Những bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trường mỹ - Pdf 11


4
LỜI NÓI ĐẦU

Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ vừa được ký kết đã mở ra những cơ
hội làm ăn mới cho các thương nhân của cả hai nước Việt Nam và Mỹ. Đây
là một sự kiện hợp với tiến trình toàn cầu hoá và tự do thương mại đang
diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, Hiệp định được ký chưa ráo mực
thì chúng ta đã phải chứng kiến những hành độ
ng trái ngược hẳn với tinh
thần tự do cạnh tranh, tự do thương mại. Đó là việc xảy ra khi cá tra, cá
basa nhập khẩu vào thị trường nước Mỹ. Kể từ cuối năm 2000, Hiệp hội
các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ (CFA) tiến hành chiến dịch chống lại việc
nhập khẩu khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam vào thị trường này. Chiến
dịch này có lúc lắng dịu đi vài tháng, rồi có lúc lại sôi lên. Sự
ầm ĩ, nóng
bỏng của nó đã khiến người Mỹ gọi nó là "chiến tranh catfish" để so sánh
với "chiến tranh Hamburger", "chiến tranh ô tô" và "chiến tranh nước giải
khát" đã từng xảy ra trước đây trên thị trường này.
Các cuộc chiến tranh mà ta nhắc đến ở trên, nhìn chung, là biểu hiện
bên ngoài của cạnh tranh và xung đột thương mại. Đây là một hiện tượng
tự nhiên trong một thị trường cạnh tranh mà các đối thủ có s
ức mạnh kinh
tế. Hiện tượng ít xảy ra nhưng một khi đã diễn ra thì gây thiệt hại vô ích về
thời gian và nguồn lực của các bên. Tuy vậy nó cũng là một hiện tượng
quan trọng đáng chú ý và cần được nghiên cứu. Vì những lý do như vậy,
chuyên đề được cống hiến cho việc nghiên cứu xem xét hiện tượng xung
đột thương mại với biểu hiện gần đây nhất của nó là CFA tiế
n hành cuộc
"chiến tranh catfish" chống các nhà xuất khẩu Việt Nam cũng như người
nuôi cá Việt Nam.
6
CHƯƠNG I. ĐẠI CƯƠNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ VÀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I . THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
1. Thương mại quốc tế
1.1 Định nghĩa. Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ
giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao
đổi thường vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt
động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới. Hoạt
động thương mại quốc tế ra
đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó giữ vị trí
trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Sở dĩ thương mại quốc tế có
vai trò quan trọng như vậy bởi vì kết quả của các quan hệ kinh tế quốc tế
khác cuối cùng được thể hiện tập trung trong thương mại quốc tế và quan
hệ hàng hoá-tiền tệ vẫn là quan hệ
phổ biến nhất trong các quan hệ kinh tế
quốc tế.
(Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội 2002)
1.2 Nội dung. Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau.
Trên giác độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương. Nội dung
của thương mại quốc tế bao gồm:
- Xuất và nhập khẩu hàng hoá hữu hình
- Xuất và nhập khẩu hàng hoá vô hình
- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nướ

cạnh tranh. Vậy để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nước mình chính
quyền nước sở tại có thể đưa ra luật cấm bán hàng nhập khẩu với giá thấp
hơn giá bán tại nước s
ản xuất. Ta có thể thấy rõ đó là một tranh chấp
thương mại phát sinh giữa hai nền kinh tế khác nhau: nền kinh tế thị trường
và nền kinh tế không có yếu tố thị trường.
2.2 Nguyên nhân. Nguyên nhân của các tranh chấp thương mại rất đa
dạng. Về cơ bản nó có nguyên nhân sau:
Chính sách bảo hộ mậu dịch, bảo hộ các ngành công nghiệp trong
nước. Chính phủ các nước có thể thực hiện một hệ
thống chính sách mang
tính bảo hộ mậu dịch. Các chính sách này tạo cho các thương nhân và nhà

8
sản xuất trong nước những lợi thế nhất định và khiến cho các thương nhân
và công ty nước ngoài những khó khăn trong việc hoạt động ở thị trường
này. Các chính sách đó gồm có chính sách thuế xuất nhập khẩu, phí và lệ
phí, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, bao bì đóng gói, môi trường…
Sự “hiểu nhầm” của các bên trong quá trình buôn bán. Khác biệt về
các đơn vị số lượng, khối lượng… nói chung có thể xẩy ra. Mộ
t ví dụ là hệ
thống đo lường tấn: có 3 kiểu đo khác nhau “long ton” (dùng bởi Anh)
ngang với 2240 pao=1016,05 kg, “metric ton” hoặc “tonne” (quy chuẩn
quốc tế) bằng 1000 kg, “short ton” (dùng ở Mỹ) bằng 2000 pound=907,19
kg. Nếu trong hợp đồng và bản dịch hợp đồng không quy ước rõ đơn vị
“tấn” theo hệ nào thì có thể gây tranh chấp, hiểu nhầm và dẫn tới vi phạm
hợp đồng. Khác biệt về tập quán thương mại có thể xẩy ra giữa hai bên
thuộc hai hệ thống kinh tế có trình độ phát triển khác nhau hoặc cách biệt
về mặt văn hoá, ngôn ngữ. Những thói quen mà bên này có thể coi là tất
nhiên nhưng bên kia không hề biết tới. Ví dụ về ngành dệt may, giầy dép:

quyền. Các chính phủ đều có chú ý ngăn chặn và trừng phạt các hoạt động
này. Các hiệ
p ước quốc tế, như thoả ước tổng quát về thương mại và thuế
quan (GATT) đều cho phép làm như vậy.
Sự khác biệt giữa bán phá giá với bán hàng giá rẻ do giá thành thấp,
nhìn bề ngoài là rất khó xác định. Một khía cạnh của tranh chấp thương mại
là xác định sự khác biệt đó. Khi có tranh chấp, một bên sẽ cố buộc tội đối
thủ cạnh tranh của mình là có bán phá giá. Bên kia sẽ chứng minh là mình
không bán phá giá mà là bán hàng giá rẻ, phù hợp v
ới chi phí sản xuất của
mình.

1. Luật chống bán phá giá của Mỹ
Luật của Mỹ quy định rằng: nếu hàng hoá bán vào Mỹ thấp hơn giá
quốc tế hoặc thấp hơn giá thị trường thì người sản xuất ở Mỹ có thể kiện ra
toà, và như vậy, nước bị kiện sẽ phải chịu thuế chống bán phá giá (Ad) cao
không chỉ đối với chính hàng hoá bán phá giá mà còn đối với t
ất cả các

10
hàng hoá khác của nước đó bán vào Mỹ. Giá thị trường của hàng hóa là giá
mà hàng hóa đó thường được bán trên thị trường nước người sản xuất.
Bộ thương mại Mỹ (DOC), Uỷ ban thương mại quốc tế (ITC), và
Tổng cục hải quan Mỹ cùng có trách nhiệm trong việc thi hành luật chống
bán phá giá. DOC chịu trách nhiệm quản lý chung về luật bán phá giá và
điều tra về việc phá giá của nước ngoài cho hàng nhập khẩu. Nếu đi
ều tra
xác định sự việc là có thật, DOC sẽ quy định mức thuế đánh vào hàng hóa
đó. ITC thì xác định liệu sự việc đã, hoặc có thể , ảnh hưởng đến sản xuất
trong nước hay chưa, hoặc liệu một ngành sản xuất trong nước có bị ảnh

ổng sản lượng của những công ty đi kiện phải chiếm hơn 50% tổng
sản lượng của những công ty không kiện (trong EU); đơn kiện sẽ bị bác bỏ
nếu sản phẩm bán phá giá vào EU chỉ chiếm đưới 1% (sản phẩm của một
nước) hoặc dưới 3% thị phần tại EU (nếu là sản phẩm do nhiều nước cùng
xuất vào EU). Sau khi thu thập thông tin, EC sẽ tính ra giá thành sản xuất
của s
ản phẩm, giá bán sản phẩm trong nước (bao gồm chi phí sản xuất,
khấu hao, lợi nhuận…), giá xuất khẩu (giá CIF) để xem có bán phá giá hay
không và tính ra mức độ phá giá (còn gọi là biên độ phá giá, là số lượng mà
giá trị thông thường, hay mức giá bán trong nước vượt quá giá trị xuất
khẩu). Nếu sản phẩm không bán trong nước hoặc bán trong nước nhưng
chiếm sản lượng ít hơn 5% thì EC sẽ so sánh với giá bán tương tự của một
công ty tương tự. Còn nế
u doanh nghiệp tỏ ra bất hợp tác (từ chối tiếp cận,
không cung cấp thông tin…) thì EC sẽ ban hành các phán quyết dựa trên
các dữ liệu sẵn có. Thông thường, nếu nhà xuất khẩu bị kiện bán phá giá
mà đang hoạt động ở một nước có nền kinh tế thị trường thì EC sẽ trực tiếp
sang điều tra. Nếu nhà xuất khẩu thuộc nước không có nền kinh tế thị
trường thì EC sẽ chọn mộ
t nước thứ ba có nền kinh tế thị trường để tính
toán mức giá của sản phẩm đó. Tuy nhiên, EC đã ban hành quy định số
2238/2000 (ngày 9/10/2000) xác định 5 nước tuy chưa được công nhận có
nền kinh tế thị trường nhưng đã có các công ty hoạt động theo cơ chế thị
trường là: Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Ukraine, Kazakhstan. Như vậy, các
doanh nghiệp này sẽ được EC trực tiếp sang điều tra nếu có kiện tụng bán

12
phá giá. Việc xác minh cơ chế thị trường là nhằm chứng tỏ rằng công ty
hoạt động theo đúng các điều kiện của thị trường và hệ thống sổ sách tài
chính của họ là minh bạch. Quy chế về kinh tế thị trường có vai trò quan

ước xuất

13
khẩu; hoặc việc bán hàng xuất khẩu sang một nước thứ ba, ở mức giá thấp
hơn chi phí sản xuất cộng với các chi phí khác có thể được xem là không
nằm trong tiến trình thương mại thông thường. Việc áp dụng được thực
hiện chỉ khi nào xác định được rằng việc bán hàng như vậy nằm trong một
khoảng thời gian kéo dài với một số lượng đáng kể và ở mức giá không cho
phép việ
c thu hồi tất cả các chi phí trong khoảng thời gian hợp lý. Khoảng
thời gian kéo dài thường là 1 năm nhưng trong mọi trường hợp sẽ không ít
hơn 6 tháng và việc bán thấp hơn chi phí sẽ được xem là bán với một khối
lượng đáng kể trong một khoảng thời gian như vậy. Giá xuất khẩu sẽ là
mức giá thực được trả hay phải trả cho sản phẩm khi sản phẩm được xuất
khẩ
u từ nước xuất khẩu vào EU. Trong trường hợp không có giá xuất khẩu
hoặc dường như mức giá xuất khẩu không thể tin cậy được do có sự liên
kết một thoả thuận mang tính đền bù giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu
hay một bên thứ ba, giá xuất khẩu có thể được tính toán trên cơ sở mức giá
tại những mặt hàng nhập khẩu đó lần đầu tiên được bán lại cho một ng
ười
mua độc lập hoặc không được bán lại theo những điều kiện mà theo đó sản
phẩm đã được nhập khẩu thì giá xuất khẩu sẽ được tính toán trên bất kỳ
một căn cứ hợp lý nào...
Việc xác định mức thiệt hại sẽ dựa trên những chứng cứ tích cực và
bao gồm việc xem xét một cách khách quan (cả lượng hàng nhập khẩu
được bán phá giá và tác động của vi
ệc bán phá giá hàng nhập khẩu đối với
giá cả trên thị trường EU của những sản phẩm tương tự). Về lượng hàng
nhập khẩu được bán phá giá sẽ phải xem xét liệu đã có một sự tăng đáng kể

Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam sang
Mỹ đạt 930 triệu USD, tăng mạnh so với năm 2001. Nhưng thực tế, con số
này còn quá nhỏ so với các nước trong khu vực (thậm chí không bằng
Campuchia với 1 tỷ USD). Nay nếu bị chuyển từ xuất khẩ
u tự do sang xuất
khẩu có điều kiện–theo hạn ngạch giống như qua EU–doanh ngiệp Việt
nam tất nhiên sẽ chịu thiệt thòi. Việt Nam đang mong đợi cuộc đàm phán
sắp tới đi đến 1 trong 2 thoả thuận: hạn ngạch Mỹ đưa ra sẽ tăng thêm 15-
20% so với lượng hàng đã xuất sang nước này năm 2002 hoặc áp hạn
ngạch tương đương với Thái Lan, Singapore… Trong cuộc thương lượ
ng,
phía Việt Nam sẽ có sự tham gia của Tổng Công ty Dệt may và các quan
chức thương mại, phía Mỹ chủ yếu là các quan chức thương mại, không có
doanh nghiệp.
Sau hơn nửa tháng bàn thảo tại Washington, ngày 25/4/2003, đại
diện đàm phán hai nước vừa đặt bút ký kết Hiệp định Dệt may Việt-Mỹ.

16
Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực từ 1/5/2003 với mức hạn ngạch xuất
khẩu cho hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ năm nay là 1,7 tỷ USD. Mức
quota nói trên sẽ được tăng thêm 7%/năm cho các năm tiếp theo.
Có tất cả 38 mặt hàng dệt may của Việt Nam bị giới hạn lượng xuất,
trong đó có quần và áo sợi bông, hai sản phẩm quan trọng nhất đối với thị
trường Mỹ
. Hạn ngạch cho các mặt hàng này lần lượt là 84 triệu và 168
triệu chiếc. Trong trường hợp cả hai phía không đột ngột chấm dứt thực thi
hiệp định, việc áp dụng hạn ngạch sẽ tiếp tục kéo dài đến cuối năm 2004.
Nếu đến thời điểm đó mà Việt Nam chưa gia nhập WTO, hiệp định sẽ có
hiệu lực thêm 1 năm nữa. Nhiều nhà nhập khẩu Mỹ t
ỏ ra không hài lòng

Tại CITT, đại diện Hiệp hội Da giày Việt Nam cùng các bộ, ngành
và Thương vụ Việt Nam đã tham gia phiên điều trần, trả lời các câu hỏi của
CITT và luật sư biện hộ cho SMAC. Phía Việt Nam đã được những người
tham dự, đại diện người tiêu dùng và các nhà nhập khẩu Canada ủng hộ.
CITT đã ra phán quyết cuối cùng ngày 7/1/2003 khẳng định mặt hàng giày
và đế giày không thấ
m nước có nguồn gốc hoặc được xuất khẩu từ Việt
Nam không gây thiệt hại và cũng không đe dọa ngành sản xuất giày
Canada, và bác bỏ đơn kiện của SMAC.
(Nghĩa Nhân , vnexpress.net/vietnam/kinhdoanh, ngày 9/1/2003)

18
CHƯƠNG II. NỘI DUNG VỤ KIỆN CÁ TRA, CÁ
BASA GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ
Đối với một số doanh nghiệp Việt Nam, Hiệp định Thương mại Việt-
Mỹ đã trở thành một cơ hội tiềm năng cho việc xuất khẩu hàng hoá Việt
Nam vào thị trường Mỹ. Cơ hội này, nếu căn cứ trên cơ sở thuế suất được
giảm thì sẽ mở ra một kênh thị trường thường xuyên lên đến hàng tỷ USD
mỗi năm cho các doanh nghiệp Việ
t Nam. Tuy nhiên, mọi việc không đơn
giản như chúng ta nghĩ cho dù chúng ta có lợi thế so sánh đi chăng nữa.
Mặt hàng cá basa, cá tra đã thu được những thắng lợi ban đầu trên thị
trường Mỹ nhưng người Mỹ không chấp nhận điêù đó và họ phản công
theo cách mà họ vẫn làm: kiện bán phá giá. Thời gian qua, sự kiện Hiệp hội
chủ trại cá nheo Mỹ (CFA) chính thức đệ đơn dày hơn 200 trang khởi kiện
53 doanh nghi
ệp Việt Nam bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trường Mỹ
đã trở thành trung tâm điểm chú ý của dư luận trong và ngoài nước. Vậy sự
thật xung quanh vấn đề này là như thế nào? Các doanh nghiệp Việt Nam có
bán phá giá cá tra và cá basa không? Vụ kiện này sẽ kết thúc ra sao? Trước

nh nghĩa “catfish”
Thực ra thì catfish là gì vậy? Từ điển Oxford định nghĩa: catfish là
cá nước ngọt có các sợi râu giống như ria ở quanh mồm. Về mặt khoa học,
Catfish được dùng để chỉ tất cả các loài cá da trơn (không có vẩy) gồm cá
trê, cá tra, basa, cá lăng, cá bông lau v.v... Theo hệ thống phân loại ngư
học, tất cả các loại cá trên thuộc bộ cá Nheo (Silurifemes) gồm khoảng
2500 đến 3000 loài cá khác nhau, phân bố khắp các vùng nước ngọt, nước
mặn và nước lợ trên toàn thế giới. Họ cá Nheo ở Mỹ là Ictaluridae, loại cá
nuôi ở Mỹ là Ictalurus punctatus còn cá tra (Pangasius hypophthalmus) và
cá basa (Pangasius bocourty) được nuôi phổ biến ở đồng bằng Sông Cửu
Long và nhập khẩu vào Mỹ là thuộc họ cá Da trơn Châu á (Pangasidae).
Theo thông lệ, cả cá nheo Mỹ và cá tra, cá basa đều có quyền mang tên
catfish. Trên thực tế rất nhiều nhà hàng Mỹ đã dùng cái tên này cho món cá
mà nguyên liệu là cá tra hay cá basa Việt Nam. Có điều là, khi mà cá Việt
Nam nhập vào Mỹ nhiều lên, thay chỗ của cá nheo Mỹ thì các ch
ủ trại nuôi
cá của Mỹ không ngồi yên. Tổ chức của họ là Hiệp hội các chủ trại nuôi cá

20
nheo Mỹ (CFA) đã tiến hành nhiều biện pháp cả chính thức lẫn không
chính thức nhằm phản đối và chống lại sự có mặt của cá Việt Nam ở Mỹ.

3. Những bước suy tính đầu tiên cho vụ kiện
Được CFA tài trợ, Viện Cá Nheo Mỹ tiến hành một chiến dịch quảng
cáo rầm rộ với nội dung bài xích cá Việt Nam và kêu gọi sử dụng cá nheo
Mỹ, như là: “Đừng bao giờ tin vào sản phẩ
m catfish ngoại quốc”, rồi thì
“Người Mỹ ăn cá nheo Mỹ” và “Catfish nuôi của Mỹ” v.v... tạo ra một
không khí thù địch đối với các sản phẩm Việt Nam. Họ tung ra dư luận là
cá catfish của Việt Nam rẻ là do nuôi không đảm bảo các tiêu chuẩn vệ

Zoellick, đại diện thương mại Mỹ, kêu ca về việc cá tra và cá basa nhập
khẩu từ Việt Nam gây thiệt hại cho nghề nuôi cá nheo Mỹ và kiến nghị
Chính phủ Mỹ phải có biện pháp xử trí. Ngày 11/7/2001, các thượng nghị
sĩ bang Mississipi Ronnie Shows và Bennie Thompson cùng với thượng
nghị sĩ bang Arkansas Marion Barry-vâng, chính người tuyên bố về chất
độc da cam trong cá của Việt Nam, đã kêu gọi Quốc hội thông qua dự luật
H.R.2439 “Ghi nhãn về nguồn gốc xuất xứ
” đối với cá nuôi nhập khẩu
trong khâu bán lẻ, với những lập luận công khai bôi nhọ sản phẩm của
nước ta. Tuy nhiên, dự luật này không được thông qua do Thượng viện Mỹ
đã bác bỏ một dự luật tương tự đối với sản phẩm nông nghiệp nuôi trồng.
Sau đó, ngày 15/8/2001, nghị sĩ Mỹ Mike Ross, một trong những
người bảo trợ chính cho dự luật H.R.2439 đã gửi thư đề ngh
ị cho biết các
biện pháp mà Việt Nam đã thực hiện đối với việc kiểm soát ghi nhãn nhập
khẩu các sản phẩm cá xuất khẩu vào Mỹ. Ngày 17/8/2001, Thứ trưởng Bộ
Thuỷ sản Việt Nam Nguyễn Thị Hồng Minh đã có thư thông báo về các
biện pháp mà Việt Nam đã và đang thực hiện về vấn đề này. Ngày
27/9/2001, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm của Mỹ (FDA) đề
nghị gửi mẫu nguyên con của các loại cá da trơn Việt Nam cho Mỹ và đã
được đáp ứng ngay. Nhưng sự việc không chỉ dừng lại ở đó.
Ngày 5/10/2001, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật H.R.2964 chỉ cho
phép sử dụng tên “catfish” cho các loài cá thuộc họ Ictaluriadae, thực chất
là cho riêng loài cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus. Catfish vốn là tên gọi

22
chung từ lâu của hơn 2500 loài cá khác nhau và được sử dụng trên toàn thế
giới. Hành động này của Hạ viện Mỹ có thể nói là là một hành động hiếm
thấy xưa nay, thế giới không thể chấp nhận được. Điều này cũng tạo nên
tiền lệ nguy hiểm cho các nước khác trong việc đặt ra các rào cản thương

định chi 6 triệu USD để mua catfish cho chương trình ăn trưa của các
trường học. Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá basa và cá tra sang Mỹ từ năm
1996. Năm 1998, lượng cá file catfish không xương đông lạnh của Việt
Nam xuất sang đây mới chỉ vẻn vẹn 260 tấn. Sự thành công bất ngờ này đã
gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà nuôi catfish Mỹ và họ kết tội rằng,
cá Việt Nam thắng lớn chủ yếu nh
ờ sự thay đổi về chiến lược tiếp thị. Việt
Nam thôi không gọi sản phẩm của mình bằng cái tên basa và tra nữa mà
bắt đầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Mỹ với nhãn hiệu basa catfish. Sự
xuất hiện của sản phẩm cá da trơn giá rẻ từ Việt Nam đã khiến tổng giá trị
catfish bán ra của các nhà nông nghiệp Mỹ giảm mạnh, từ 446 triệ
u USD
năm 2000 xuống còn 385 triệu USD năm 2001.
Các nhà nuôi catfish Mỹ càng thêm điêu đứng khi sản phẩm của Việt
Nam thường có giá rẻ hơn từ 0,08 đến 1 USD/pound. Phó Chủ tịch điều
hành CFA Hugh Warren quy chụp cho những lô cá xuất khẩu của Việt nam
này là những sản phẩm rẻ tiền, kém chất lượng mà người ta không thể nào
tìm thấy ở một xưởng sản xuất cỡ gia đình như các trại cá của Mỹ. Ông này
cho rằng, mặc dù sản phẩm hấp dẫn các nhà hàng, khách sạn, nhưng
"những nhà hàng, khách sạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý tới
chất lượng sản phẩm". Những người nuôi cá catfish Mỹ không thể nào chạy
đua về giá với sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam bởi chỉ chi phí đầu vào
(đặc biệt là nhân công và thuế) quá cao. Trước sức ép của cá da trơn đến từ
Việt Nam, giá catfish M
ỹ đã rớt thê thảm từ 0,74 USD/pound năm 2000
xuống còn 0,58 USD, thậm chí có lúc chỉ khoảng 0,20 USD/pound. Theo
Phó Chủ tịch Warren: "mức giá như vậy không đủ bù cho chi phí sản xuất.
ít nhất phải bán được 65-70 cent/pound, may ra người nuôi cá mới có thể
hoà vốn".
Và hành động tối hậu, 3 giờ chiều ngày 28/6/2002 (tức 3 giờ sáng

(th
ứ sáu, thứ bảy, chủ nhật). Là đơn kiện nhưng khối lượng khá đồ sộ với
hơn 200 trang kèm theo 37 phụ lục, trong đó phân tích chi tiết về tình hình
thị trường cá nheo Mỹ, thị phần cá da trơn filê đông lạnh của Việt Nam tại

25
Mỹ cũng như ảnh hưởng của sản phẩm "rẻ tiền" (theo cách gọi của CFA)
đối với ngành sản xuất trong nước.
Tiếp đó, đến ngày thứ hai đầu tuần (2/7/2002) , hai nghị sĩ Mike
Ross và Ronnie Shows, đại diện cho CFA lại gửi thư trực tiếp đến bà
Deanna Tanner Okim, Chủ tịch Uỷ ban Hiệp thương Quốc tế Mỹ nên luận
điểm: "Đại diện cho những người nuôi catfish Mỹ
, chúng tôi khẩn cấp đề
nghị Uỷ ban cân nhắc một cách có thiện chí đối với đơn kiện của CFA về
việc cá basa, ca tra filê đông lạnh nhập từ Việt Nam được bán phá giá, gây
cạnh tranh thiếu lành mạnh trong kinh doanh mặt hàng này. Việt Nam đang
được bán tại thị trường Mỹ với mức giá thấp hơn nhiều giá trị thực và gây
thiệt hại lớn đối với các nhà nuôi trồng và chế biến catfish trong nước". Lá
thư dài 2 trang này còn giãi bày lý do tại sao CFA lại phải đi kiện những
nhà xuất, nhập khẩu cá da trơn đông lạnh Việt Nam. Trong đó, nói đi nói
lại việc cá da trơn Việt Nam cố tình được nhập vào Mỹ dưới cái tên catfish
khiến cho ngành sản xuất trong nước lao đao và quy chụp đó là "một trong
những kiểu kinh doanh thiếu lành mạnh mà các nhà nhập khẩu cá tra, basa
đông lạnh từ Việt Nam áp dụng để đột nhập vào thị tr
ường catfish Mỹ".
Còn việc doanh số bán cá tra, basa filê đông lạnh Việt Nam liên tục tăng
trong những năm qua, lá thư này cho rằng, đó là nhờ việc áp dụng mức giá
bán quá ư bất hợp lý. Từ luận điểm này, hai nghị sĩ Mike Ross và Ronnie
Shows đưa đến kết luận: "Luật chống bán phá giá hiện nay là hiệu pháp
duy nhất mà ngành sản xuất trong nước có thể trông cậy để chống lại việc

được bán phá giá trên thị trường, chiểu theo điều 731 và 732 (b) của Điều
luật Thuế quan Mỹ năm 1930". Ngay trong phần đầu của đơn kiện, Akin
Gump không quên khuyến cáo về việc phải tuyệt đối bảo mật thông tin
trong lá đơn nhằm "bảo đảm lợi thế cạnh tranh" trong vụ kiện này cho
CFA.
Tập tài liệu kèm theo lá đơn dài hơn 60 trang, gồm 5 phần với nội
dung: thông tin chung nhất liên quan t
ới vụ kiện; dẫn chứng và lý lẽ chứng
tỏ cá filê đông lạnh nhập từ Việt Nam được bán với giá thấp hơn giá trị
thực, trong đó có so sánh giá bán cá trên thị trường Mỹ với chuẩn mực giá
thành của nền kinh tế phi thị trường hiện nay của Việt Nam và so sánh với
mức giá của ấn Độ (một nước có nền kinh tế và trình độ phát triển tương

27
đương với Việt Nam); những tính toán về giá trị thực của sản phẩm (bao
gồm các chi phí đầu vào như tiền mua cá nguyên liệu, phần hao hụt, tiền
nước, điện, các nhiên liệu khác, chi phí đóng gói sản phẩm, nhân công và
các chi phí sản xuất khác), giá xuất khẩu và khoảng chênh lệch bán phá giá
(ước tính); chứng cớ và lập luận cho quan điểm rằng: chính cá tra, basa filê
đông lạnh nhập từ Việt Nam đã gây tổn hại cho ngành sản xuấ
t trong
nước… Kèm theo các tài liệu trên là bản chứng thực của đại diện Akin
Gump, bà Valerie A. Slater (với tư cách luật sư bên nguyên đơn) và 5 cam
kết viết tay của Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên CFA nhằm chứng
nhận rằng những thông tin mà họ đưa ra kiện là hoàn toàn không ngược lại
sự thật.
(Thanh Thuỷ, Thanh Hải, vnexpress.net ngày 9/7/2002 )

2. Vụ kiện cá basa đang có chiều hướng tốt cho Việt Nam
Ngày 17/7/2002, đại diện của VASEP đã lên đườ

không. Nhưng có gây thiệt hại vẫn chưa có nghĩa là bán phá giá. Sẽ có điều
tra về phá giá sau đó. Vụ kiện có thể kéo dài 9 tháng đến 1 năm. Các bang
phía nam thì ủng hộ CFA, nhưng các bang khác thì cho rằng đây là một vụ
kiện vô lý. Trước đây, CFA rêu rao rằng: "Cá Việt Nam giống cá Mỹ như
con mèo gi
ống con bò". Giờ họ quay lại nói rằng con mèo ấy đang gây hại
cho con bò. Đó là sự tráo trở trong lập luận mà không ai, kể cả người Mỹ
ưng cả. Tuy nhiên, CFA sẽ được sự ủng hộ của chính trường các bang phía
nam vì đang ở giai đoạn tranh giành phiếu bầu. Các nhà nhập khẩu thì cho
rằng lý lẽ của CFA không đúng, bởi đây là hai nhóm cá khác nhau, tiêu thụ
trên thị trường khác nhau. Một nhà nhập khẩu Mỹ đại diệ
n cho Công ty
Maritime (bang Masachusette) có truyền thống buôn bán cá từ 4 đời nay,
cho rằng basa và catfish tiêu thụ ở 2 khu vực thị trường khác nhau, không
phải là sản phẩm thay thế nhau mà chỉ mang thêm sự lựa chọn cho khách
hàng. Catfish chủ yếu tiêu thụ ở các bang miền nam nước Mỹ, thị trường
hạn chế hơn cá basa nhiều. Việc CFA chống phá một loại cá rất lạ, mới
nhập khẩu, thị phần nhỏ sẽ làm người tiêu dùng Mỹ tìm hiể
u xem lý do và
họ sẽ biết cá basa Việt Nam là loại cá ngon, rẻ. Đó là mặt lợi. Nhưng Việt
Nam cũng như các doanh nghiệp Mỹ sẽ phải tốn phí nhiều.

Trích đoạn Mỹ sẽ tiếp tục vụ kiện bán phá giá cá basa DOC cân nhắc xác định cơ chế nền kinh tế Việt Nam CFA đưa thêm luận điểm chống lại cá basa Việt Nam DOC áp thuế bán phá giá cá basa Việt Nam PHỤ LỤC 8 QUY TRÌNH KỸ THUẬT CƠ BẢN NUÔI CÁ TRA, CÁ BASA
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status