Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
MỤC LỤC
Nhóm 15
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế nền kinh tế, hội nhập và tham gia các tổ
chức kinh tế quốc tế là xu thế không thể nào đảo ngược đối với mỗi quốc gia trong quá
trình phát triển kinh tế của mình. Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh
xuất khẩu hàng hóa. Trong khi những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có
uy tín trên thị trường thế giới, thì đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của
nước ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra hàng
rào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu vào thị trường của nước họ.
Mặt hàng cá tra, cá basa là một ví dụ điển hình. Bài tiểu luận dưới đây xin đề một số
vấn đề cơ bản về bán phá giá cá tra, cá basa Việt Nam vào các thị trường tiềm năng –
cụ thể ở đây là Mỹ và bài học rút ra sau vấn đề.
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
B. NỘI DUNG
Phần 1: Hoạt động xuất nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sang Mỹ trước
455.880
1.369.428
4.295.350
13.370.882
29.667.246
38.286.449
62.777.855
Tỉ lệ tăng trưởng (%)
200
214
211
122
29
64
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
Lần đầu tiên trong lịch sử, cá tra và cá basa công nghiệp Việt mạnh làm rung
chuyển các ngành công nghiệp cá da trơn Mỹ, được minh họa bằng sự tăng trưởng của
thị phần nhập khẩu của Việt Nam sang Mỹ lên tới 17,34% vào năm 2002, từ 0,14% vào
năm 1996 như trong bảng 2.
Mặc dù Mỹ mở một rào cản thương mại đối với Việt Nam,nhưng điều này không
thể giúp Mỹ đạt được một tình hình thị trường tốt hơn. Ngược lại,thị trường cá tra fillet
đông lạnh của Mỹ trở nên tồi tệ, do chiến lược giá của các nhà xuất khẩu và nhà chế
biến Việt Nam giảm giá liên tục từ 4,65USD / kg trong 1996-2,99 USD / kg vào năm
Nhóm 15
2. Hoạt động nhập khẩu cá tra, cá basa tại Mỹ và phần trăm kim ngạch nhập
khẩu đối với hàng của Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA-ERS 2016), khối lượng cá
da trơn nhập khẩu vào Mỹ tăng "chóng mặt" trong những năm gần đây. Năm 1999
lượng cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ chỉ ở mức 3,451 triệu pao, sau 10 năm đã tăng gần
10 lần, đạt 30,105 triệu pao. Đến năm 2006 lượng cá da trơn nhập khẩu vào thị trường
này lại tăng hơn gấp đôi năm 2005, đạt 74,964 triệu pao và năm 2007 đạt 84,605 triệu
pao. Năm 2009, khối lượng cá da trơn nhập khẩu đã đạt mức đỉnh tính từ năm 1999 với
khối lượng 129,38 triệu pao. Lượng cá da trơn nhập khẩu nhiều nhất vào quí 4 với
38,358 triệu pao tiếp theo là quý 3 35,017 triệu pao, quý 2 với 30,717 triệu pao và ít
nhất là quý 1 với 25,288 triệu pao vào năm 2009.
Số liệu nhập khẩu cá da trơn ở Mỹ từ 1999-2009 ( Số liệu từ USDA-ERS)
Năm
1999
2000
2001
Loại
Catfish
Catfish
Catfish
Nguồn
Nhập khẩu
Nhập khẩu
Nhập khẩu
2002
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
Khoảng
3451
8236
18079
10201
5430
9224
30105
74964
84605
102428
129380
Mặc dù, Mỹ nhập khẩu cá da trơn từ nhiều nước như Inđônêxia, Trung Quốc,
Mêhicô, Thái Lan, Việt Nam nhưng cá da trơn từ Việt Nam vẫn chiếm ưu thế hơn cả.
Năm 1998, khi gia nhập APEC, lượng xuất khẩu cá tra, basa vào thị trường Hoa Kỳ chỉ
ít ỏi với hơn 200 tấn. Nhưng đến năm 2002, số lượng xuất khẩu cá tra, basa vào thị
trường Hoa Kỳ đã lên đến gần 20.000 tấn sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam và ký
Hiệp định thương mại song phương vào tháng 12/2001.
Catfish
Catfish
Catfish
Catfish
Catfish
Catfish
Nguồn
Nuôi chế biến ở Mỹ
Nuôi chế biến ở Mỹ
Nuôi chế biến ở Mỹ
Nuôi chế biến ở Mỹ
Nuôi chế biến ở Mỹ
Nuôi chế biến ở Mỹ
Đơn vị
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
1,000 Pounds
Khoảng
596628
593603
597108
630601
661504
630450
496246
509597
466100
Từ năm 2004 đến cuối năm 2009 sản lượng có dấu hiệu giảm dần, trong đó năm
2008 sản lượng cá da trơn nuôi chế biến tại Mỹ chỉ còn 509,597 triệu pao, thấp hơn so
với sản lượng của các năm từ 1999 đến 2006 . Đến năm 2009 thì sản lượng cá da trơn
nuôi chế biển chỉ còn 466,1 triệu pao.
Việc gia tăng nhập khẩu các loại cá da trơn và những lại cá như basa tra khiến cho
sản lượng cá da trơn nuôi chế biến tại các trang trại ở Mỹ bị giảm sút. Sức ảnh hưởng
của việc nhập khẩu là rất lớn, ảnh hưởng nhiều đến thị trường cá da trơn trong toàn
nước Mỹ.Năm 2009 nhập khẩu đạt mức 129,38 triệu pao trong đó Việt Nam chiếm đến
66%, Thái Lan 11% và Trung Quốc là 18%.
Phần 2: Vụ Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa vào thị trường Mỹ
1. Nguyên nhân dẫn đến vụ kiện:
Thông qua các vòng đàm phán GATT/WTO, các rào cản thuế quan đã bị cắt giảm
đáng kể trên toàn thế giới, nhưng biện pháp chống phá giá, như là một rào cản phi thuế
quan, đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng. Do được cho phép bởi WTO, công
cụ chống phá giá đang được sử dụng ngày càng nhiều ở các quốc gia trên thế giới
nhắm đến nhiều sản phẩm khác nhau. Kể từ năm 1980, để đối phó với sự cạnh tranh
gay gắt từ các sản phẩm nhập khẩu, các nhà sản xuất Mỹ liên tục tìm kiếm các biện
pháp bảo hộ thương mại. Với điều luật bổ sung Byrd cho phép người đi kiện của Mỹ
trong các vụ kiện bán phá giá được lãnh tiền bồi thường cho những tổn thất mà họ phải
gánh chịu, biện pháp chống phá giá ngày càng được sử dụng nhiều ở quốc gia này.
Nghề nuôi cá nheo là một trong những ngành sản xuất thủy sản lớn nhất của Mỹ
và sản phẩm cá phi lê đông lạnh là sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp chế biến cá
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
vốn”
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
Bên Việt Nam cũng đưa ra rất nhiều dẫn chứng ủng hộ việc giá thành cá basa xuất
khẩu sang bên Mỹ không cao:
+ Nhờ "không ngừng cải tiến, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất giống, nuôi, phòng và chữa bệnh cũng như chế biến". Tại vùng Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL), cá tra, basa chủ yếu được nuôi trong lồng bè hoặc
đăng quầng trên sông. Cá cũng được nuôi trong ao, nhưng năng suất và chất
lượng không cao. Mỗi nhà bè nuôi cá, cũng đồng thời là nơi sinh hoạt của một
hộ gia đình với đầy đủ tiện nghi. Bè cũng là nơi chứa nguyên liệu và là nơi chế
biến thức ăn cho cá. Nhờ vậy, người nuôi cá không mất tiền thuê ao để nuôi cá,
không cần thuê nhà ở. Tuy nhiên, vốn đầu tư để đóng 1 lồng bè 50-60 tấn mất
khoảng 200 triệu đồng (5m x15m x5m) cũng khá lớn. Song bù lại có thể khấu
hao 6 -10 năm và chỉ cần lãi vài năm là hoàn vốn. Cá biệt có những bè lớn cho
sản l ượng 150-200 tấn, trị giá cả tỷ đồng. Từ 2 tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long
là An Giang và Đồng Tháp, nghề nuôi 2 loài cá da trơn này đã lan rộng sang các
tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre và cả Thành phố Hồ Chí Minh.
Điều đó cho thấy hiệu quả mang lại từ nghề nuôi cá tra, basa rất lớn.
+ Một lợi thế khác mà nghề nuôi cá nheo ở đồng bằng sông Mississippi khó có
thể sánh được là khí hậu ở ĐBSCL rất thích hợp cho sự sinh trưởng quanh năm
của cá không như ở Mỹ cá rất chậm lớn về mùa đông. Cá nheo Mỹ sau 18 tháng
nuôi mới đạt 1,5 pao (680 g). Cùng sử dụng thức ăn tự chế biến giàu đạm, cá tra
chỉ cần 8-10 tháng đạt 1 kg và cá basa là 12-14 tháng đạt 1,5 kg. Gần đây, các
doanh nghiệp Việt Nam đã liên tục đổi mới dây chuyền sản xuất không thua
kém gì Mỹ. Họ luôn tìm mọi cách tiết kiệm, hạ chi phí sản xuất.
ký tên vào một bức thư gửi Đại diện thương mại Mỹ Robert Zoellick, cho rằng cá tra,
cá basa từ Việt Nam đang gây thiệt hại cho nghề nuôi cá nheo Mỹ, đề nghị chính phủ
Mỹ phải sớm ra tay can thiệp.
Ngày 11/7/2001, một số thượng nghị sỹ bang Mississippi và Arkansas lên tiếng
kêu gọi Quốc hội thông qua một dự luật về ghi nhãn đối với nguồn gốc xuất xứ của cá
nuôi nhập khẩu trong khi bán lẻ, song không được ủng hộ.
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
Ngày 5/10/2001, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật HR. 2964 chỉ cho phép sử dụng
tên cá "catfish" cho riêng các loài thuộc họ Ictaluridae (họ cá Nheo Mỹ).
Ngày 25/10/2001, Thượng viện Mỹ tiếp tục biểu quyết miệng, thông qua 35 điều
luật bổ sung cho dự án số HR. 2330 về phân bổ ngân sách nông nghiệp năm tài chính
2002, không cho phép FDA sử dụng ngân sách được cấp để làm thủ tục cho phép nhập
khẩu các loài cá da trơn mang tên "catfish" trừ khi chúng thuộc họ cá nheo Mỹ.
Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật An ninh trang trại và Đầu tư nông thôn HR.
2646 cấm hoàn toàn việc dùng tên "catfish" cho cá tra, cá basa Việt Nam, áp dụng
trong tất cả các khâu từ nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, nhà hàng, quảng cáo, thông tin...
trong vòng 5 năm và có khả năng sẽ kéo dài vĩnh viễn. CFA không chỉ dừng ở đó mà
lại vin tiếp vào điều khoản 10806 của Đạo luật An ninh nông trại và Đầu tư nông thôn
mới nhất xác lập "chủ quyền tuyệt đối" trên thương hiệu “catfish”. Trước tình hình này,
các doanh nghiệp của ta đã phải từ bỏ cái tên catfish để trở về với cái tên thuần Việt
nam là "cá tra", "cá basa”.
Sau khi giành chiến thắng về tên gọi catfish, Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ
(CFA) tiếp tục mở một cuộc tấn công khác: khởi kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán
phá giá cá tra, cá basa.
biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam – VASEP;
• Ông Ngô Phước Hậu, Tổng giám đốc Công ty XNK Thuỷ sản An Giang
(Agifish);
• Ông Nguyễn Hữu Chí, Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Thương mại
•
•
•
•
•
•
•
Việt Nam;
Christine Ngo, Giám đốc Công ty Thực phẩm quốc tế H&N;
Matthew Fass, Chủ tịch Tập đoàn Maritime Products International;
Robin Rackowe, Chủ tịch tập đoàn International Marine Fisheries;
TS. Carl Ferraris, Học viện Khoa học California;
Roger Kratz, Công ty Captain's Table;
Diệp Hoài Nam, Luật sư của White & Case Vietnam;
Đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ là ông Nguyễn Hữu Chí, cùng
nhóm luật sư William J. Clinton, K. Minh Dang, Lyle Vander Schaaf và
Keir A. Whitson.
b) Diễn biến vụ kiện
16h00 ngày thứ 6, 28/6/2002, CFA đệ đơn kiện lên Uỷ ban hiệp thương Quốc tế
Mỹ (ITC) và Bộ Thương mại Mỹ (DOC). Theo đó, họ cáo buộc 53 doanh nghiệp Việt
Nam bán phá giá cá tra, basa Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ. Khối lượng đơn kiện được
chuẩn bị cực kỳ chi tiết và đồ sộ, gồm phân tích chi tiết tình hình thị trường cá nheo
Mỹ, thị phần cũng như ảnh hưởng của cá da trơn đông lạnh của Việt Nam tại Mỹ, mà
Thương mại Mỹ phê chuẩn kiến nghị của Phòng Chính sách, coi nền kinh tế Việt Nam
là phi thị trường, việc kết luận này dựa trên đánh giá theo các tiêu chí của Mỹ, đặt cơ
sở cho việc xem xét áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng cá tra, cá
basa của Việt Nam.
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
Ngày 29/11/2002, Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ tiếp tục nộp đơn lên Bộ
Thương mại Mỹ (DOC) cho rằng đã xuất hiện “tình trạng khẩn cấp ” trong vụ kiện cá
basa. CFA đã đưa ra 5 luận điểm chống lại Việt Nam. Tuy nhiên DOC kết luận, sự tồn
tại của cái gọi là “trường hợp khẩn cấp” của CFA bị bác bỏ.
Ngày 17/3/2003, DOC trực tiếp điều tra thực trạng nuôi cá basa tại Việt Nam và
đề nghị Việt Nam thảo luận về thoả thuận đình chỉ vụ kiện và thay bằng việc áp dụng
hạn ngạch và giá xuất khẩu đối với việc xuất khẩu mặt hàng này.
Ngày 20/5/2003, Thoả thuận về đình chỉ vụ kiện bị đổ vỡ.
Ngày 14/6/2003, VASEP sang Washington dự phiên điều trần cuối cùng (ngày
17/6/2003) trước Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), cơ quan trọng tài của vụ
kiện.
4. Quyết định của tòa án
Sau hơn 7 tháng điều tra, qua rất nhiều khâu (thu thập bảng hỏi điều tra, xác định
nền kinh tế Việt Nam là thị trường hay phi thị trường, xác định quốc gia tham chiếu thứ
ba, thu thập chứng cứ liên quan...), cuối tháng 1/2003, DOC cũng công bố kết quả điều
tra sơ bộ là, các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra, basa tại Mỹ; đồng thời áp
dụng 3 mức thuế trừng phạt dao động trong khoảng 38 - 64%. Đến tháng 7/2003, kết
luận điều tra cuối cùng của cả ITC và DOC đều khẳng định, doanh nghiệp Việt Nam
bán phá giá và ấn định mức bán phá giá 36,84 - 63,88%.
Nam. Doanh nghiệp bị đơn bắt buộc: mức thuế cuối cùng cho 2 doanh nghiệp bị đơn
bắt buộc là 0,41 USD/kg, và 0,97 USD/kg, doanh nghiệp bị đơn tự nguyện (gồm 14
doanh nghiệp) nhận mức thuế 0,69 USD/kg, mức thuế toàn quốc vẫn ở mức 2.39
USD/kg.
Đây là mức thuế khiến cho DN xuất khẩu cá tra Việt Nam rất khó trong việc
xuất khẩu sản phẩm cá tra vào thị trường Mỹ thời gian tới. Tuy nhiên theo VASEP, hiện
tại khoảng 27 DN ngành cá tra Việt Nam đang theo đuổi và tham gia xem xét hành
chính lần thứ 12 (POR 12) của DOC và dự kiến DOC sẽ có phán quyết sơ bộ vào tháng
9/2016.
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
Phần 3: Bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện đối với các doanh nghiệp Việt Nam
và biện pháp phòng tránh và đối phó với các vụ kiện bán phá giá ở nước
ngoài
1. Bài học đối với doanh nghiệp
Trên thị trường thế giới, mặt hàng cá tra, cá basa Việt Nam đang càng càng được
mở rộng nhưng dường như các doanh nghiệp vẫn gặp rất nhiều khó khăn, bị động đối
với các rào cản thương mại dù đã rất nỗ lực. Từ đó có thể thấy vấn đề tiếp thị giữ vai
trò khá quan trọng. Doanh nghiệp cần thực hiện các chiến lược tiếp thị với các nước
bạn, ngay cả với những nhà bán lẻ ở thị trường các nước lớn, tạo mối quan hệ với họ
và qua đó làm nổi bật các giá trị ưu việt của mặt hàng cá Việt Nam, đồng thời dần xây
dựng và khẳng định thương hiệu vì một khi thương hiệu đã vững mạnh, các doanh
nghiệp sẽ tự tin trước các rào cản.
Trong vụ kiện này, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn rơi vào tình trạng bị
động và chưa có sự chuẩn bị về mặt pháp lý khi thâm nhập vào các thị trường nhất là
2. Biện pháp phòng tránh và đối phó với các vụ kiện bán phá giá ở nước ngoài
Dự báo và tổng hợp danh mục các ngành hàng và các mặt hàng Việt Nam có khả
năng bị kiện phá giá trên cơ sở rà soát theo tình hình sản xuất, xuất khẩu từng ngành
hàng của Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu cơ chế chống bán phá giá của từng quốc gia
để từ đó có sự phòng tránh cần thiết.
Phân tán rủi ro, tránh tập trung xuất khẩu với khối lượng lớn vào một nước để
phòng tránh tạo cơ sở cho các nước khởi kiện bán phá giá bằng cách xây dựng chiến
lược đa dạng hoá sản phẩm và đa phương hoá thị trường xuất khẩu của các doanh
nghiệp.
Phổ biến, hướng dẫn cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết về thị trường
xuất khẩu, về luật thương mại quốc tế, luật chống bán phá giá của các nước nhằm tránh
những sơ hở dẫn đến các vụ kiện.
Chính phủ cần tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp trong kháng kiện: thành lập quỹ
trợ giúp theo đuổi các vụ kiện, cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết
về các thủ tục kháng kiện, giới thiệu các luật sư giỏi ở nước sở tại có khả năng giúp
cho doanh nghiệp thắng kiện...Về phía các hiệp hội ngành hàng, cần phát huy vai trò là
Tiểu luận Chính sách thương mại quốc tế
Nhóm 15
tổ chức tập hợp và tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành nhằm
nâng cao năng lực kháng kiện của các doanh nghiệp.
Cần có biện pháp thương lượng để cam kết giá, đó là việc nhà sản xuất, xuất khẩu
cam kết sửa đổi mức giá bán (tăng giá lên) hoặc cam kết ngừng xuất khẩu với giá bị coi
là bán phá giá hàng hoá. Đây là một thoả thuận tự nguyện giữa các nhà sản xuất, xuất
khẩu và nước nhập khẩu. Khi một cam kết giá được chấp thuận, quá trình điều tra sẽ
chấm dứt.
Luật chống bán phá giá của Mỹ (United States – Anti-Dumping Act of 1916);
Báo Thương Mại các số 25, 29, tháng 10 năm 2003;
Báo Kinh tế Sài Gòn số 28/2003 (625) ngày 3/7/2003;
Báo Thương Mại Thuỷ sản, tháng 5-6/2003, tháng 8/2003 (Bộ Thuỷ sản);
Báo Kinh tế Việt Nam số 32 ngày 12/8/2003;
Báo Doanh nghiệp Thương mại số 179 ngày 1/5/2003;
Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 65 tháng 11/2002;