ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Tiểu luận:
LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA DÒNG SẢN PHẨM IPHONE
CỦA APPLE TRÊN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN THOẠI CẢM ỨNG
Nhóm thực hiện: Nhóm số 3
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Tạ Thị Kim Phượng (nhóm trưởng)
Phạm Thị Anh Đào
Nguyễn Quốc Khánh
Nguyễn Thị Kim Liên
Lê Thị Thanh Mai
Trần Thị Thu Thanh
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Vũ Hoàng Việt
1
Mã sinh viên
0951010186
0951010393
0951010127
câu hỏi trên.
2
Do hạn chế về kiến thức bài tiểu luận không tránh khỏi những sai sót, chúng em rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo để bài tiểu luận có thể hoàn thiện
hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
3
NỘI DUNG
Cơ sở khoa học: Mô hình năm nguồn lực cạnh tranh của Michael
Porter
Michael Porter là nhà quản trị chiến lược nổi tiếng của trường đại học Harvard, nhà
hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay. Ông chính là “cha
đẻ” của chiến lược cạnh tranh trong kinh doanh. Trong cuốn sách “Competitive
Strategy: Techniques Analyzing Industries and Competitors”, ông đã đưa ra nhận định
về 5 nguồn lực cạnh tranh trong mọi ngành sản xuất kinh doanh, bao gồm:
Nhà cung cấp
(Suppliers)
Đối thủ tiềm năng (New Entrants) Đối thủ cạnh tranh (Rivalry)Các sản phẩm thay thế (Substitutes)
Khách hàng
(Buyers)
Khách hàng
Các sản phẩm, dịch vụ thay thế là những sản phẩm và dịch vụ có thể thỏa mãn nhu
cầu tương đương của các sản phẩm dịch vụ trong cùng ngành.
5
Áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ khi khả năng bị thay thế của sản phẩm, dịch vụ
ngày càng tăng. Tính chất khác biệt của sản phẩm càng lớn thì tạo nên sức mạnh cạnh
tranh so với các sản phẩm thay thế càng cao. Tuy nhiên, ngày nay với trình độ khoa
học kỹ thuật ngày càng phát triển nhanh chóng, các sản phẩm thay thế ngày càng có
chiều hướng gia tăng, làm cho sức ép cạnh tranh về sản phẩm thay thế càng trở nên
mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp trong ngành.
Đối thủ cạnh tranh
Trong một ngành thì các yếu tố tạo nên sức ép cạnh tranh lên các doanh nghiệp là:
•
Tình trạng thực tại của ngành, bao gồm nhu cầu, tốc độ tăng trưởng của ngành, số
lượng đối thủ cạnh tranh trong ngành, mức độ quan trọng của ngành…
• Cấu trúc của ngành có thể là phân tán hoặc tập trung. Trong đó, ngành có cấu trúc
phân tán là ngành có nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh nhưng không có doanh
nghiệp nào có khả năng chi phối các doanh nghiệp khác. Ngược lại, ngành có cấu trúc
tập trung là ngành có một vài doanh nghiệp có khả năng chi phối đến các doanh
nghiệp trong ngành và ảnh hưởng mạnh đến ngành.
• Các rào cản rút lui khỏi ngành
Khi cường độ cạnh tranh của ngành ngày càng gay gắt thì khách hàng ngày càng được
tôn trọng hơn, các doanh nghiệp càng phải nỗ lực thay đổi để đáp ứng tốt hơn nhu cầu
di động - một thiết bị công nghệ không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại ngày nay,
cũng không ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Từ năm 2005 đến năm
2010, số lượng điện thoại di động được tiêu thụ đã tăng 95,6% (từ 816.6 triệu chiếc
năm 2005 lên 1596.8 triệu chiếc năm 2010).
Bảng 1: Số điện thoại di động phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng trên toàn
thế giới giai đoạn 2005 – 2010
Đơn vị: 1000 chiếc
Năm
Số lượng
Tỷ lệ tăng/
giảm (%)
2005
2006
816,562.
990,862.5
9
-
2007
1,152,839.
8
2008
1,222,252.
9
16.3
6.0
Share
(%)
63.5
2008
Sales
72,933.5
2008
Market
Share
(%)
52.4
8
2009
Sales
80,878.3
2009
Market
Share
(%)
46.9
2010
Sales
111,576.7
11,767.7
9.6
23,149.0
16.6
34,346.6
19.9
47,451.6
16
3,302.6
14,698.0
NA
122,315.6
2.7
12
NA
100
11,417.5
16,498.1
14,649.3
142,5% trong vòng 4 năm (từ 122.3 triệu chiếc năm 2007 lên 296.6 triệu chiếc năm
2010; tương đương với 10.6% tổng số điện thoại di động được tiêu thụ trên toàn thế
giới năm 2007 lên 18.6% năm 2010). Đặc biệt, các sản phẩm iPhone của Apple - sản
phẩm khởi nguồn cho cuộc chạy đua trên thị trường Smartphone giữa các hãng sản
xuất điện thoại di động với nhau, cũng có những đột phá trong số lượng tiêu thụ qua
các quý.
Biểu đồ 1: Số lượng tiêu thụ của iPhone trên toàn thế giới từ quý 3 năm 2007 đến
quý 2 năm 2011
*Chú ý: Số liệu thống kê dựa trên số liệu trong các báo cáo tài chính giữa niên của
tập đoàn Apple.
Theo kết quả nghiên cứu của công ty nghiên cứu Gartner, tương đương với các con số
tuyệt đối về số lượng tiêu thụ trên thì thị phần của iPhone trên thị trường Smartphone
cũng không ngừng tăng lên, cụ thể từ 2.7% năm 2007 lên 15.7% vào năm 2010. Và
đến quý 2 năm 2011 thị phần của iPhone trên thị trường này đã là 18.2%.
Câu hỏi đặt ra là điều gì đã tạo nên lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm iPhone của
Apple so với các sản phẩm khác của Blackberry, Samsung, LG, Motorola hay
HTC?
9
Ta sẽ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên dựa trên mô hình 5 nguồn lực cạnh tranh của
Michael Porter.
Trước hết, khách hàng (Buyers) đã đem lại lợi thế gì cho sản phẩm iPhone của
Apple?
Qua những con số về doanh số bán hàng của sản phẩm iPhone trong các báo cáo tài
chính của Apple (biểu đồ 1), có một điều dễ dàng nhận thấy là iPhone có một thị
trường tiêu thụ rộng lớn.
Xét riêng trên thị trường Mỹ, với số dân 311 triệu người tính đến ngày 3 tháng 4 năm
2011 - đứng thứ 3 thế giới chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ, Mỹ là một thị trường tiêu
42% muốn một chiếc điện thoại giống như một chiếc máy ảnh.
Tại sự kiện ra mắt hôm 4/10/2011 vừa qua, mặc dù không phải là iPhone 5 như mọi
người vẫn mong đợi, nhưng iPhone 4S có cấu hình hơn hẳn iPhone 4, với chip A5,
RAM 1GB, camera 8 Megapixel với khả năng quay video HD chuẩn 1080p, khả năng
nhận dạng giọng nói Siri. Như vậy có thể thấy, với những thông tin đầy đủ về thị
trường của mình, Apple không chỉ cho ra mắt các sản phẩm đáp ứng được hầu hết
những mong muốn của người tiêu dùng mà còn không ngừng nghiên cứu, phát triển
để có thể đưa ra những sản phẩm vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Có lẽ đây
là điều làm cho giới công nghệ và người tiêu dùng luôn ngóng chờ các sản phẩm của
Apple đến vậy.
Với hơn 4 triệu máy tới tay người tiêu dùng chỉ trong vòng 3 ngày từ 14/10/2011 đến
17/10/2011 trên 7 thị trường lớn: Mỹ, Canada, Úc, Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản;
iPhone 4S đã tạo ra một kỷ lục mới trên thị trường Smartphone.
Tại sao iPhone lại có một thị trường tiêu thụ lớn đến như vậy?
Với hơn 35 năm hình thành và phát triển, cùng với sự dẫn dắt tài tình của “ông thầy
phù thủy” Steve Jobs đã tạo nên một thương hiệu Apple hàng đầu thế giới với giá trị
thương hiệu 33.5 tỷ đô la Mỹ năm 2011 - đứng thứ 8 trong top 10 thương hiệu lớn
nhất thế giới theo đánh giá của hãng tư vấn Interbrand. Nhờ đó, Apple đã tạo cho
mình một danh sách khách hàng trung thành - những người luôn sẵn sàng mua các sản
phẩm công nghệ mới nhất của Apple. Hơn nữa, với chiến lược đa dạng hóa cơ sở
khách hàng thông qua việc gửi thông tin các sản phẩm cho những khách hàng chưa hề
quen biết, hay việc thông qua các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter,
11
MySpace, … để biến một lượng lớn các khách hàng ảo thành khách hàng thật. Đây
chính là một phần lời giải thích cho con số 18.2% thị phần trên thị trường điện thoại
cảm ứng toàn thế giới của Apple trong quý 2 năm 2011 này.
mạng cung cấp trong 2 năm, ta hoàn toàn có thể sở hữu một chiếc iPhone 4S –
smartphone mới nhất của Apple. Tuy nhiên, bạn cũng có thể mua các smartphone mới
nhất của các đối thủ cạnh tranh của Apple nhưng với mức giá cao hơn hay tìm mua
các sản phẩm ít đắt đỏ hơn các sản phẩm của Apple nhưng với cấu hình và thiết kế ít
đặc sắc và tinh tế hơn.
Bảng 3: Giá bán của các sản phẩm iPhone và một số sản phẩm thay thế vào
tháng 10 năm 2011 tại thị trường Hoa Kỳ
iPhone
iPhone 3GS
iPhone 4 8GB
iPhone 4S 16GB
iPhone 4S 32GB
iPhone 4S 64GB
$0
$99
$199
$299
$399
Sản phẩm thay thế
Droid Bionic (Motorola)
Samsung Galaxy SII
HTC Amaze 4G
Blackberry Torch 9850
$300
$230
$260
$199
sử dụng dịch vụ không dây lâu dài). Điều đáng ngạc nhiên là đến năm 2008, khi phiên
bản iPhone 3G ra đời, với sự trợ giá từ nhà mạng phân phối, mức giá mà Apple đưa ra
14
chỉ là 199 USD. Để thu được lợi nhuận từ việc trói buộc khách hàng bằng các hợp
đồng dịch vụ mạng không dây, các hãng dịch vụ mạng này đã phải trả cho Apple một
số tiền không nhỏ cho những chiếc iPhone mới nhất (khoảng 600 USD cho một chiếc
theo ước tính của các chuyên gia). Theo tin tức từ Wall Street Journal, đầu tháng
10/2011, hãng viễn thông lớn thứ ba thế giới, Sprint Nextel đã phải trả 20 tỷ USD cho
Apple để có được quyền phân phối 30 triệu chiếc iPhone mới nhất trong 4 năm tới
(đến năm 2014).
Như vậy, Apple luôn là người đi trước các đối thủ cạnh tranh của mình về cả công
nghệ và giá cả. Đây chính là một lợi thế cạnh tranh rất lớn của Apple, và cũng chính là
lợi thế của các sản phẩm iPhone trên thị trường Smartphone.
Các đối thủ cạnh tranh của Apple (Rivalry)
Bảng 4: Thị phần của thị trường Smartphone phân theo hệ điều hành (OS) giai
đoạn 2007 – 2015
Đơn vị: %
Hệ điều hành
Symbian
Research In Motion
iPhone OS
Android
Microsoft Windows
Mobile
Others
Tổng số smartphone
19.4
38.5
2015 (Dự
đoán)
0.1
11.1
17.2
48.8
12.0
11.8
8.7
4.2
5.6
19.5
NA
10.5
6.1
3.8
thị trường Smartphone chỉ còn là 0.1%. Sự phát triển của Microsoft Windows Mobile
thì không ổn đinh. Như vậy, đối thủ nặng ký nhất hiện nay của hệ điều hành iOS của
Apple chính là hệ điều hành Android của Google, với 22.7% thị phần thị trường
Smartphone năm 2010 và con số dự báo cho năm 2015 là 48.8%; trong khi đó, con số
này của Apple chỉ là 15.7% năm 2010 và 17.2% vào năm 2015. Điều này lý giải tại
sao trong thời gian gần đây (từ tháng 3/2010), Apple tích cực đẩy mạnh cuộc chiến
pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ với các hãng sản xuất điện thoại sử dụng hệ điều hành
Android như HTC, Motorola hay Samsung. Không chỉ dừng lại ở các vụ kiện, Apple
còn không ngần ngại bắt tay với chính đối thủ của mình – Microsoft và một số công ty
khác để mua lại 880 bằng sáng chế từ công ty Novell đã tuyên bố phá sản vào tháng
12/2010 và 6,000 bằng sáng chế của công ty Nortel đã phá sản vào tháng 7/2011. Với
số lượng bản quyền mà Microsoft và Apple đang nắm giữ, hai tập đoàn này đang hy
vọng sẽ thu được 15 USD tiền phí bản quyền cho mỗi thiết bị Android. Điều này sẽ
làm cho lợi thế giá rẻ của sản phẩm Android bị ảnh hưởng không nhỏ.
Chiến lược “để người dùng thể hiện cá tính” với dịch vụ iTunes, iCloud của Apple
cùng với thương hiệu “quả táo”, Apple đã tạo nên sự khác biệt cho các sản phẩm
16
iPhone của mình. Đây là điều mà khó có đối thủ nào có thể vượt qua được iPhone tại
thời điểm hiện nay.
Cuối cùng, ta sẽ xét xem nhân tố thứ năm mà M.Porter đề cập đến trong mô hình 5
nguồn lực cạnh tranh của mình – các đối thủ tiềm năng (New Entrants) có tác
động như thế nào đến lợi thế cạnh tranh của iPhone.
Một điều dễ nhận thấy là với thị trường nằm trong tay hầu hết những hãng sản xuất
lớn, có nhiều kinh nghiệm, và thương hiệu (như Apple, Blackberry, Motorola, HTC,
Samsung, LG) như trên thị trường Smartphone hiện nay thì việc một nhà sản xuất mới
muốn ra nhập thị trường này là vô cùng khó khăn. Liệu có hãng sản xuất điện thoại
mới nào có thể tạo ra những sản phẩm có tính năng vượt trội, kiểu dáng thiết kế bắt
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình Kinh tế Ngoại thương của GS.TS. Bùi Xuân Lưu – PGS.TS. Nguyễn Hữu
Khải, NXB Thông tin và Truyền thông năm 2010.
“Competitive Strategy: Techniques Analyzing Industries and Competitors”, Micheal
E. Porter, published by Paperback in 2004
http://www.gartner.com/it/page.jsp?id=501734
http://www.gartner.com/it/page.jsp?id=612207
http://www.gartner.com/it/page.jsp?id=904729
http://www.gartner.com/it/page.jsp?id=910112
http://www.gartner.com/it/page.jsp?id=1306513
http://www.gartner.com/it/page.jsp?id=1543014
http://www.gartner.com/it/page.jsp?id=1764714
http://www.apple.com/pr/library/2007/07/25Apple-Reports-Third-QuarterResults.html
http://www.apple.com/pr/library/2007/10/22Apple-Reports-Fourth-QuarterResults.html
http://www.apple.com/pr/library/2008/01/22Apple-Reports-First-Quarter-Results.html
http://www.apple.com/pr/library/2008/04/23Apple-Reports-Record-Second-QuarterResults.html
http://www.apple.com/pr/library/2008/07/21Apple-Reports-Record-Third-QuarterResults.html
19
http://www.apple.com/pr/library/2008/10/21Apple-Reports-Fourth-QuarterResults.html
http://www.apple.com/pr/library/2009/01/21Apple-Reports-First-Quarter-Results.html
http://www.apple.com/pr/library/2009/04/22Apple-Reports-Second-QuarterResults.html
http://www.apple.com/pr/library/2009/07/21Apple-Reports-Third-QuarterResults.html
http://www.apple.com/pr/library/2009/10/19Apple-Reports-Fourth-QuarterResults.html
5. Bùi Hoàng Linh
0951010492
6. Nguyễn Thị Thảo
0951010568
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2011
22
Mặc dù là một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới, Nhật
Bản lại là một quốc gia nghèo về nguyên liệu và năng lượng. Trong 8 loại
nguyên liệu, năng lượng quan trọng nhất, quyết định quy mô và tốc độ phát
triển của nền kinh tế, thì Nhật Bản phải nhập khẩu tới 99,7% dầu mỏ, 100%
thuỷ ngân và nhôm, 90% quặng sắt, 86% than, 82% đồng, 62% kẽm, 57% chì.
Với việc nhập khẩu này, Nhật Bản trở thành nước nhập khẩu nguyên liệu lớn
nhất thế giới cả về quy mô và cơ cấu, chủng loại.
Để bảo đảm nguồn cung cấp nguyên vật liệu, năng lượng ổn định, an toàn
trong điều kiện thế giới đầy biến động, các tập đoàn kinh tế lớn của Nhật Bản đã
tìm mọi cách để chi phối và đa dạng hoá các nguồn cung cấp tài nguyên, năng
lượng. Đến nay, Nhật Bản đã kiểm soát được 100% quặng sắt của Malaysia,
80% nguồn cung cấp gỗ và đồng của Philippines, 50% nguồn dầu thô của
Indonesia, 30% cao su của Thái Lan. Và một trong những nhân tố quan trọng
giúp Nhật Bản đạt được thành quả này chính là chính sách nhập khẩu của Nhật
Bản.
Vậy đó là một chính sách như thế nào? Với những số liệu chính thức
mới nhất, bài viết về đề tài “Chính sách nhập khẩu của Nhật Bản” hy vọng sẽ
làm rõ những đặc điểm cơ bản nhất của chính sách này thông qua hai công cụ
24
Ngoài ra còn có 1 sự chênh lệch lớn giữa các mức thuế trung bình: của thuế suất
trong hạn ngạch là 18,3% còn của thuế suất vượt hạn ngạch lên tới 77,4%.
Trong tổng số các dòng thuế hiệp định, 92,4% là thuế tương đối, 2,4% là
thuế tuyệt đối, 0,6% là thuế lựa chọn và 3,3% là các loại thuế khác. Mức thuế
MFN hiệp định trung bình là 5,9%, cao hơn không đáng kể so với mức thuế
MFN áp dụng trung bình (5,8%). Mức thuế hiệp định trung bình của các sản
phẩm nông nghiệp (16%) là khá cao so với mức trung bình của các sản phẩm
phi nông nghiệp (3,5%). Nếu không có cam kết cắt giảm thuế quan nào nữa,
mức trung bình này của các sản phẩm nông nghiệp sẽ không đổi vì Nhật Bản đã
thực hiện đầy đủ các cam kết của vòng đàm phán Uruguay trong năm 2009.
Thuế suất MFN áp dụng
Cơ cấu thuế suất MFN áp dụng của Nhật Bản hầu như là không đổi từ
năm 2008. Trong tổng số 8826 dòng thuế, 93,4% là thuế tương đối, 2,3% là thuế
tuyệt đối, 0,6% là thuế hỗn hợp, 3,3% là các loại thuế khác và 0,4% là thuế lựa
chọn. Các mức thuế suất không phải thuế tương đối chủ yếu được áp dụng đối
với dầu và chất béo, giày dép, thức ăn chế biến sẵn, động vật sống và các sẩn
phẩm từ động vật, dệt may và quần áo, rau xanh và các sản phẩm khoáng sản.
Trung bình thuế suất MFN áp dụng của Nhật Bản năm tài chính 2010 là
5,8%. Sản phẩm nông nghiệp nhận được sự bảo hộ từ thuế quan cao hơn nhiều
so với các sản phẩm phi nông nghiệp: mức thuế trung bình đơn giản của các sản
25