệ. Các bên có thể thoả
thuận lựa chọn nguồn luật thích hợp để áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp trong
hợp đồng ngoại thương hoặc thoả thuận sau khi ký kết hợp đồng. Việc áp dụng nguồn
luật nào cũng có thể do pháp luật qui định.
- Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thương là luật nước ngoài đối
với ít nhất là một trong các bên hoặc với tất cả các bên.
II. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG.
1. Khái niệm và nhận xét chung.
Khi tham gia vào hợp đồng mua bán ngoại thương thì việc tranh chấp là điều khó
tránh khỏi , do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan mà tiêu biểu
nhất là sự đối lập quyền lợi giữa các bên, tranh chấp vẫn thường xảy ra. Vì vậy đi
4
kèm theo đó là việc giải quyết tranh chấp. Trong thực tế, giải quyết tranh chấp gần
như song hành cùng hoạt động mua bán ngoại thương.
Xét về mặt lý luận lẫn thực tiễn thì việc giải quyết tranh chấp thường có 2 phương
pháp là đó là khiếu nại và đi kiện (trọng tài, tòa án).
Trong đó, khiếu nại là biện pháp thường được sử dụng trước tiên do đem lại hiệu
quả cao đồng thời tạo thuận lợi cho các bên trong việc giải quyết tranh chấp. Sau đó,
nếu không giải quyết được bằng phương pháp trên thì các bên mới đi kiện ở tòa án
hoặc đưa ra trọng tài. Hai phương pháp này tuy có hiệu quả cao và bảo vệ được
thương bằng khiếu nại. Luật pháp nhiều nước qui định khiếu nại là phương thức bắt
buộc đầu tiên để giải quyết tranh chấp. Cụ thể, khoản 1 điều 239 Luật thương mại
Việt nam 1997 đã qui định : “Tranh chấp thương mại trước hết phải được giải quyết
thông qua thương lượng giữa các bên”. Khi đó, khiếu nại là cơ sở pháp lý để giải
quyết tranh chấp ở các mức cao hơn là Toà án và Trọng tài.
Khiếu nại là một khâu rất quan trọng trong hoạt động ngoại thương cho nên người
làm công tác xuất nhập khẩu cần nắm vững kiến thức về nghiệp vụ ngoại thương
cũng như kiến thức pháp lý về khiếu nại.
Trong hoạt động thương mại và hàng hải quốc tế, khiếu nại liên quan đến nhiều
bên như người bán, người mua, người chuyên chở, người thuê chở, người gửi hàng,
người nhận hàng, người uỷ thác, người nhận uỷ thác, người bảo hiểm v.v… Song
khiếu nại người bán hàng, người chuyên chở hàng hoá bằng đường biển, người bảo
hiểm hàng hoá là những trường hợp hay xảy ra nhất.
2.2. Đặc điểm.
Để có thể tiến hành giải quyết thành công tranh chấp trong ngoại thương bằng
phương pháp khiếu nại, các bên cần tuân thủ chặt chẽ thời hạn khiếu nại và thủ tục
khiếu nại.
6
a. Thời hạn khiếu nại.
Thời hạn khiếu nại là một khoảng thời gian nhất định cho phép các bên tiến hành
giải quyết tranh chấp với nhau bằng con đường khiếu nại.
Thời hạn khiếu nại được chia làm hai loại: thời hạn khiếu nại theo luật định và
thời hạn khiếu nại qui ước.
- Thời hạn khiếu nại theo luật định là thời hạn khiếu nại được qui định trong luật
mà các bên đương sự phải tuân theo, không được làm khác đi. Thời hạn khiếu nại
được qui định trong điều ước quốc tế về hợp đồng mua bán ngoại thương là thời hạn
khiếu nại luật định.
- Thời hạn khiếu nại qui ước là thời hạn khiếu nại do các bên qui định trong hợp
đồng. Việc qui định thời hạn khiếu nại ngắn hay dài do các bên tự thoả thuận quyết
định. Thông thường, thời hạn khiếu nại qui ước ngắn hơn thời hạn khiếu nại luật
- Thời hạn khiếu nại: 30 ngày sau khi dỡ hàng đối với khuyết tật rõ rệt và 90
ngàyđối với khuyết tật không rõ rệt.
Quá trình thực hiện hợp đồng diễn ra như sau:
+ Ngày 29/01/2014, tàu đến cảng Việt Nam.
+ Ngày 05/02/2014, phía Việt Nam yêu cầu Vinacontrol giám định hàng.
+ Ngày 24/02/2014, bên Việt Nam nhận được biên bản giám định của Vinacontrol
và gửi thư nhắc nhở phía Ấn Độ về phẩm chất hàng, đề nghị tránh lặp lại chuyến sau.
+ Ngày 01/03/2014, bên Việt Nam gửi thư cho phía Ấn Độ tiếp tục phàn nàn về
phẩm chất hàng.
+ Ngày 12/03/2014, bên Việt Nam gửi cho phía Ấn Độ biên bản giám định do
Vinacontrol cấp.
+ Ngày 08/05/2014, phía Việt Nam khiếu nại đòi giảm giá với số tiền là 732.250
USD.
Kết quả: phía Ấn Độ từ chối đơn khiếu nại. Lý do là đối với bông các khuyết tật
về màu sắc, tạp chất, độ ẩm là khuyết tật rõ rệt. Theo như qui định về thời hạn khiếu
nại đối với khuyết tật rõ rệt trong hợp đồng thì trong vòng 30 ngày sau khi dỡ hàng
(07/02/2014) người mua phải gửi cho người bán bộ hồ sơ khiếu nại hợp lệ. Nhưng
8
mãi đến ngày 08/05/2014, khi đã hết thời hạn khiếu nại, người mua mới gửi đơn
khiếu nại. Do đó, yêu sách của người mua đã bị từ chối. Qua vụ việc trên ta thấy việc
tuân thủ thời hạn khiếu nại là vô cùng quan trọng. Bỏ lỡ thời hạn này, bên Việt Nam
đã phải gánh chịu thiệt hại, mặc dù bên nước ngoài vi phạm điều kiện về chất lượng
hàng.
b. Thủ tục khiếu nại.
Thủ tục khiếu nại là bên khiếu nại phải gửi cho bên bị khiếu nại một bộ hồ sơ
khiếu nại đầy đủ và hợp lệ. Bên bị khiếu nại sẽ xem xét, nghiên cứu rồi trả lời có thoả
mãn yêu cầu của bên khiếu nại không.
Bộ hồ sơ khiếu nại mà bên khiếu nại gửi cho bên bị khiếu nại bao gồm: đơn khiếu
nại và các chứng từ kèm theo.
Đơn khiếu nại được lập bởi người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải hợp lệ. Tính hợp
Có thể là vận đơn đường biển, vận đơn đường sắt, vận đơn hàng không … tuỳ
theo hàng hoá được chuyên chở bằng phương tiện gì. Vận đơn phản ánh tình trạng
bên ngoài của hàng hoá khi được giao cho người chuyên chở và số, trọng lượng hàng
được giao, ngày giao hàng Trên vận đơn có ghi chi tiết về việc giao hàng là cơ sở
để so sánh và xác nhận thực tế giao hàng so với hợp đồng. Các bên có thể dùng vận
đơn để làm căn cứ khiếu nại những người có liên quan nếu tranh chấp có liên quan
đến việc giao hàng.
- Biên bản giám định phẩm chất và số, trọng lượng.
Biên bản giám định là văn bản, chứng từ do người mua lập ra ở bến đến. Biên bản
giám định phẩm chất và số, trọng lượng có ghi những kết luận của cơ quan giám định
có thẩm quyền về chất lượng, số, trọng lượng hàng hoá thực tế đã giao. Trong trường
hợp kết quả giám định không phù hợp với hợp đồng thì người mua có quyền dựa vào
đó để khiếu nại người bán về việc giao hàng không phù hợp về chất lượng, số, trọng
lượng. Tuy nhiên, các bên cần chú ý đến giá trị pháp lý của biên bản giám định. Về
tính chất pháp lý có 2 loại biên bản giám định: biên bản giám định có tính quyết định
và biên bản giám định không có tính quyết định. Chỉ có biên bản giám định có tính
10
quyết định mới có thể ràng buộc các bên một cách chặt chẽ. Các biên bản giám định
khác rất dễ bị phía bên kia bác bỏ.
Ngoài ra, trong bộ hồ sơ khiếu nại còn có thể bao gồm các thư từ giao dịch qua lại
giữa các bên mua và bán. Tuy nhiên, các tranh chấp trong ngoại thương thường rất
phức tạp và đa dạng, do đó tuỳ từng trường hợp cụ thể mà các bên lựa có thể thêm
hay bớt các chứng từ để lập bộ hồ sơ khiếu nại phù hợp.
2.3 Ưu điểm và hạn chế.
• Ưu điểm:
- Phương pháp này thể hiện thái độ tôn trọng của bên bị vi phạm đối với bên vi
phạm nên bên vi phạm cũng sẽ phải suy nghĩ và cố gắng giải quyết tranh chấp một
cách hợp tình hợp lý nhất.
- Hai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp nên dễ có thể đạt được sự
thống nhất nếu như cả hai bên đều thiện chí.
- Ngày 16/07/2001, khách hàng ITOCHU gửi thư khiếu nại về việc phát hiện 1 sản
phẩm có lẫn kim gẫy sau khi nhận được lô hàng và tiến hành kiểm tra một số lượng
nhỏ. Vì vậy, ITOCHU buộc phải kiểm tra lại 100% lô hàng với chi phí rất cao 15JP
Yen/chiếc. Tổng số tiền là: 50.000 sp x 15JPY = 750.000 JPY (6000USD). Người
mua còn gửi kèm mẫu áo có lẫn kim gẫy để Hanosimex kiểm tra và cho biết ý kiến
cũng như các biện pháp khắc phục tình trạng trên, đồng thời xác nhận thanh toán số
tiền phí kiểm kim như trên.
- Sau khi kiểm tra lại và tiến hành điều tra, Hanosimex tìm ra nguyên nhân là do lỗi
của máy dò kim loại. Nhà máy may I được trang bị một máy dò kim loại. Quá trình
hoạt động khi đưa mẫu chuẩn vào thử máy báo có kim loại và dừng lại. Nhưng thực
tế khi đưa chiếc áo có dính đầu kim thì máy không có khả năng kiểm soát.
- Ngày 17/07/2001, Hanosimex gửi fax cho ITOCHU trình bày lý do nêu trên và
cam kết rằng sẽ thay máy dò kim loại bị hỏng, mỗi sản phẩn sẽ được đưa qua 2 máy
và sẽ tăng cường việc kiểm soát kim trong nhà máy. Về chi phí kiểm tra, Hanosimex
12
muốn ITOCHU xem xét lại và giảm bớt số tiền bồi thường vì sự việc này là lần đầu
tiên xảy ra và không thể dự đoán trước đường, đồng thời hứa sẽ không để xảy ra sự
việc tương tự thêm lần nào nữa.
- Ngày 15/08/2001, ITOCHU gửi thư nói rằng việc phải trả 6000 USD cho việc
kiểm lại kim là không hợp lý đối với ITOCHU và với mong muốn hợp tác lâu dài với
Hanosimex, ITOCHU chấp nhận trả 50% số tiền và mong Hanosimex xác nhận lại
và thanh toán 50% số tiền còn lại.
- Hanosimex gửi fax cho ITOCHU mong công ty này xem xét lại vì nếu phải trả
3000 USD thì Hanosimex sẽ không có lãi, thậm chí còn bị lỗ đối với đơn hàng này.
Tiếp đó, Hanosimex đề nghỉ trả 2000 USD thông qua chuyển tiền bằng điện và cam
kết sẽ chào mức giá ưu đãi cho những đơn hàng tiếp theo.
- Ngày 20/08/2001, ITOCHU gửi thư thông báo đồng ý chấp nhận số tiền bồi
thường là 2000 USD và bảy tỏ mong muốn rằng sự việc đáng tiếc này không bao giờ
lặp lại.
Như vậy, tranh chấp đã được giải quyết ổn thỏa dựa trên tinh thần hợp tác, thiện