Lời giới thiệu
Thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 30-7-2005, của Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về đổi mới, nâng cao chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh); Theo Quyết định số 100 - QĐ/TW, ngày 22-10-2007 của Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X); Nghị định số 129/2008/NĐ-CP,
ngày 17-12-2008 của Chính phủ; Quyết định số 184-QĐ/TW, Thông báo kết
luận số 181-TB/TW, ngày 03-9-2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá
X), Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có nhiệm vụ nghiên
cứu xây dựng, ban hành, hướng dẫn và thống nhất quản lý chương trình đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân
cấp cơ sở ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 29-7-2009, Giám đốc Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 1845/QĐHVCT- HCQG về việc ban hành “Chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản
lý của Đảng, chính quyền đoàn thể nhân dân cấp cơ sở” (hệ Trung cấp lý luận
chính trị - hành chính) và tổ chức viết giáo trình. Chương trình, giáo trình này
thay cho chương trình, giáo trình Trung cấp lý luận chính trị và được thực hiện
thống nhất ở tất cả các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ
ngày 01-9-2009.
Giáo trình này do các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, giảng viên của Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ
nghiên cứu của một số bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương biên soạn.
Dưới sự lãnh đạo của Ban Giám đốc, sự chỉ đạo của Hội đồng chỉ đạo biên
soạn chương trình, giáo trình Học viện, Ban chủ nhiệm nghiên cứu xây dựng
chương trình, biên soạn giáo trình gồm: TS Trần Ngọc Uẩn, chủ nhiệm; các
phó chủ nhiệm và uỷ viên là PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm, PGS.TS Trần Văn
Phòng, TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, PGS .TS Lê Quý Đức.
Trong quá trình biên soạn và biên tập, khó tránh khỏi thiếu sót, chúng
tôi rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các đồng chí.
Ban chủ nhiệm Chương trình, giáo trình
yếu trên thế giới và biến các nước này thành thuộc địa. Với sự cạnh tranh
giành giật các thuộc địa và khu vực ảnh hưởng làm gay gắt thêm mâu thuẫn
vốn có của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nảy sinh mâu thuẫn mới: mâu thuẫn
giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc. Chính sách thực dân tàn bạo
của chủ nghĩa đế quốc đối với các thuộc địa cùng với sự áp bức, bóc lột nặng
nề đối với nhân dân lao động ở trong nước thuộc địa đã bộc lộ bản chất phản
động của chủ nghĩa đế quốc. Phong trào chống đế quốc giành độc lập trở thành
một nội dung lớn của phong trào cách mạng thế giới, một vấn đề có tính thời đại.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã làm biến đổi sâu
sắc tình hình thế giới. Cuộc cách mạng đó đã chặt đứt khâu yếu nhất trong hệ
thống đế quốc chủ nghĩa, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người - thời đại
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng tháng Mười Nga không chỉ ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến
cách mạng vô sản diễn ra ở các nước tư bản, mà còn lan toả sâu rộng đến các
nước thuộc địa, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh tự
giải phóng. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu á đầu thế kỷ XX
phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến phong trào yêu nước Việt Nam.
Ngày 01-9-1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược và từng
bước thôn tính Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn từng bước thoả hiệp và đi
đến đầu hàng hoàn toàn (bằng các điều ước năm 1862, 1874, 1883, 1884). Với
3
điều ước Patơnốt năm 1884, nước ta trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là
vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”1.
Chính sách bóc lột, cai trị của thực dân Pháp đã làm biến đổi sâu sắc xã
hội Việt Nam.
Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp đẫm máu các
phong trào yêu nước của người Việt Nam; xây dựng hệ thống chính quyền
(1897-1914) và tiếp đó kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929).
Những cuộc khai thác thuộc địa lớn đó, Pháp đã biến Việt Nam nói riêng và
Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chính
quốc, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người
bản xứ cùng nhiều hình thức thuế khoá nặng nề. Điều đó đã làm mâu thuẫn
giữa các tầng lớp nhân dân ta với thực dân Pháp càng thêm sâu sắc, đồng thời
cũng dẫn tới những biến đổi trong cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam.
Về cơ cấu xã hội: giai cấp địa chủ phong kiến bị phân hoá, giai cấp công
nhân, giai cấp tư sản Việt Nam và các tầng lớp mới ra đời.
Giai cấp địa chủ phong kiến: một bộ phận cam tâm làm tay sai cho Pháp
để duy trì quyền lợi của họ; Một bộ phận khác nêu cao truyền thống và tinh
thần dân tộc khởi xướng và lãnh đạo các phong trào yêu nước chống Pháp để
giành độc lập và bảo vệ chế độ phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương;
Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân Pháp và chống
triều đình phong kiến bán nước; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh
theo lối tư bản chủ nghĩa.
Giai cấp nông dân là thành phần đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam
(chiếm gần 90% dân số). Dưới chế độ thuộc địa, nửa phong kiến, nông dân bị
đế quốc, phong kiến và tư bản bóc lột nặng nề. Nông dân Việt Nam bị bần
cùng hoá bởi chính sách chiếm đoạt ruộng đất để lập đồn điền của thực dân
Pháp, bởi nạn sưu cao, thuế nặng của nhà nước phong kiến - thực dân, bởi địa
tô và cho vay nặng lãi của địa chủ phong kiến. Đời sống nông dân Việt Nam vì
thế ngày càng thêm điêu đứng. Bị áp bức bóc lột nặng nề, người nông dân Việt
Nam từ Nam chí Bắc, khắp vùng xuôi đến miền ngược đã không ngừng vùng
dậy chống lại ách thống trị của thực dân phong kiến. “Tinh thần cách mạng
của nông dân không chỉ gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của
họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với tình cảm quê hương đất nước, với nền
văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc”1. Đây là giai cấp có tinh thần đấu tranh
kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại
trong quá trình đấu tranh cách mạng. Ngay khi ra đời, giai cấp công nhân Việt
Nam đã tiếp thu ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga. Do vậy, tuy lực
lượng công nhân Việt Nam còn ít 1, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng
tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ tự phát đến tự giác, thể hiện là
giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng.
1
Số lượng công nhân đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất (1913) có khoảng 10 vạn ng ười,
đến cuối năm 1929 số công nhân Việt Nam là hơn 22 vạn người, chiếm trên 1,2% dân số
6
2. Các phong trào yêu nước lần lượt thất bại, Việt Nam rơi vào khủng
khoảng bế tắc về đường lối cứu nước
Từ khi thực dân Pháp xâm lược (năm 1858) đến những năm 20 của thế
kỷ XX đã có hàng trăm cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc ta chống kẻ thù
xâm lược nhưng đều lần lượt thất bại.
Phong trào chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến - phong trào Cần
Vương do Tôn Thất Thuyết cầm đầu (1885-1896). Điển hình là các cuộc khởi
nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh) …
với những sĩ phu yêu nước như Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Nguyễn
Thiện Thuật... đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp và thể hiện tinh thần quật cường
chống ngoại xâm của các tầng lớp nhân dân khi triều đình phong kiến đã đầu
hàng. Nhưng với ngọn cờ phong kiến lúc đó không còn là ngọn cờ tiêu biểu để
tập hợp một cách rộng rãi, toàn thể các tầng lớp nhân dân, không có khả năng
liên kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc, nên cuộc khởi nghĩa của
Phan Đình Phùng thất bại năm 1896, cũng là lúc chấm dứt vai trò lãnh đạo của
giai cấp phong kiến đối với phong trào yêu nước Việt Nam.
Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở vùng miền núi phía Bắc,
pháp tiến hành cách mạng đúng đắn.
Tổ chức “Việt Nam Quốc dân Đảng” do Nguyễn Thái Học lãnh đạo,
thành lập tháng 12 - 1927 tại Bắc Kì. Mục đích: đánh Pháp giành độc lập, xây
dựng chế độ cộng hòa tư sản, với phương pháp: đấu tranh vũ trang, manh
động, ám sát cá nhân và lực lượng chủ yếu là binh lính, sinh viên… Cuộc khởi
nghĩa Yên Bái (2-1930) với khẩu hiệu "không thành công thì thành nhân" đã
nhanh chóng thất bại. Sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái chứng tỏ rằng phong
trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản không đáp ứng được yêu cầu
khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm “Một vài đặc
điểm của cách mạng Việt Nam”, đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét: Khởi nghĩa
Yên Bái là "... một cuộc bạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi
chết luôn không bao giờ ngóc đầu lên nổi. Khẩu hiệu “không thành công thì
thành nhân” biểu lộ tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời
8
và đồng thời cũng biểu lộ tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào
tư sản”1.
Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, đánh dấu sự tan rã của xu hướng cách mạng
dân chủ tư sản và cũng xác nhận sự bất lực của tư tưởng tư sản trong việc xác
lập con đường cách mạng phù hợp với quy luật vận động của cách mạng Việt
Nam.
Như vậy, rõ ràng là vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX, tiếp tục
truyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào chống
thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sản của nhân dân ta diễn ra rất sôi nổi và
liên tục, nhưng tất cả đều không thành công, chính do thiếu đường lối và sự lãnh đạo
đúng đắn của một tổ chức tiên phong. Trên thực tế, “các phong trào cứu nước từ lập
trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều
lần lượt thất bại”1. Phong trào yêu nước Việt Nam rơi vào khủng hoảng, bế tắc về
người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách tám
điểm1. Những yêu sách của Người không được Hội nghị đáp ứng. Sự kiện
này đã giúp Nguyễn ái Quốc hiểu rõ: “Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp
bợm lớn”2.
Tháng 7-1920, Nguyễn ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên
báo “L'Humanite” (Nhân đạo), số ra ngày 16 và 17-7-1920. Những luận
điểm cách mạng của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã giải đáp
những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước,
giải phóng dân tộc mà sau gần mười năm tìm kiếm (1911-1920) Nguyễn ái
Quốc mới bắt gặp. Lý luận của V.I.Lênin và lập trường đúng đắn của Quốc
tế Cộng sản về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa là cơ sở để
Người xác định thái độ ủng hộ việc gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội
lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920). Tại Đại hội này, Nguyễn
ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng
sản do V.I.Lênin thành lập). Nguyễn ái Quốc trở thành một trong những
sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của
Việt Nam. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn "gắn phong trào cách mạng
Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo
con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ
1
2
Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, t.1, tr.435-436
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, t.1, tr.416
10
những thắng lợi mới, Nxb.ST, H.1970, tr.10
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, t.10, tr.128
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, t.1, tr.36
11
"Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ
còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi" 1.
Trong những năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn ái Quốc đã viết tác phẩm nổi
tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp” và được xuất bản năm 1925 ở Pari. Tác
phẩm không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp, mà còn vạch trần bản chất của
chủ nghĩa đế quốc. “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã phê phán thái độ cầu xin
chủ nghĩa đế quốc, tư tưởng cải lương tư sản, đề cao tinh thần tự lực, tự cường,
tự mình giải phóng cho mình.
Ngay từ năm 1923, trong truyền đơn cổ động mua báo “Le Paria”
Nguyễn ái Quốc viết: "Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại
cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng,
bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người,
niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân
chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách
tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu
thương nhau”2. Đó là quan điểm chính trị có tầm quan trọng đặc biệt đối với
phong trào cách mạng ở các thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Những tư tưởng, quan điểm cơ bản về chiến lược, sách lược cách mạng
thuộc địa đã bước đầu được Nguyễn ái Quốc xác định. Đó là mối quan hệ giữa
cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng ở các thuộc địa "chỉ có sự hợp tác
này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối
208 số.
Tháng 7-1925, Người đã cùng các nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc,
Triều Tiên, ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia... thành lập "Hội liên hiệp
các dân tộc bị áp bức ở á - Đông". Năm 1927, cuốn ‘‘Đường Kách mệnh’’ gồm
những bài giảng của Nguyễn ái Quốc trong các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ
ở Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của "Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á
- Đông" xuất bản.
Trong tác phẩm quan trọng này Nguyễn ái Quốc đã đề cập những tư
tưởng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam. Trong tác
phẩm ‘‘Đường Kách mệnh’’, Nguyễn ái Quốc nhấn mạnh: "Trước hết phải có
đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên
lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh
mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng
muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai
cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người
không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ
nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh
nhất là chủ nghĩa Lênin"1. Người chỉ rõ lực lượng cơ bản của cách mạng đó là
"công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ… là
bầu bạn cách mệnh của công nông" 2. “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng
1
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.2, tr.267-268
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1995, t.2, tr.266
14
Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu...) họp tại số nhà 5D, phố
Hàm Long, Hà Nội, quyết định lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam.
Đầu tháng 5-1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của "Hội Việt Nam
cách mạng Thanh niên", kiến nghị của đoàn đại biểu kỳ bộ Bắc Kỳ về việc giải
tán Hội để thành lập Đảng cộng sản không đựợc chấp nhận. Đoàn đại biểu kỳ
bộ Bắc Kỳ đã rút khỏi Đại hội. Sau khi về nước, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đã giải
thích lý do bỏ Đại hội và khẳng định đã có đủ những điều kiện để thành lập
chính đảng cách mạng. Ngày 17-6-1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà
16
Nội), Đông Dương cộng sản Đảng được thành lập thông qua Tuyên ngôn, Điều
lệ và quyết định xuất bản báo "Búa Liềm". Trước ảnh hưởng của Đông Dương
cộng sản Đảng, Kỳ bộ Nam Kỳ quyết định thành lập "An Nam Cộng sản
Đảng" (tháng 11-1929), xuất bản tờ báo "Đỏ" làm cơ quan ngôn luận.
Tại Trung kỳ, "Tân Việt cách mạng Đảng" (là một tổ chức thanh niên yêu
nước) chịu tác động của "Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên" - đã thành lập
"Đông Dương Cộng sản Liên đoàn", vào ngày 1-1-1930, tại Hà Tĩnh.
Ba tổ chức cộng sản ra đời đã khẳng định bước phát triển quan trọng của
phong trào cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba
miền đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản, kêu gọi Quốc tế Cộng sản thừa
nhận tổ chức của mình và đều tự nhận là đảng cách mạng chân chính, không
tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức. Trước tình
hình đó, ngày 27-10-1929, trong tài liệu của Quốc tế Cộng sản gửi những
người cộng sản Đông Dương nêu rõ: "Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách
nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng
cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng
sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ
chức duy nhất ở Đông Dương"1. Vào thời điểm lịch sử khó khăn phức tạp đó,
một lần nữa trách nhiệm lịch sử lại đặt lên vai lãnh tụ Nguyễn ái Quốc.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H.1998, t.2, tr.4
4
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H.1998, t.2, tr.4
2
19
hợp để lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông về phía giai cấp vô sản, còn "bộ
phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ"1.
Phát huy tinh thần tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng
hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản
Pháp. Cương lĩnh nêu rõ cách mạng Việt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới, "trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu
nước An Nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị
áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới". Như vậy, ngay từ khi thành lập,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế vô sản và mang bản
chất quốc tế của giai cấp công nhân.
Về vai trò lãnh đạo của Đảng với tư cách là đội tiên phong của giai cấp
vô sản, "Sách lược vắn tắt của Đảng" ghi rõ: "Đảng là đội tiên phong của vô
sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho
giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng" 2. "Chương trình tóm tắt của Đảng"
khẳng định "Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của
giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng"3. Điều
lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt
Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để
tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản"4. Đảng
kết nạp những người "tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc
tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và
phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền
lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân - không ngừng củng cố
và tăng cường"1.
Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định bởi
quá trình khảo nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng
đất nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời và
đến nay vẫn là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta trong công cuộc đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
3. ý nghĩa lịch sử của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã
chấm dứt sự khủng hoảng và bế tắc về đường lối cứu nước, mở ra thời kì mới
cho cách mạng Việt Nam: thời kì có đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức
cách mạng tiên phong lãnh đạo. Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương
lĩnh được thông qua ở Hội nghị thành lập Đảng, từ năm 1930 cách mạng Việt
Nam có được đường lối chính trị toàn diện đề ra mục tiêu và phương pháp đấu
tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, đồng
thời có được tổ chức đảng cách mạng để lãnh đạo và tổ chức phong trào cách
mạng. Đó là kết quả của sự vận động phát triển và thống nhất của phong trào
cách mạng trong cả nước, của sự chuẩn bị tích cực, sáng tạo về chính trị, tư
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.1996, t.10, tr.9
21
tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, của sự đoàn kết nhất trí, của
những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích giai cấp và dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Đảng lãnh đạo đấu tranh
giành chính quyền cách mạng (1930-1945)
I. CAO TRàO CáCH MạNG 1930 - 1931 Và XÔ VIếT NGHệ TĩNH
1. Chủ trương của Đảng và phong trào đấu tranh của quần chúng
Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng chủ trương phát
động quần chúng đấu tranh đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống; chống địch
khủng bố trắng, đòi trả tự do cho những người yêu nước bị bắt; đòi bồi thường
cho những gia đình nạn nhân và làng mạc bị tàn phá. Do chính quyền thực dân
Pháp tăng cường bóc lột và thực hiện chính sách khủng bố tràn lan nên mâu
thuẫn với nhân dân càng thêm sâu sắc. Vì thế, khi Đảng phát động đấu tranh,
nhân dân đã tích cực tham gia, đưa phong trào đấu tranh phát triển thành cao
trào.
Mở đầu cao trào cách mạng 1930-1931 là những cuộc đấu tranh của
5.000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng (Nam Bộ) tháng 2 -1930; cuộc bãi
công của 4.000 công nhân Nhà máy sợi Nam Định cuối tháng 3, đầu tháng 41930; cuộc bãi công của 400 công nhân Nhà máy Diêm Bến Thủy (thành phố
Vinh) ngày 19-4-1930. Ngoài ra còn có những cuộc đấu tranh của nông dân và
các tầng lớp nhân dân lao động khác như cuộc biểu tình của nông dân Hà Nam,
nông dân Thái Bình đòi giảm sưu thuế nổ ra tháng 4-1930.
Cuộc đấu tranh ngày 1-5-1930 là một bước phát triển mới của cao trào
cách mạng 1930-1931. Lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
công nông Việt Nam biểu tình kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động (1-5), đấu tranh
đòi quyền lợi cho nhân dân lao động trong nước và thể hiện tình đoàn kết cách
mạng với nhân dân lao động thế giới.
ở Nghệ An và Hà Tĩnh, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9-1930 diễn ra
nhiều cuộc đấu tranh quy mô huyện và liên huyện với hàng nghìn, hàng vạn
dân chúng tham gia. Tiêu biểu là những cuộc biểu tình của 3.000 nông dân
23
Luận cương chỉ rõ: Cách mạng Đông Dương có hai giai đoạn, lúc đầu
“là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền.. có tánh chất thổ địa và phản đế” 1,
đánh đổ chế độ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất và đánh đổ đế
quốc Pháp làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập; sau đó chuyển sang giai
đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực
chính; vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là
vô sản Pháp, với quần chúng cách mạng ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa,
nhất là Trung Quốc và ấn Độ; phải sử dụng bạo lực cách mạng; “Điều kiện cốt
yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một
Đảng Cộng sản có một đường lối chánh trị đúng, có kỉ luật, tập trung, mật
thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là
đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”2.
“Luận cương chính trị” tháng 10-1930 có một số hạn chế: chưa đề cao
nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, chưa đánh giá đúng vai trò của
giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc và một bộ phận của giai cấp địa chủ
trong cách mạng.
Ban Chấp hành Trung ương chính thức của Đảng do Hội nghị Trung
ương tháng 10-1930 cử ra gồm sáu ủy viên, đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư.
Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về vấn đề
thành lập “Hội Phản đế đồng minh”, coi việc đoàn kết toàn dân thành một tổ
chức lực lượng thật rộng rãi, lấy công nông là động lực chính, là một điều kiện
quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
3. ý nghĩa của cao trào cách mạng 1930-1931 và Xôviết Nghệ-Tĩnh
Đánh giá về Xôviết Nghệ-Tĩnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tuy đế
quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xôviết NghệTĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao
1
2