Nhóm 7 tiểu luận chính sách thương mại quốc tế _ Tình hình xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ - Pdf 53

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
--------***--------

TIỂU LUẬN
CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÁ TRA CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG MỸ TRONG 10 NĂM GẦN ĐÂY

Tên nhóm: Nhóm 7
Lớp tín chỉ: TMA301.1
Giảng viên hướng dẫn: TS. Vũ Huyền Phương

Hà Nội, tháng 02 năm 2019


MỤC LỤC


DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU


LỜI MỞ ĐẦU
1

Lý do chọn đề tài.
Trong thời đại hội nhập phát triển nhanh như ngày nay, việc đẩy mạnh giao

lưu thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu hàng hóa dịch vụ nói riêng đã trở
thành mục tiêu hàng đầu của nước ta trong những năm gần đây. Với lợi thế địa hình
gần biển với đường bờ biển kéo dài, Việt Nam đang mang trong mình lợi thế về


Nhiệm vụ của đề tài

3

Một là, đưa ra cái nhìn tổng quan về ngành sản xuất và xuất khẩu cá tra của
Việt Nam.
Hai là, tìm hiểu các chính sách đối với cá tra của Việt Nam từ thị trường Mỹ.
Ba là, tìm hiểu các tác động của các chính sách đó đối với việc xuất khẩu cá
tra của Việt Nam sang thị trường Mỹ.
4

Cấu trúc bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của bài tiểu luận gồm có 3

chương như sau:
Chương 1: Đặc điểm chung ngành hàng cá tra Việt Nam;
Chương 2: Các chính sách thương mại của Mỹ lên mặt hàng cá tra Việt Nam nhập
khẩu vào Mỹ;
Chương 3: Tác động của các chính sách đối với sản phẩm cá tra Việt Nam xuất
khẩu sang thị trường Mỹ.
Chúng em xin chân thành cảm ơn những hướng dẫn của TS. Vũ Huyền
Phương. Bài tiểu luận còn nhiều thiếu sót, chúng em hy vọng nhận được sự góp ý
của cô để hoàn thiện hơn.

5


1


triệu tấn với diện tích khoảng 6.078 ha.
Ngành cá tra đang từng bước hoàn thiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông
dân, cùng với việc thực hiện quy trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tạo ra chuỗi
sản xuất mang lại giá trị gia tăng cao là tiền đề vững chắc để mặt hàng cá tra vượt
qua các “rào cản kỹ thuật”, xâm nhập các thị trường khó tính.

6


2Thực trạng xuất khẩu cá tra của Việt Nam
Cá tra là mặt hàng chủ lực chiếm số lượng lớn (khoảng 25,2%) trong xuất
khẩu thủy sản ở Việt Nam chỉ sau tôm. Mặt hàng thủy sản này chiếm đến 95% thị
phần cá tra thế giới, nhờ đó giúp Việt Nam tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu cho
ngành thủy sản. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) cho biết, bức
tranh xuất khẩu cá tra Việt Nam trong 20 năm qua (kể từ năm 1998 – giai đoạn cá
tra Việt Nam bắt đầu chập chững tìm đường xuất khẩu) có nhiều biến chuyển rất rõ
nét, trong đó có sự gia tăng cả về khối lượng và giá trị xuất khẩu, sự đa dạng sản
phẩm và thị trường xuất khẩu.
Trong những năm gần đây, tổng giá trị xuất khẩu cá tra trung bình của Việt
Nam có nhiều biến động. Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng dần từ năm 2012 đến
năm 2014 (từ 1,74 tỉ USD lên 1,77 tỉ USD) nhưng thụt giảm ở năm 2015 (1,59 tỉ
USD tức giảm 11,3% so với năm 2014) vì gặp khó khăn do thách thức của hội nhập
kinh tế quốc tế, nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu chậm, các yêu về chất lượng an toàn
vệ sinh thực phẩm khắt khe hơn và bị bôi nhọ hình ảnh làm ảnh hưởng đến uy tín
sản phẩm ở thị trường mục tiêu. Từ năm 2016, xuất khẩu cá tra có dấu hiệu tăng trở
lại nhưng vẫn ở mức không cao và đến năm 2017 đạt 1,78 tỉ USD. Nguyên nhân
của sự gia tăng năm 2017 chủ yếu là do thị trường Trung Quốc tăng trưởng mạnh,
tăng đến 40% so với năm 2016, còn lại hai thị trường lớn của cá tra Việt Nam là Mỹ
và EU thì vẫn ở đà tụt dốc.
Hình 1.1. Xuất khẩu cá tra của Việt Nam năm 2012 - 2017


Xuất khẩu sang Mỹ

Tổng kim ngạch
8

Tỉ lệ Xuất khẩu sang Mỹ so


201
2
201
3
201
4
201
5
201
6
201
7

(tỉ USD)

xuất khẩu
(tỉ USD)

với Tổng kim ngạch

19,67


214,02

19,44%

Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, trong đó mặt
hàng cá tra xuất khẩu sang thị trường Mỹ đang là mặt hàng được chú ý, quan tâm
nhiều nhất trong khoảng thời gian gần đây.
Năm 2017, xuất khẩu cá tra gặp nhiều thách thức ở thị trường Mỹ là do gặp
rào cản lớn bởi thuế chống bán phá giá và chương trình thanh tra cá da trơn. Cụ thể,
trong năm này, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) ra phán quyết sơ bộ mức thuế chống bán
phá giá lần thứ 13 (POR13) đối với cá tra phi lê đông lạnh của Việt Nam vào thị
trường này. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, Mỹ cũng mới triển khai chương trình giám sát cá da trơn đối
với cá tra từ Việt Nam. Từ tháng 9/2017, nếu các nước không nộp danh sách doanh
nghiệp xuất khẩu vào Mỹ và các chứng minh về chương trình an toàn vệ sinh thực
phẩm quốc gia theo yêu cầu của Cục Thanh tra và An toàn thực phẩm Mỹ (FSIS) thì
sẽ không được tiếp tục xuất khẩu. Dẫn đến việc tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra
sang Mỹ giảm gần 11,1%.
Sang năm 2018, ngành xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Mỹ phát
triển cực kỳ khởi sắc. Theo VASEP, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ
năm 2018 đạt 549,4 triệu USD, tăng 59,5% so với năm 2017, chiếm 24,3% tổng
xuất khẩu cá tra. Riêng tháng 10/2018, xuất khẩu cá tra sang thị trường này tăng rất
mạnh 256,1% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 66 triệu USD. Với mức tăng đều đặn
và lớn dần, kết thúc tháng 10/2018, thị trường Mỹ đã trở lại ngôi vị số một của xuất
khẩu cá tra Việt Nam.
Hình 1.2. Xuất khẩu cá tra sang Mỹ năm 2018

9



được ban hành trong Luật Thương mại và Cạnh tranh Omnibus năm 1988 và có
hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1989. Hệ thống thuế quan nhập khẩu của Mỹ được xây
dựng trên cơ sở Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (Harmonized
Commodity Descriptions and Coding Systerm – gọi tắt là Hệ thống hài hòa) do Tổ
chức Hải quan Thế giới (World Customs Organization – WCO) sáng lập.
Các mã số của Hệ thống hài hòa được gọi là mã HS (HS code), được sử dụng
để phân loại hơn 98% hàng hóa được buôn bán trên phạm vi toàn thế giới. Cấu trúc
của một mã HS thường gồm 8 số hoặc 10 số. Trong đó, 6 số đầu mang tính quốc tế
(theo thứ tự được quy định là Chương – Nhóm – Phân nhóm) và các chữ số tiếp
theo được gọi là phân nhóm phụ, mang tính quốc gia. Biểu thuế nhập khẩu hiện
hành của Mỹ áp dụng mã HS gồm 10 số.
Việt Nam không nằm trong số các nước được hưởng mức thuế quan ưu đãi của
Mỹ khi xuất khẩu các mặt hàng cá tra sang thị trường Mỹ. Các sản phẩm cá tra của
Việt Nam khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ sẽ phải chịu mức thuế nhập khẩu dao
động từ 0% - 10% / kg.
Bảng 2.1. Biểu thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng cá tra của Việt Nam
nhập khẩu vào thị trường Mỹ năm 2019
(Nguồn: Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ – Harmonized Tariff Schedule 2019 Basic Edition)
Lưu ý:
- Cá tra thuộc bộ Cá da trơn
- Bảng chỉ liệt kê một số mặt hàng cụ thể
- Số liệu trong bảng có thể thay đổi và sẽ được công bố theo từng năm
Chú thích:
(1)

Đối với một số nước được hưởng chế độ GSP (Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập) của Mỹ và

các nước đã có thỏa thuận với Mỹ (không có Việt Nam).
(2)

Phi-lê cá da trơn, đông lạnh:
0020
Các loài cá thuộc chi Cá tra, trong đó có cá tra nuôi và cá basa
0305.52
0000
Cá sấy khô, trừ nội tạng cá ăn được, có thể muối hoặc không, nh
không hun khói; bao gồm các loài cá rô phi, cá da trơn, cá chép, l
cá rô sông Nile và cá quả
0305.64
Cá, đã ướp muối hoặc đang ngâm nước muối, không sấy khô hoặc
khói, trừ nội tạng cá ăn được; bao gồm các loài cá rô phi, cá da trơn
chép, lươn, cá rô sông Nile và cá quả:
1000
Đóng thành các gói hàng với tổng trọng lượng mỗi gói từ 6,
trở xuống.
5000
Khác
1604.19
Cá đã chế biến hoặc bảo quản, nguyên con hoặc cắt thành m
(nhưng không băm nhỏ); trừ cá hồi, cá trích nước lạnh, cá trích dầu
trích xương, cá trích kê, cá trích cơm, cá ngừ đại dương, cá ngừ vằn
ngừ ba chấm, cá nục hoa, cá cơm, cá chình, vây cá mập:
2200
Trừ cá ngừ bonito, cá cam Nhật Bản, cá minh thái; đóng ba
kín khí, không ngâm trong dầu ăn
3200

4100
5100


(NFI) đã kiến nghị Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nên
đưa ra tên chung mà thị trường Mỹ ưa thích nhất để áp dụng chung cho các sản
phẩm cá tra của Việt Nam xuất vào Mỹ.
Cá tra Việt Nam lúc này vẫn đang chờ cơ quan chức năng của Mỹ kết luận
xem sản phẩm này có phải là cá da trơn hay không. 7 năm trước, Bộ Nông nghiệp
Mỹ yêu cầu Quốc hội nước này ban hành luật cấm sản phẩm cá nhập từ Việt Nam
được gắn nhãn “cá da trơn”. Cá da trơn ở Mỹ được bán rất đắt, trên 25 USD/kg.
Năm 2002 trở về trước, cá tra vào thị trường Mỹ, được thương lái Mỹ gắn nhãn cá
da trơn, nhưng giá bán lại rẻ hơn nhiều. Người dân Mỹ rất ưa chuộng sản phẩm cá
tra, basa của Việt Nam vì ngon không kém các loại cá da trơn của Mỹ, mà giá lại rẻ
chỉ bằng 1/5 lần. Vì lo cá của Việt Nam “đánh bạt” cá da trơn Mỹ, nên Bộ Nông
nghiệp Mỹ yêu cầu không cho phép gọi cá này là cá da trơn.
Người nuôi cá da trơn ở Mỹ đang yêu cầu áp các quy định an toàn khắt khe
hơn đối với loại cá nhập từ Việt Nam. Từ đó nảy sinh hàng loạt trớ trêu với tên gọi,
gợi nhớ những vụ kiện để tôm được gọi là... cua.
Tuy nhiên, mặc dù thành công trong việc ngăn cản cá tra Việt Nam được đóng
nhãn cá da trơn, người nuôi cá ở Mỹ đã không thể ngăn cản loại cá từ Việt Nam này
xuất hiện trong bữa ăn của người dân nước này. Người nuôi cá da trơn Mỹ cho rằng
loại cá thịt trắng nhập từ châu Á đang đe doạ ngành công nghiệp nuôi cá da trơn trị
giá 400 triệu USD của Mỹ. Chính vì lo ngại, nước Mỹ đưa ra đạo luật chống bán
phá giá, áp ngưỡng giá sàn đối với chủng loại cá da trơn. Bộ Nông nghiệp Mỹ vẫn
tìm mọi cách ngăn cản cá của Việt Nam, bằng hành động ngược với trước kia, là đòi
xếp cá của nước ta vào nhóm cá da trơn để áp thuế chống bán phá giá.
2Thay đổi trong mức thuế chống bán phá giá
Một khi được gọi là cá da trơn, cá tra Việt Nam lập tức vướng vào rào cản thuế
chống bán phá giá. Có thể nói hiếm có mặt hàng xuất khẩu nào của Việt Nam mà bị
áp các mức thuế chống bán phá giá thay đổi chóng mặt như mặt hàng cá tra. Bộ

14



0,77

1/8/2010 –
31/7/2011

POR 9

USD/kg

0

2,15

2,11

1/8/2011 –
31/7/2012

POR 10

USD/kg

0

0,97

2,39

1/8/2012 –


USD/kg

3,87

7,74

2,39

1/8/2015 –
31/7/2016

POR 14

USD/kg

0,00 và
1,37

0,41

2,39

1/8/2016 –
31/7/2017

3Chương trình thanh tra cá da trơn Mỹ (Farmbill)
Chương trình này chính thức có hiệu lực từ tháng 3/2016 và được triển khai
từng bước trong hơn 18 tháng tiếp theo, qua đó cho phép các nhà cung cấp cá da
trơn nước ngoài có thời gian thực hiện những điều chỉnh cần thiết để có thể đáp ứng


16


3

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA MỸ
LÊN MẶT HÀNG CÁ TRA VIỆT NAM NHẬP KHẨU VÀO MỸ
1

Cơ hội cho Việt Nam
Mặc dù Mỹ luôn đưa ra các chính sách đối với sản phẩm cá tra của Việt Nam

để bảo vệ ngành cá da trơn trong nước, nhưng đây cũng là cơ hội cho Việt Nam để
khẳng định vị thế xuất khẩu trên thế giới. Sau đây là các cơ hội cho Việt Nam.
Thứ nhất, Việt Nam cần nâng cao chất lượng sản phẩm. Mỹ luôn là một trong
những thị trường khó tính cùng với hàng loạt các chứng nhận đảm bảo nguồn gốc
của sản phẩm. Để có thể xuất khẩu sang thị trường này, các doanh nghiệp và các hộ
chăn nuôi cá tra trong nước không còn cách nào khác ngoài nâng cao chất lượng sản
phẩm, cải tiến, nâng cao kĩ thuật. Nhờ có những chính sách khắt khe, đây cũng là
một cơ hội không nhỏ cho Việt Nam để nâng cao chất lượng sản phẩm các tra của
mình.
Thứ hai, chúng ta cần tạo vị thế cho ngành xuất khẩu Việt Nam. Tổng cục Hải
quan dẫn số liệu thống kê của WTO về thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa toàn
thế giới năm 2017 cho biết, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam xếp thứ 27 và nhập
khẩu xếp thứ 25. Tuy tương đối cao so với các nước trong khu vực nhưng chưa thực
sự tương xứng với tiềm năng .
Nếu vượt qua được các chính sách khắt khe của Mỹ, cá tra Việt Nam chính là
sự tiên phong trong chuỗi nâng cao vị thế xuất nhập khẩu của Việt Nam trên thế
giới, tạo ra chuỗi giá trị không chỉ riêng cho ngành cá tra nói riêng mà cho hầu hết

Cạnh tranh về giá

Đầu tiên, việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá cao khiến các doanh nghiệp chế
biến và xuất khẩu thủy sản gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh về giá ở thị trường
này. Đỉnh điểm ở kỳ xem xét hành chính lần thứ 13 (POR13) Mỹ quy định mức
thuế chống bán phá giá cá tra phi lê đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam: từ gần 4
USD/kg (bằng giá xuất khẩu cá tra sang Mỹ) đến gần 8 USD/kg (cao gấp đôi giá
xuất khẩu). Doanh nghiệp rất khó cạnh tranh với các loại cá thịt trắng nội địa của
Mỹ và cá rô phi Trung Quốc (khi Trung Quốc chi phối phần lớn thị phần cá thịt
trắng nhập khẩu của Mỹ trong nhiều năm qua do có giá thành thấp). Bên cạnh đó,
một số nước như Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia và cả Trung Quốc đẩy mạnh phát
triển nuôi cá tra, vốn là loại thủy sản độc quyền của Việt Nam cũng là một mối đe
dọa cho sản phẩm cá tra Việt Nam.
Vấn đề thứ hai là việc giá nguyên liệu cá tra tăng cao trong khi thiếu nguồn
cung. Giá cá tra tại đồng bằng sông Cửu Long nhiều biến động do hai nguyên nhân
chính là thiếu cá tra giống và diện tích nuôi bị thu hẹp. Giá cá nguyên liệu tăng tuy
khiến người nuôi thu lãi nhưng cả doanh nghiệp và người dân đều thiếu cá bán và
chế biến.
Do vậy, trước vấn đề vừa thiếu cá nguyên liệu, vừa khó khăn về thị trường

18


xuất khẩu, vừa không dễ đàm phán tăng giá thì doanh nghiệp cá tra Việt Nam đứng
trước nhiều thách thức để gia tăng giá trị xuất khẩu.
2

Mức thuế không đồng đều giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ

Với những doanh nghiệp lớn, nhờ nhận được những đơn đặt hàng lớn, có



2Thách thức từ chương trình thanh tra cá da trơn của Mỹ (Farmbill)
Mỹ đưa ra các quy định của Đạo luật Nông trại Mỹ, Bộ Nông nghiệp Mỹ sẽ
thực hiện kiểm tra 100% lô hàng cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam, yêu cầu xác
định các điều kiện tương đương nhau; kiểm soát sẽ nghiêm ngặt theo từng công
đoạn từ con giống, thức ăn, dư lượng kháng sinh, chất tồn dư thuốc thú y đến vận
chuyển, nhà máy. Farm Bill là một rào cản thương mại lớn, là công cụ hữu hiệu để
Chính phủ Mỹ bảo hộ nền công nghiệp cá da trơn nội địa, đồng thời là cái nền để họ
có thể dễ dàng thực hiện cho các thủy sản nuôi khác như tôm và cá rô phi.
Trước hết là tình trạng quá tải. Đến thời điểm này, các doanh nghiệp xuất khẩu
cá tra sang Mỹ đã ghi nhận việc một số nhà nhập khẩu lớn đã có kho riêng được Bộ
Nông nghiệp Mỹ (USDA) xét duyệt làm I-house. Nhưng đa số các cảng vẫn đang
thiếu nhân viên kiểm tra của Cơ quan Thanh tra và ATTP (FSIS) thuộc Bộ Nông
nghiệp Mỹ (USDA). Vì vậy, thời gian trung bình từ lúc hàng vào kho và xin lịch
kiểm cho đến ngày kiểm hàng trung bình là 6 ngày. Đa số kiểm sát viên phải kiểm
hàng ở ít nhất 2-3 kho/ngày, làm giảm số lượng container hàng có thể kiểm, tăng
thời gian chờ đợi cũng như chi phí kho và chậm việc lưu thông hàng hóa trên thị
trường.
Chương trình kiểm tra hàng đến của FSIS làm tăng chi phí khoảng 0,1-0,25
USD/kg sản phẩm (tương đương 3-7% giá bán), qua đó làm ảnh hưởng đến tính
cạnh tranh của cá tra trên thị trường Mỹ. Việc thực hiện kiểm tra 100% lô hàng đến
còn làm mất rất nhiều thời gian chờ đợi trước khi sản phẩm được chính thức cho
phép đưa ra thị trường tiêu thụ.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu cá tra sang Mỹ còn đối mặt với những
khó khăn lớn khác. Chẳng hạn, theo quy định, sau thời gian chuyển đổi 18 tháng,
sản phẩm cá tra xuất khẩu sang Mỹ phải tuân thủ các quy định ghi nhãn của USDA
với sự khác biệt khá lớn so với quy định của FDA trước đây. Điều này khiến cho
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, mất thời gian để hỏi và nhận được những hướng
dẫn đôi khi mâu thuẫn và thay đổi đột ngột.

để tạo nội lực giúp cho ngành cá tra Việt Nam có vị thế vững chắc trên thị trường
thế giới.
Mặc dù nhóm nghiên cứu đã làm việc hết sức cố gắng, nhưng do khả năng tiếp
cận thông tin cũng như kĩ năng của các thành viên còn thiếu sót nên bài tiểu luận
của chúng em còn chưa được hoàn thiện. Vì vậy chúng em rất mong sự thông cảm
và ý kiến đóng góp tận tình của cô để có thể hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải. 2007. Giáo trình Kinh tế ngoại thương,
NXB Lao động – Xã hội.
2Cổng thông tin điện tử Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,
https://www.mard.gov.vn/
3Hiệp hội cá tra Việt Nam, http://www.pangasiusmap.com/vi/
4Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, http://vasep.com.vn/
5Tổ

chức

Hải

quan

Thế

giới

(World

T
1

HỌ TÊN

MSV

Phạm Quỳnh Anh

1713330008

2

Vũ Quốc Anh

1711120016

3

Nguyễn Hoàng Giang

1711110173

4

Đỗ Cao Phương Linh

1712210160

5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status