BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Báo cáo
"Vận động hành lang trong vụ kiện
bán phá giá cá BASA "
MỤC LỤC
Lời nói đầu 3
Chương 1: Ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá basa. 4
1.1 Tổng quan về vụ kiện cá tra, cá basa của Mỹ đối với Việt Nam 4
1.2 Quá trình vận động hành lang trong vụ kiện 8
Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá basa.
13
2.1 Khái niêm về vận động hành lang 13
2.1.1 Định nghĩa vận động hành lang 13
2.1.2 Phương thức vận động hành lang trên thị trường Mỹ 13
2.1.3 Tác dụng và ý nghĩa của vận động hành lang 15
2.1.3.1 Tác dụng 15
2.1.3.2 Ý nghĩa 17
2.1.4 Sự cần thiết của vận động hành lang 18
2.2 Vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá basa của Việt Nam 19
2.2.1 Sự vận động hành lang của vụ kiện cá tra, cá basa 19
2.2.2 Ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện 24
2.3 Nguyên nhân, ưu điểm, nhược điểm của Việt Nam trong vụ kiện 26
2.3.1 Ưu điểm 26
2.3.2 Nhược điểm 26
2.3.3 Nguyên nhân 27 Chương
3: Bài học kinh nghiệm và giải pháp về vận động hành lang đối với chính phủ và các
doanh nghiệp kinh doanh quốc tế 29
3.1 Bài học kinh nghiệm 29
3.2 Giải pháp 31
Kết luận 33
Danh mục tài liệu tham khảo 34
NAM
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ vào năm 1996. Năm
1998, lượng cá lát catfish không xương đông lạnh của Việt Nam xuất sang đây mới chỉ có
260 tấn. Nhưng đến cuối năm 2001, con số ấy đã vọt lên 7.746 tấn. Với giá thành rẻ hơn từ
0,08 đến 1USD/pound và chất lượng không thua kém catfish Mỹ, cá Việt Nam đã gây ảnh
hưởng không nhỏ tới việc tiêu thụ catfish của Mỹ, bằng chứng là tổng giá trị catfish bán ra
của Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ(CFA) giảm mạnh, từ 446 triệu USD năm 2000
xuống còn 385 triệu USD năm 2001. Dưới sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ các sản
phẩm cá của Việt Nam, CFA đã phải hành động nhằm đánh bật con cá của Việt Nam ra
khỏi thị trường Mỹ.
9/2001 vụ kiện bắt đầu nổ ra bằng việc Mỹ mở cuộc chiến về tên gọi catfish đối với sản
phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này. CFA dựa vào Luật Ngân
sách nông nghiệp 107-76 của Mỹ để cấm loại cá này của Việt Nam được nhập vào nước
này với tên gọi catfish và đạo luật HR.2646 cấm hoàn toàn việc dùng tên catfish cho các
loại cá tra, cá basa của Việt Nam trong tất cả các khâu bán lẻ, bán sỉ, nhà hàng, thông tin,
quảng cáo trong vòng 5 năm. Chưa dừng ở đây, CFA vin tiếp vào điều khoản 10806 của
đạo luật An ninh nông trại và Đầu tư nông thôn mới nhất để xác lập chủ quyền tuyệt đối
trên thương hiệu catfish. Tháng 12/2001, bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, Quốc hội
Mỹ đã thông qua lệnh cấm tạm thời (có hiệu lực tới ngày 30/9/2002), theo đó, chỉ có
catfish của Mỹ mới được gọi là catfish, còn cá của Việt Nam phải được gọi bằng tên basa
hay tra. Sau khi dự luật được thông qua, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ không chỉ
của dư luận Mỹ mà còn chịu sự phản đối của dư luận thế giới. Thượng nghị sĩ Phil
Gramm, bang Texas khẳng định: “ Những người kiếm sống trong ngành khoa học nuôi cá
gọi nó là catfish, vậy cớ sao chúng ta(Quốc hội Mỹ) lại muốn gọi nó khác đi”. Ông Gramm
cùng thượng nghị sĩ John Mccain đưa ra một điều khoản bổ xung nhằm bác bỏ dự luật cấm
4
Việt Nam sử dụng nhãn catfish, tuy nhiên, đề nghị của hai ông đã bị bác bỏ (theo báo
Washington Post ngày 27/122001).
Sau khi giành chiến thắng về tên gọi catfish, Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ(CFA)
tiếp tục mở một cuộc tấn công khác: khởi kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá
đó CFA đã đưa ra các luận điểm:
+ Các nhà xuất khẩu Việt Nam biết cá tra, cá basa filê đông lạnh bị bán phá giá.
+ Các nhà xuất khẩu có thông tin về việc áp thuế chống phá giá đối với công ty của
mình với mức 25% hoặc cao hơn nữa trong giai đoạn điều tra ban đầu của DOC.
+ Các nhà xuất khẩu Việt Nam đã tăng số lượng hàng sang Mỹ sau khi CFA nộp đơn
yêu cầu điều tra chống phá giá .
+ Tính từ ngày 28/6/2002, số lượng hàng xuất khẩu sang Mỹ tăng ở mức 15% hoặc cao
hơn nữa so với thời gian trước ngày nộp đơn yêu cầu điều tra chống phá giá.
+ Cần áp dụng hồi thuế chống phá giá để đảm bảo hiệu quả của thuế chống phá giá sẽ
được ban hành vào ngày 24/1/2003.
Tháng 11/2002 bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, DOC đã kết luận Việt Nam là
nước có nền kinh tế phi thị trường, việc kết luận này dựa trên đánh giá theo các tiêu chí
của Mỹ nó đặt cơ sở cho việc xem xét áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với mặt
hàng cá tra, cá basa của Việt Nam. Ngày 28/1/2003, DOC tạm thời xác định mức thuế
chống bán phá giá đối với cá tra, cá basa của Việt Nam trong khoảng từ 31,45% - 63,88%
tuỳ theo nhóm mặt hàng và doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa của nước ta. Cụ thể như
sau:
Tên công ty Mức thuế
Agifish 31,45%
Cataco 41,06%
Nam Việt 38,09%
Vĩnh Hoàn 37,94%
Các công ty khác
có tham gia vụ
kiện
36,76%
Các công ty không 63,88%
6
tham gia vụ kiện
Tháng 3/2003, DOC đã cử đoàn quan chức sang Việt Nam để nghiên cứu điều tra tình
Các công ty không
tham gia vụ kiện
63,88%
Sau khi đưa ra phán quyết thiếu công bằng, đến ngày 7/8/2003, Bộ Thương mại Mỹ
chính thức công bố áp đặt thuế chống bán phá giá đối với 11 doanh nghiệp Việt Nam xuất
khẩu mặt hàng filê đông lạnh cá tra, cá basa vào thị trường này.Về phía Việt Nam, sau khi
lấy ý kiến, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam đều nhất trí tiếp tục theo
đuổi vụ kiện. VASEP sẽ nộp đơn kiện lên toà án quốc tế thương mại Mỹ.
1.2 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG VỤ KIỆN
Năm 1998, lượng cá tra, cá basa filê đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường
Mỹ chỉ có 260 tấn, nhưng đến năm 2001 con số này đã tăng vọt lên 7.746 tấn. Lo ngại
trước sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đó, hiệp hội nuôi catfish ở các tiểu bang
Mississipi, Lousiana, Askansa, Alabama đã sử dụng vận động hành lang (Lobby) để bảo
vệ quyền lợi kinh tế của mình, dưới áp lực của các lobby của CFA buộc các nghị sĩ ở các
tiểu bang miền Nam phải có tác động tới Quốc hội Mỹ ra nghị quyết cản trở nhập cá tra, cá
basa của Việt Nam vào Mỹ. Tờ Washington Post ngày 10/9/2001 viết: “ Việt Nam đang
bán phá giá sang Mỹ hàng ngàn tấn cá basa trong năm nay, gây thiệt hại cho các nhà nuôi
cá nội địa. Nhiều nghị sĩ muốn Quốc hội yêu cầu gắn nhãn sản phẩm Việt Nam cho mặt
hàng này”. Hai hạ nghị sĩ Dân chủ, Marion Berry và Mike Ross của bang Arkansar(nơi có
nguồn cung cấp cá basa lớn thứ 3 ở Mỹ, sau Mississipi và Alabama) yêu cầu các hãng bán
buôn không chỉ xác định rõ xuất xứ của cá basa Việt Nam, mà còn gắn cho sản phẩm này
mác “basa Mekong”, “cá trê” hoặc “cá trê basa” để phân biệt với cái mà họ gọi là cá basa
Mỹ “thứ thiệt”. Hạ nghị sĩ Berry đã theo đuổi vấn đề này với giới chức thương mại của
Tổng thống Mỹ và cũng có dịp đề cập với các quan chức Việt Nam. Ông Berry tuyên bố,
sẽ tìm cách đưa các điều khoản trên vào dự luật khi nó được trình trước Hạ viện hoặc được
đưa ra thảo luận tại Thượng viện Mỹ tới đây. Duới sự tác động mạnh mẽ của lobby, tháng
9/2001 các đại biểu miền Nam nước Mỹ đã trình lên Quốc hội để tránh dùng từ catfish cho
việc mua bán cá tra, cá basa trên thị trường Mỹ. Không những thế, chính quyền liên bang
còn quyết định chi 6 triệu USD để mua catfish cho chương trình ăn trưa ở các trường học,
8
Tanner Okun, Chủ tịch Uỷ ban Hiệp thương Quốc tế Mỹ, nêu luận điểm: “ Đại diện cho
những người nuôi catfish Mỹ, chúng tôi khẩn cấp đề nghị Uỷ ban cân nhắc một cách có
thiện chí đối với đơn kiện của CFA về việc cá tra, cá basa filê đông lạnh nhập từ Việt Nam
được bán phá giá, gây cạnh tranh và làm thiệt hại tới các nhà nuôi cá catfish nội địa.”
Ngày 28/1/2003, DOC ra quyết định tạm thời xác định mức thuế chống bán phá giá đối
với sản phẩm cá của Việt Nam trong khoảng 31,45% - 63,88%, quyết định này của DOC
đưa ra đã bất chấp luận điểm của Việt Nam đưa ra: việc sản xuất cá tra, basa của Việt Nam
được thực hiện theo quy trình liên hoàn, khép kín. DOC nói chưa xem xét đến yếu tố này
do còn nhiều khúc mắc. Đến tháng 3/2003, DOC đã cử đoàn quan chức sang Việt Nam
khảo sát, chính họ đã thừa nhận quá trình sản xuất, chế biến cá tra, basa ở Việt Nam là theo
chu trình khép kín. Song, ở quyết định cuối cùng, DOC lại cho rằng, ở Bangladesh không
có doanh nghiệp nào sản xuất theo chu trình khép kín như các doanh nghiệp tại Việt Nam,
nên giá thành sản xuất được tính từ giai đoạn chế biến. Tại sao họ lại đưa ra quyết định trái
ngược lại với những gì họ đã khẳng định? Đó chính là do áp lực của các lobby của các tập
đoàn nuôi cá da trơn Mỹ.
Cuối tháng 4/2003, Bộ Thương mại Mỹ đã gợi ý Bộ Thương mại hai bên sẽ tiến hành
đàm phán “ về một thoả thuận đình chỉ vụ kiện” này. Từ ngày 2-9/5/2003, hai bên đã tiến
hành đàm phán nhưng do quan điểm rất khác nhau nên cuộc đàm phán đã không đạt được
thoả thuận cuối cùng. Mỹ đã đưa ra hạn mức xuất khẩu cá tra, basa filê đông lạnh của Việt
Nam vào Mỹ với mức rất thấp và ấn định giá bán xuất khẩu rất cao, không thực tế nhằm
cản trở việc nhập khẩu sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam. Trong cuộc đàm phán này,
Việt Nam dựa vào chu trình sản xuất khép kín đối với loại sản phẩm này và đề xuất áp
dụng hạn ngạch đối với cá tra, cá basa ở các mức: năm 2003 bằng 90%; năm 2004 bằng
95%; năm 2005 bằng 100% mức năm 2002. Ngày 23/7/2003, ITC tiến hành bỏ phiếu để
đưa ra kết luận, tham gia bỏ phiếu có 4 thành viên của ITC ( thiếu 2 người) và cả 4 thành
viên này đều bỏ phiếu thuận theo DOC và khẳng định Việt Nam đã bán phá giá cá tra, basa
sang thị trường Mỹ.
Về phía Việt Nam, theo luật của Mỹ, công ty đại diện pháp lý không được sử dụng vận
động hành lang, vì vậy, VASEP đã thuê hai công ty nổi tiếng để thực hiện việc này. Nhờ
10
chi li tỷ mỉ ( và biết rằng các đối thủ cạnh tranh không hề kém cạnh) và trả giá cho việc
này. Theo thống kê, hiện nay có khoảng 3700 nhóm lợi ích đặc biệt đăng kí vận động hành
lang.
Việc vận động hành lang được thực hiện ở tất cả các khía cạnh trên đất Mỹ từ kinh tế,
chính trị, pháp luật Đối với các nghị sĩ Quốc hội Mỹ thì vận động hành lang là hoạt động
cần thiết và không thêt tách rời đối với tiến trình lập pháp của Hoa Kỳ. Theo thống kê, có
hơn 90% nỗ lực của các lobby hướng vào giải quyết các vấn đề đối nội, tuy nhiên cung có
khoảng 600 chuyên gia thường xuyên làm việc với Quốc hội Mỹ về vấn đề đối ngoại. Đối
với tiến trình lập pháp, các lobby thường trực tiếp đưa ra các dự thảo luật hoặc đóng góp ý
kiến của mình cho các dự thảo luật và vận động để tranh thủ sự ủng hộ của các nghị sĩ
Quốc hội khác nhằm đạt được lợi ích của nhóm cộng đồng do mình đại diện. Về chính trị,
vận động hành lang ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình quá trình bầu cử của một quốc gia,
đặc biệt là ở Mỹ bầu cử theo phổ thông đầu phiếu và Hạ viện phải ra ứng cử định kì hai
năm một lần. Các cử tri có thể thể hiện sự ủng hộ của mình cho một nghị sĩ không chỉ bằng
12
các lá phiếu mà có thể bằng cả việc đóng góp tiền cho quỹ bầu cử của nhân vật ấy. Từ đó
các nghị sĩ quốc hội nhận ra rằng trách nhiệm của họ là làm hàI lòng các cử chi đã bỏ
phiếu cho họ. Để làm được điều đó, họ phải bỏ lá phiếu lập pháp phản ánh được phần lớn
mối quan tâm của các cử chi hoặc chuẩn bị để bào chữa không bị bỏ phiếu phản đối khi
thời gian bầu cử tới gần. Mặc dù các hạ nghị sĩ đương nhiệm thường được giới lãnh đạo
Hạ viện và Thượng viện chỉ thị bỏ phiếu theo quan điểm của Đảng nhưng họ vẫn chú ý tới
kết quả của các cuộc thăm dò dư luận quần chúng và quan điểm của các cử tri ở các quận
hoặc các bang của họ. Các hạ nghị sĩ đương nhiệm đặt tầm quan trọng rất lớn vào các quan
điểm chính sách được bày tỏ trong thư, các cuộc điện thoại, các thư điện tử, các cuộc gặp
gỡ cá nhân với những cử tri khu vực bầu cử. Cứ mỗi cá nhân gọi điện thoại hoặc viết một
lá thư cho quan chức do mình bầu ra có thể cho rằng có thêm 10 công dân được quyền bầu
cử khác ủng hộ quan điểm đó. Do vậy mà ảnh hưởng của vận động hành lang có thể được
nhân lên 10 lần. ở Mỹ, nếu một Nghị sĩ Quốc hội nhận được một số lượng lớn những ý
kiến phản hồi của cử tri về một vấn đề và nhà lãnh đạo yêu cầu ông ta bỏ phiếu ngược lại
với những ý kiến của cử chi, thường là tiếng nói của cử tri sẽ giành được sự ủng hộ cuối
2.1.3 TÁC DỤNG VÀ Ý NGHĨA CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
2.1.3.1 TÁC DỤNG
Sử dụng lobby giúp các cử chi có thể bảo đảm được lợi ích hoặc đạt được lợi ích của
mình. Đặc biệt là khi một số lượng lớn các cử chi có chung một lợi ích liên kết lại với nhau
thành những hiệp hội để bảo vệ lợi ích của mình. Các quan chức cũng như các chuyên gia
của hiệp hội sẽ xem xét các dự luật có liên quan, sau đó đưa ra các ý kiến đóng góp vào dự
thảo luật đó theo hướng có lợi cho quyền lợi của cả hiệp hội. Hoặc tự hiệp hội sẽ đưa ra
các dự thảo luật trình lên Quốc hội để bảo vệ quyền lợi của mình khi quyền lợi đó bị một
nhóm cộng đồng khác đe doạ.
Đảm bảo quyền lợi và mối quan tâm của các công dân trước khi một dự thảo luật trở
thành luật, nó cho phép cử tri được lên tiếng đây là một cách bảo đảm quyền công dân tại
Mỹ. Thông thường một dự thảo luật trước khi được quốc hội thông qua bằng việc bỏ phiếu
của các nghị sĩ thì các công dân đã trực tiếp góp ý kiến hoặc đại diện của họ là các chuyên
gia vận động hành lang đã góp ý kiến cho các nghị sĩ đó. Các nghị sĩ không thể không
14
quan tâm tới những ý kiến của các cử tri của mình, vì vậy việc họ có bỏ phiếu thông qua
hay không thông qua dự luật đó đã chịu sự góp ý của các cử tri đã bầu họ và nó đảm bảo
quyền lợi của nhóm cử tri này. Thông thường trong một quốc gia, lợi ích của nhóm cộng
đồng này sẽ là thiệt hại của cộng đồng khác nếu một dự thảo luật được thông qua.
Làm giảm áp lực về công việc trong các chương trình và dự án của chính phủ. Theo
nhận xét của giới chuyên môn nếu không có giới lobby, chính phủ Mỹ sẽ ngập đầu trong
các chương trình và các dự án. Các nghị sĩ Quốc hội sẽ không phải nghiên cứu, phân tích
các chương trình, dự án một cách cụ thể và chi tiết , họ chỉ cần xem xét tới ảnh hưởng của
chương trình hay dự án đó tới nhóm cử chi đã bỏ phiếu cho họ và nhiệm vụ của họ là
hướng các chương trình, dự án này theo hướng có lợi cho nhóm người đó. Việc này được
thực hiện với cả các chương trình, dự án mang tính quốc gia cũng như quốc tế.
Sử dụng lobby có thể dung hoà lợi ích giữa các nhóm cộng đồng. Các nhóm cộng đồng
có thể sử dụng lobby nhằm đạt được lợi ích của mình, tuy nhiên trong thực tế lợi ích của
các nhóm cộng đồng luôn mâu thuẫn với nhau vì vậy thường xảy ra tranh chấp giữa các
nhóm người này. Để giải quyết tranh chấp này, các bên có thể sử dụng sức ép từ các lobby
lang cũng là phương pháp giúp các bên tranh chấp chuyển từ đối đầu sang đối thoại, giúp
cho hai bên cùng có lợi. Về chính trị, sử dụng vận động hành lang có thể làm tăng cường
sự ủng hộ của các quốc gia khác, nhất là những nước có tầm ảnh hưởng rộng rãI trên thế
giới, điều này đặc biệt quan trọng trong tình hình bất ổn định của thế giới như hiện nay.
Vận động hành lang giúp các nước giảI quyết mối bất hoà trên bàn đàm phán, như các vấn
đề về chiến tranh, hạt nhân, từ đó tháo gỡ dần các mối bất đồng tạo điều kiện cho quan hệ
giũa các nước tiếp tục phát triển, tạo điều kiện cho thế giới ngày càng đi vào ổn định, tạo
môi trường thuân lợi cho việc hợp tác, phát triển giữa các quốc gia.
Như vậy vận động hành lang đã, đang và sẽ đóng góp rất nhiều cho sự ổn định hợp tác,
phát triển cho các tổ chức trong và ngoài nước cũng như sự hợp tác giữa các quốc gia. Tuy
nhiên nếu lam dụng vận động hành lang quá mức, sẽ nảy sinh nhiều bất đồng, làm cản trở
tới việc hợp tác phát triển của các bên. ĐIũu này đã và đang xảy ra khi mà các nhà vận
động hành lang, các tổ chức, chính phủ coi đạo đức là thứ yếu trong kinh doanh, chỉ bảo vệ
16
hay bảo hộ quyền lợi cho một nhóm người bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của dư luận.
Chính những hành động này sẽ làm tổn hại đến quan hệ hợp tác giữa các tổ chức, các quốc
gia.
2.1.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Đối với các chính phủ, vận động hành lang giúp họ giải quyết một cách có hiệu quả các
chương trình, dự án, các chính sách đối nội đối ngoại. Vận động hành lang giúp giảm thiểu
gánh nặng từ công việc giúp các quan chức chính phủ minh mẫn từ đó giúp họ làm việc có
hiệu quả hơn. Đồng thời vận dụng hành lang là một phương thức tốt để họ quyền và nghĩa
vụ đối với người dân thông qua việc bảo vệ cho lợi ích của một cộng đồng người, đồng
thời nó cũng đảm bảo quyền tự do được tham gia , đóng góp ý kiến vào việc hoạch định
chính sách chính phủ của các cử chi. Vận động hành lang giúp nhà nước tiết kiệm được
tiền và các nhà làm luật chỉ chờ việc quyết định phương án tối ưu.
Đối với các doanh nghiệp hoặc các ngành, thì vận động hành lang sẽ giúp họ bảo vệ lợi
ích của mình, chống lại sự cạnh tranh của các đối thủ khác. Thông qua vận động hành
lang, các tổ chức có thể gây áp lực đối với chính phủ từ đó đưa ra các đạo luật có lợi cho
hoạt động cũng như lợi ích của họ, đồng thời làm giảm lợi ích , lợi thế cạnh tranh của đối
lobby càng lớn hơn. Chính vì những lí do đó mà các nghị sĩ ở các tiểu bang miền Nam
không thể không bênh vực cho quyền lợi của các tập đoàn nuôi catfish. Tôi đồng ý với ý
kiến cho rằng: ngay cả Tổng thống Bush cũng không thể không quan tâm tới các lá phiếu
của cộng đồng nuôI cá catfish ( như cuộc bầu cử lần trước ông Bush chỉ thắng Al Gore
trên dưới 300 phiếu ở bang Florida). Đây là chiến lược hết sức đúng đắn và khôn ngoan
của CFA, để đạt được mục đích của mình do đã gắn lợi ích đó với lợi ích của các đại biểu
miền Nam. Hơn thế, dưới tác động của lobby, chính quyền liên bang đã chi 6 triệu USD để
mua catfish cho chương trình ăn trưa của các trường học, khoản tiền hỗ trợ này đã làm
tăng hình ảnh catfish Mỹ trên thị trường. Tháng 12/2001, Quốc hội Mỹ thông qua lệnh
cấm tạm thời về tên gọi catfish đối với sản phẩm cá filê đông lạnh của Việt Nam. Lí do mà
các nhà vận động hành lang của CFA đưa ra không phải là không có lý khi họ cho rằng:
Việt Nam đang lợi dụng thành quả tiếp thị của những người nuôi cá Mỹ, các nhà nuôi cá
18
Mỹ đã biết liên kết với nhau và mở chiến dịch tiếp thị cho thương hiệu catfish (chi phí đó
lên tới 4,5 triệu USD vào năm ngoái) và trong khi khởi kiện về tên gọi họ lại được chính
quyền liên bang hỗ trợ 6 triệu USD nhằm tăng cường hình ảnh catfish Mỹ. Ngoài ra với
cách lập luận này họ đã đánh trúng vào điểm yếu của cá Việt Nam, mặc dù cá của Việt
Nam cung là catfish nhưng chúng ta không có thương hiệu riêng cho sản phẩm này khi
xuất khẩu sang thị trường Mỹ, thêm vào đó, chiến lược tiếp thị đối với cá tra, basa của
chúng ta là hầu như không có, chỉ khi vụ kiện diễn ra thì mới có nhiều người biết đến sản
phẩm này của Việt Nam, nhiều người dân Mỹ còn viết thư hoặc gọi điện để tìm hiểu sản
phẩm này của Việt Nam. Khi Quốc hội Mỹ đưa ra lệnh cấm đối với tên gọi catfish và cá
của Việt Nam không hẳn là catfish thì không chỉ Việt Nam mà ngay cả dư luận Mỹ và thế
giới đều cho rằng đạo luật đó là phi lí nhưng không có lí do gì bắt bẻ họ vì quyết định đó
cũng một phần do sự thiếu kinh nghiệm của Việt Nam: kinh doanh trên thị trường Mỹ mà
không nắm rõ luật chơi.
Sau khi chiến thắng ở cuộc chiến về nhãn hiệu sản phẩm, CFA tiếp tục chuẩn bị để đưa
Việt Nam ra toà, lần nay CFA khởi kiện Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa. Ngay từ đầu
năm 2002, CFA đã tiến hành các bước đi để chuẩn bị kiện Việt Nẩm toà và trong các bước
di lần này CFA cũng đã đánh giá rất cao vai trò của vận động hành lang. Tháng 2/2002 các
vấn Phát triển đầu tư thương mại Mỹ, trụ sở tại Việt Nam) trong cuộc trả lời phỏng vấn
của VIETNAMNET: “ Tôi không khẳng định việc Việt Nam thất bại trong vụ kiện cá basa
là không sử dụng lobby. Vấn đề là ta phải dùng lobby để dàn xếp vụ việc ngoài toà án, tìm
phương thức giải quyết cho các bên cùng có lợi. Trong vụ kiện này, VASEP đã sử dụng
lobby không đúng cách, VASEP đã sử dụng lobby nhằm mục đích thắng kiện mặc dù đã
biết các vụ kiện trước Bộ Thương mại Mỹ thì kết quả là hơn 90% đều nghiêng về phía Mỹ
như vậy khác nào chúng ta đang đi vào “cõi chết”. Tôi cũng đồng ý với ý kiến của ông khi
cho rằng cái mà chúng ta thiếu trong vụ kiện này là thương lượng, tức là việc dàn xếp vụ
kiện này ngoài toà án. Đây là một cách tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của VASEP cũng như
tạo điều kiện cho đối phương cùng có lợi. Vậy vấn đề giải pháp nào có thể dung hoà được
lợi ích của cả hai bên? Để đưa ra được một giải pháp hoàn thiện là một việc không dễ dàng
20
nó phải dựa vào khả năng và tình hình thực tế của cả VASEP lẫn CFA, đồng thời giải pháp
đó phải đủ hấp dẫn để CFA gạt vụ kiện này sang một bên mà vẫn có thể giúp VASEP phát
triển được sản phẩm cá tra, cá basa trên thị trường Mỹ. TS Bùi Kiến Thành đã đưa ra giải
pháp đó là: Việt Nam đề xuất với Mỹ rằng hai bên hai bên sẽ hợp tác với nhau để phát
triển nghề nuôi cá basa trên sông Mississipi, Missouri, Tennesi ( đây là những con sông
lớn ở miền Nam nước Mỹ, không kém gì Tiền Giang, Hậu Giang của Việt Nam và hoàn
toàn có thể nuôi cá được) và cùng xuất khẩu sản phẩm này ra khắp thế giới. Theo tôi đây là
một giải pháp tương đối hấp dẫn, nó kết hợp được khả năng tài chính dồi dào của CFA
cùng với khả năng kĩ thuật trong việc nuôi thuỷ sản của Việt Nam như vậy lợi ích của cả
hai bên đều được đảm bảo, mặt khác giảI pháp này tạo điều kiện công ăn việc làm cho một
số lớn lao động Mỹ, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường khi nuôi cá trên dòng nước chảy
chứ không phải trên các ao tù, đầm lầy như ở Mỹ hiện nay. Tuy nhiên, tôi không đồng ý
với quan điểm của ông khi cho rằng việc gia nhập WTO không ảnh hưởng gì đến kết quả
của vụ tranh chấp này. Nếu Việt Nam đã là thành viên của WTO thì chắc chắn kinh
nghiệm kinh doanh quốc tế của chúng ta sẽ nhiều hơn so với hiện nay, tầm ảnh hưởng của
Việt Nam sẽ lớn hơn, nó tạo điều kiện cho quá trình vận động hành lang như thế cơ hội để
bảo đảm lợi ích cá tra, cá basa của Việt Nam sẽ tăng lên.
Sau khi nhận được kết luận cuối cùng của DOC, VASEP đã khởi kiện lên Toà án Thương
phẩm này của Việt Nam ra toà. Tại sao họ có thể làm được việc đó? Theo tôi đó chính là
sự đối sử không bình đẳng của một nước lớn với một nước nhỏ, một mặt họ kêu gào tự do
hoá thương mại, mặt khác họ lại bảo hộ cho các sản phẩm nội địa bất chấp sự phản đối của
dư luận quốc tế, và hậu thuẫn sau nó là một cơ chế bầu cử theo phổ thông đầu phiếu, là cơ
chế mà các nghị sĩ bất chấp vấn đề đạo đức trong kinh doanh, không quan tâm tới việc mất
công bằng đang xảy ra. Công việc của các nghị sĩ này chỉ là bảo đảm lợi ích cho các cử chi
đã bầu họ nhằm giữ được “chiếc ghế” mà họ đang ngồi bất chấp việc đạt được lợi ích đó là
đúng hay sai. Chính những hạn chế đó đã tạo điều kiện cho các nhược điểm của hoạt động
vận động hành lang nảy nở và phát triển. Và một khi các nhược điểm này được công nhận
thì việc bảo hộ thương mại càng trở nên dễ dàng đặc biệt là ở Mỹ, bất chấp việc nó đã đi
ngược lại với xu hướng phát triển của thế giới.
22
Tuy nhiên, đây là những điều thường thấy ở các nước lớn vì vậy muốn thâm nhập vào
thị trường các nước này chúng ta phải chấp nhận thực tế đó. VASEP thua kiện trên đất Mỹ,
mặc dù chúng ta đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ của dư luận Mỹ, của thế giới và một số
nghị sĩ Quốc hội Mỹ. Nhưng theo tôi, VASEP cũng phải xem xét lại cách mà họ đã hành
động trong vụ kiện, theo tôi VASEP đã quá tin tưởng vào việc DOC cũng như ITC sẽ xử
kiện một cách công bằng nên họ mới đưa ra quyết định theo đuổi vụ kiện cho tới cùng,
bằng chứng được thể hiện ngay từ cách họ vận động hành lang: vận động hành lang để
thắng kiện. Nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ đã trực tiếp đề nghị Quốc hội và các uỷ ban xem
xét lại những quyết định của mình, nhưng những đề nghị đó đã bị bác bỏ, như vậy có thể
khẳng định Việt Nam thua kiện chính là do thua ở cách vận động hành lang. Sau khi những
quyết định đầu tiên được đưa ra, VASEP vẫn tin tưởng vào sự đối xử công bằng của Mỹ,
điều này chỉ chứng tỏ sự non nớt trong kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của chúng ta.
Trong tiến trình của vụ kiện này, VASEP đã có những cơ hội để thay đổi cục diện nhưng
những cơ hội đó đều bị bỏ qua. Ví dụ như trong khi vụ kiện vẫn đang được tiến hành,
VASEP có thể thuê lobby vận động cho người tiêu dùng Mỹ và các doanh nghiệp nhập
khẩu cá tra, basa của Việt Nam thấy được thiệt hại của họ khi áp dụng thuế bán phá giá đối
với sản phẩm này của Việt Nam, mặt khác tăng cường hình ảnh của cá tra, basa trên thị
trường Mỹ, theo tôi, khi đó chính người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhập khẩu sản
Vận động hành lang trong vụ kiện này đã “bóp méo” sự thật. Thực chất trong vụ kiện
này Việt Nam không bán phá giá sản phẩm cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ, nhưng do
tác động của vận động hành lang, các Quốc hội Mỹ, cũng như các uỷ ban thương mại Mỹ
là DOC và ITC đã bất chấp sự thật đó, để bảo vệ cho sản phẩm trong nước có khả năng
cạnh tranh kém hơn.
Người tiêu dùng Mỹ sẽ phải tiêu thụ sản phẩm cá tra, basa filê đông lạnh của Việt Nam
với giá cao hơn do mức thuế chống bán phá giá cho sản phẩm này của Việt Nam là quá
cao, hoặc là phải tiêu dùng các sản phẩm catfish của Mỹ với chất lượng thấp hơn so với
sản phẩm của Việt Nam. Các nhà nhập khẩu cá tra, basa Việt Nam của Mỹ sẽ gặp khó
24
khăn khi phải chịu mức thuế nhập khẩu cao đối với sản phẩm này, chắc chắn sẽ làm giảm
lợi nhuận của họ.
Việc xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sang thị trường Mỹ trong thời gian tới sẽ
gặp nhiều khó khăn do mức thuế quá cao làm ảnh hưởng tới lượng xuất khẩu cũng như
doanh thu của sản phẩm này ở thị trường Mỹ. Và nó ảnh hưởng trực tiếp tới ngành thuỷ
sản và hàng ngàn hộ nuôi cá tra, cá basa của Việt Nam.
Do vận động hành lang, các đại biểu cũng như các cơ quan có liên quan của Mỹ đã ra
những quyết định không công bằng với cá tra, cá basa của Việt Nam, đI ngược lại với
những cam kết trong hiệp định thương mại song phương giũa hai nước, từ đó làm cản trở
quan hệ song phương giũa Mỹ và Việt Nam.
CFA đã sử dụng vận động hành lang một cách tháI quá, nhằm mục đích bảo hộ thương
mại cho sản phẩm của mình, trong cuộc chiến này vận động hành lang được sử dụng như
một phương thức bảo hộ các sản phẩm trong nước. Từ đó tiếp tục khơI mào cuộc chiến
bảo hộ thương mại, đI ngược lại với xu hướng toàn cầu hoá và CFA đang tiếp tục làm
giảm uy tín của Mỹ trên trường quốc tế.
Sử dụng vận động hành lang trong vụ kiện này tạo nên sự bất bình đẳng trong thương
mại quốc tế, đặc biệt là sự đối sử không ngang bằng giữa các nước phát triển và các nước
đang phát triển, trong đó phần lợi lại thường thuộc về các nước lớn.
Vận động hành lang trong vụ kiện này đã cho thấy rõ rằng, tác động của nó quá to lớn
và đã làm lu mờ vấn đề đạo đức trong kinh doanh. Bên có lí lẽ đúng chưa chắc đã là người