Tài liệu Tiểu luận: Chính sách thương mại của Trung Quốc pot - Pdf 10

1 Tiểu luận Chính sách thương mại
của Trung Quốc 2

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và quốc tế hóa nền kinh tế hiện nay, hội nhập
và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế không thể
nào đảo ngược đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế của
mình, và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này.
Tham gia vào tổ chức thương mại quốc tế(WTO)- tổ chức thương mại
toàn cầu lớn nhất và quan trọng nhất sẽ mang lại cho quốc gia thành viên
nhiều cơ hội mới, lớn lao về mở rộng thị trường xuất- nhập khẩu, tiếp nhận
những hàng hóa, dịch vụ, công nghệ kỹ thuật và quản lý, được đối xử công
bằng trên thị trường thế giới, cải thiện các điều kiện cần thiết cho phát triển
kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong nước. Mỗi

3
I.CÁC CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ CAM KẾT CỦA
TRUNG QUỐC TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO
Theo lịch trình cụ thể, Trung Quốc cam kết sẽ xóa bỏ sự phân biệt đối
với hàng hóa nhập khẩu tại thị trường Trung Quốc, xóa bỏ hệ thống hai giá,
loại bỏ các hạn chế về buôn bán, đưa vào những chính sách hành chính
thống nhất, giảm thuế hoặc xóa bỏ hạn ngạch với hàng dệt may, xóa bỏ các
hàng rào phi thuế quan, mở cửa đối với các lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng,
bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông, bưu điện, luật pháp, kế toán, dịch vụ
liên quan đến máy tính, xóa bỏ kiểm soát giá, cải cách các doanh nghiệp
thương mại nhà nước và cho phép các công ty nước ngoài tăng tỷ lệ sở hữu
cũng như phân phối hàng hóa tại Trung Quốc.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đồng ý tham gia nhiều hiệp định liên quan
tới cải cách luật pháp, cấp phép nhập khẩu, và trợ giúp doanh nghiệp vừa và
nhỏ, thực hiện nghĩa vụ với hơn 20 hiệp định WTO đa phương như GATT,
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ(GATS), hàng rào kỹ thuật đối với
thương mại(TBT), các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại(TRIMS),
lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại(TRIPS).
-Mô hình:
Thúc đẩy xuất khẩu kết hợp với bảo hộ một cách có chọn lọc các ngành
CN có lợi thế quốc gia
Chính sách thúc đẩy xuất khẩu
a)Chính sách mặt hàng:Chia làm 3 giai đoạn:
+giai đoạn 1:

xuất khẩu mặt hàng công nghiệp cao
c) Các biện pháp hỗ trợ đối với doanh nghiệp tham gia vào XK:
1 Nhóm các biện pháp xúc tiến thương mại hỗ trợ cho DN trong hoạt
động Marketing XK được thực hiện ở mạng lưới các cơ quan thương vụ
của TQ ở NN và hệ thống các văn phòng thúc đẩy xuất khẩu trong nước.
+Văn phòng thúc đâỷ XK(EPO)thực hiện:
.tư vấn và hỗ trợ cho các DN trong việc đánh giá phân tích và xử lý thị
trường
.tư vấn và hỗ trợ các DN trong việc lựa chọn sử dụng công nghệ SX và
nguyên liệu đầu vào
.tư vấn và hỗ trợ các DN trong việc thiết kế mẫu mã,kiểu dáng sản
phẩm và lựa chọn quy mô sản xuất phù hợp
.giải đáp thắc mắc cho các doanh nghiệp về môi trừơng luật pháp,chính
sách
+Chính sách thương vụ: Có mặt ở trên 220 quốc gia trên thế giới
 .Hỗ trợ cho chính phủ trong việc tham gia vào kí kết các hiệp
định thương mại,đàm phán để ra nhập các tỏ chức thương mại
khu vực và thế giới
 .Hỗ trợ chính phủ và các doanh nghiệp trong việc giải quyết các
tranh chấp thương mại nhằm bảo vệ lợi ích tối đa cho các doanh
nghiệp
 .Cung cấp thông tin về thị trường nước ngoài cho các doanh
nghiệp trong nước
5

 .Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm các khách hàng,kí kết hợp
đồng và tạo lập kênh phân phối
 .Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước trong việc giới thiệu quảng
bá sản phẩm ra thị trường nước ngoài
-Hỗ trợ nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu

và 10% dầu thô nhập khẩu. Trung Quốc cũng sẽ mở cửa lĩnh vực phân phối
bán lẻ mặt hàng này sau 3 năm gia nhập WTO, và cho phép các công ty
nước ngoài có ít nhất 30% ở mỗi trạm xăng dầu. Trung Quốc sẽ mở cửa thị
trường bán buôn sau 5 năm gia nhập WTO.
6

Trong lĩnh vực viễn thông, các nhà kinh doanh nước ngoài được phép
nắm tới 25% cổ phần ở các công ty viễn thông di động, tăng lên 35% một
năm sau đó, và lên 49% trong 3 năm tiếp theo. Trong các dịch vụ Internet,
truyền thông và các dịch vụ giá trị gia tăng khác, các công ty nước ngaoif có
thể nắm giữ ngay 30% ở các công ty Trung Quốc thuộc các tỉnh Bắc Kinh,
Thượng Hải và Quảng Châu, tỷ lệ này sẽ tăng lên 50% sau 2 năm khi mọi
han chế về khu vực địa lý được xóa bỏ. Các hãng nước ngoài được quyền sở
hữu và xâm nhập thị trường dịch vụ viễn thông và nâng cao sự bảo vệ bản
quyền thông qua việc Trung Quốc thực thi Hiệp định về các lĩnh vực liên
quan đến thương mại bản quyền(TRIPS).
Trong ngành chứng khoán, một số liên doanh nước ngoài được phép
tham gia vào quản lý quỹ theo cùng phương thức quản lý của các công ty
Trung Quốc. Ba năm sau khi gia nhập WTO, các công ty nước ngoài sẽ
được nắm giữ 49% ở các liên doanh.
Các ngân hàng nước ngoài sẽ được phép kinh doanh đồng NDT với các
công ty của Trung Quốc sau 2 năm khi Trung Quốc gia nhập WTO, và với
các cá nhân Trung Quốc sau 5 năm. Sau khi Trung Quốc gia nhập, các ngân
hàng nước ngoài có thể nắm giữ 15% thị trường tiền gửi là ngoại hối, 10%
tiền gửi là NDT, 20-30% tiền cho vay là ngoại hối và 15% tiền cho vay là
NDT.
Trung Quốc sẽ cho phép “ kiểm soát việc quản lý một cách có hiệu
quả” trong các liên doanh bảo hiểm nhân thọ, mặc dù cổ phần nước ngoài
chỉ được hạn chế ở 50%. Tung Quốc sẽ cho phép các nhà bảo hiểm nước
ngoài tham gia vào các lĩnh vực bảo hiểm y tế, hưu trí,… trong vòng 5 năm

chất, dệt may
Dệt may là một trong số rất ít lĩnh vực sẽ có lợi nhờ gia nhập WTO khi
xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên việc này sẽ cho phép các nước nhập
khẩu hàng dệt may Trung Quốc hạn chế nhập khẩu hàng Trung Quốc phá vỡ
thị trường của họ.
3. Đưa ra các biện pháp chống bán phá giá
II.GIAI ĐOẠN TỪ 2002 ĐẾN NAY

 Mô hình chính sách :
Thúc đẩy xuất khẩu tiếp tục đc duy trì đồng thời thực hiện tự do hóa
thương mại theo quy định của WTO và các cam kết trong hiệp định
thương mại song phương và đa phương
 Biện pháp :
 Các biên pháp thúc đẩy XK

+Tiếp tục thực hiện các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu ở thời kỳ trc đồng
thời tăng cường áp dụng các biện pháp mới thông qua việc chú trọng hoàn
thiện hệ thống pháp luật
Cụ thể từ 1/1/2002 chính phủ TQ ban hành luật thuế đối kháng và chống
bán phá giá nhằm đảm baỏ môi trường cạnh tranh bình đẳng cho hàng TQ
và hàng hóa nước ngoài. Cùng với các biện pháp về chống bán phá giá, đối
kháng và tự vệ, Luật Ngoại thương cho phép chính phủ thực hiện các biện
pháp thương mại khác dựa trên kết quả điều tra thương mại. Các điều tra
thương mại bao gồm các hàng rào thương mại ở các nước khác, hạn chế
phân biệt đối xử trong thương mại của các nước khác chống lại Trung
Quốc, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của thể nhân Trung Quốc ở các nước, các
hoạt động cạnh tranh không bình đẳng gây thiệt hại cho trật tự ngoại
8

thương, và các hoạt động thương mại khác ảnh hưởng tới lợi ích an ninh

thành lập tổng công ty ngoại thương riêng.
Cho phép 19 Bộ, ngành của Trung ương được thành lập tổng công ty
xuất nhập khẩu để phân tán một số hàng hoá xuất nhập khẩu thuộc bộ
ngoại thương trước đây kinh doanh sang các công ty xuất nhập khẩu
thuộc Bộ, ngành hữu quan, tạo điều kiện kênh buôn bán và tăng cường
kết hợp giữa sản xuất và tiêu thụ.

9

+CP TQ thực hiện tăng cường dự trữ ngoại tệ nhằm bình ổn tỷ giá hối
đoái tạo đk thuận lợi cho các DN tham gia vào XK và thu hút ĐTNN.
Dự trữ ngoại tệ là 286.4 tỷ USD sau một năm gia nhập WTO, điều này cho
thấy Trung Quốc đang thực hiện chính sách này một cách nghiêm túc và đây
cũng là một trong những chính sách khôn ngoan của Trung Quốc để có thể
làm chủ đồng Nhân dân tệ, và không bị ảnh hưởng bởi những đồng tiền
mạnh trên thế giới.

+ Tăng cường hoạt động hỗ trợ thanh thoán từ NHTW TQ thông qua
việc ký kết HĐịnh hợp tác với NHTW NN trong việc cung cấp dịch vụ
thanh toán quốc tế và mở đại diện NHTM của NN tại TQ và đại diện NHTM
TQ ở NN : chuyển đổi tiền tệ và mở thư tín dụng
Trung Quốc muốn tạo điều kiện thanh toán tốt nhất cho những DN XNK,
nhằm đảm bảo quyền lợi cho các DN và thúc đẩy XK

+Tăng cường áp dụng các biện pháp kiểm tra và giám định hàng xuất
khẩu và tiến tới áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế đối với hàng xuất khẩu chất
lượng cao vào các nước phát triển
Nhằm nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của nước mình để có thể
xuất sang các thị trường đòi hỏi những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản
phẩm, tránh để xảy ra tình trạng hàng hóa bị trả lại do không vượt qua được

quốc gia và quốc tế trong đó đặc biệt chú ý đến tiêu chuẩn về vệ sinh an
toàn thực phẩm và tiêu chuẩn về môi trường
Các hàng rào phi thuế quan mà Trung Quốc thường xuyên sử dụng là các
tiêu chuẩn kỹ thuật và sức khoẻ đối với hàng hoá xuất nhập khẩu. Tiêu
chuẩn kỹ thuật được tạo ra nhằm mục đích đảm bảo chất lượng và độ an
toàn của sản phẩm hoặc bảo vệ con người, động thực vật hoặc môi trường.
Tuy nhiên các tiêu chuẩn kỹ thuật này lại tạo ra hàng rào thương mại nhằm
hạn chế việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu do chúng được áp dụng tuỳ tiện và
phân biệt đối xử. Vì lý do này mà WTO yêu cầu các quy định về kỹ thuật và
sức khỏe trong nước không được tạo ra những hạn chế thương mại, nhằm
đảm bảo mục tiêu chính đáng và không được áp dụng với cách thức có thể
dẫn đến sự tuỳ tiện và phân biệt đối xử giữa các nước. Các thành viên WTO
có nghĩa vụ sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế hiện có và liên quan làm cơ sở
cho các tiêu chuẩn của quốc gia mình. Các quy định về tiêu chuẩn cụ thể
được quy định tại Hiệp định của WTO về hàng rào kỹ thuật trong thương
mại (TBT) và việc áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS).
Sau khi gia nhập, Trung Quốc đã sửa đổi một số luật và quy định liên quan
nhằm đảm bảo sự phù hợp với WTO và cơ cấu lại các cơ quan trung ương
chịu trách nhiệm quản lý và thực thi các quy định về kỹ thuật và sức khỏe.
Hoạt động thiết lập và áp dụng tiêu chuẩn cũng ngày càng được các đối tác
thương mại của Trung Quốc quan tâm. Hiện nay, phần lớn các tiêu chuẩn
của Trung Quốc không dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Có rất nhiều lời
phàn nàn về thủ tục rườm rà, tốn kém, phiền toái cho việc đăng ký sản
phẩm, cấp phép và chứng nhận sản phẩm nhằm hạn chế việc xuất khẩu và
nhập khẩu. Hơn thế nữa, trong những năm gần đây Trung Quốc đã xây
dựng

11

.+Từng bước áp dụng c/s chống bán phá giá nhằm tạo ra mt cạnh tranh bình

Khuynh hướng bảo hộ bằng các biện pháp thương mại trong luật và thực
tiễn ở Trung Quốc là điều hiển nhiên. Khi hàng rào thuế quan và phi thuế
quan bị giảm đi một cách đáng kể thì các ngành công nghiệp trong nước sẽ
phải tìm kiếm các hình thức bảo hộ thông qua việc sử dụng những biện pháp
thương mại mang tính hiếu chiến. Bên cạnh đó, bản thân Trung Quốc cũng
là nạn nhân của các biện pháp thương mại này. Trong nhiều năm nay,
Trung Quốc trở thành mục tiêu của các vụ kiện về chống bán phá giá. Mỹ,
Châu âu
12
+ Tăng cường áp dụng hạn chế XK tự nguyện đối với sp NK từ Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời áp dụng các biện pháp tự vệ + Thuế quan NK được đchỉnh theo hướng tự do hóa TM theo q định của
WTO xuống còn 10% năm 2005. Đồng thời hàng hóa NK được quản lý =
giấy phép và hạn ngạch cũng giảm dần (44 mặt hàng năm 2001) xuống còn
14 mặt hàng năm 2005
Áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với một số ngành dễ bị tổn thương hoặc
dễ có tác động xấu đến đời sống của người nông dân, chính sách bảo hộ nền
kinh tế trong nước
III.CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA
TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Việt Nam là nước luôn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược của
Trung Quốc ở Đông Nam Á. Mục tiêu nhất quán của Trung Quốc là gắn
quan hệ với Việt Nam trong việc phục vụ những yêu cầu chiến lược của
Trung Quốc ở trong nưóc, Ðông Nam Á và trên thế giới. Trung Quốc bình
thường hoá với Việt Nam bởi:

kinhdoanh biên mậu, gồm:
+ Thứ nhất, các DN có quyền XNK, có thể trực tiếp kinh doanh XNK biên
giới.
+ Thứ hai, các DN có quyền kinh doanh ủy thác XNK biên giới, những DN
này phải được sự phê chuẩn của cơ quan chủ quản cho phép làm thủ tục đại
lý ủy thác dài hạn, được quyền kinh doanh XNK và phải trả một khoản phí
đại lý nhất định.
+ Thứ ba, các DN không có quyền kinh doanh XNK, chỉ có quyền ủy thác.
Loại DN này phải ký hợp đồng đại lý biên mậu ủy thác cho 2 loại DN trên
và phải trả một khoản phí đại lý nhất định.
 Đặc điểm của chính sách biên mậu với Việt Nam.
 Phân cấp mạnh
Thu thuế là đòn bẩy điều tiết biên mậu, là công cụ chủ yếu thực hiện chính
sách biên mậu của TQ. Vì vậy, ngoài thu thuế XNK, TQ còn thu nhiều loại
thuế khác.
14

Căn cứ vào các chính sách ưu tiên cho các thành phố, huyện, thị biên giới
mở cửa mà TP. Nam Ninh, Côn Minh, thị xã Bằng Tường, Đông Hưng,
huyện Hà Khẩu (tỉnh Vân Nam) và Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây
(TQ) được phân cấp, quản lý thu thuế biên mậu. Toàn bộ số tiền thu được để
lại cho địa phương đầu tư hạ tầng cơ sở. TQ giao quyền cho chính quyền địa
phương tự định ra các mức thuế suất phải thu, theo nguyên tắc: - Mức thuế
mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của
Trung ương => mức thuế cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế
của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương => còn các cửa khẩu
quốc tế do Hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.
- TQ cho phép các địa phương biên giới được quyền phê chuẩn các dự án
hợp tác, gia công biên mậu trong phạm vi địa giới hành chính của mình. Đối
với các dự án thương mại, cấp huyện được phép phê duyệt các mức đầu tư

Khi xuất khẩu sang Trung Quốc, đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều lựa
chọn hình thức xuất khẩu biên mậu. Và chính sự lựa chọn này đã tiềm ẩn
không ít rủi ro.
Phổ biến nhất là các chính sách như, Trung Quốc chỉ cho phép một số mặt
hàng nhất định được đi qua một số cửa khẩu nhất định, ví dụ như hoa quả
chỉ được đi qua cửa khẩu Lào Cai, hoặc Tân Thanh, Lạng Sơn, cao su chỉ
được nhập từ cửa khẩu Móng Cái, hoặc Lục Lầm, thủy hải sản cũng chỉ
được đi vào Trung Quốc từ cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh, hàng máy
móc, thiết bị chỉ được qua cửa khẩu Hữu Nghị.
Thậm chí, có những lúc, nước này thay đổi chính sách biên mậu, nhưng lại
không thông báo cho các doanh nghiệp Việt Nam biết, như việc mặt hàng
tinh bột sắn vốn vẫn được đi qua cửa khẩu Chi Ma, bỗng dưng lại chuyển
sang chỉ cho qua ở cửa khẩu Bảo Lâm. Sự thay đổi thất thường này khiến
nhiều doanh nghiệp Việt Nam không nắm kịp thông tin, phải chịu tổn thất
lớn.
Qua con đường tiểu ngạch này, Trung Quốc có thể tăng giảm mức phí biên
mậu ở từng thời điểm, mùa vụ mà doanh nghiệp Việt Nam không thể biết
trước được. Điều này dẫn tới sự ảnh hưởng lớn tới giá mua vào của các tiểu
thương Trung Quốc. Hoặc một kiểu khác là, Trung Quốc có thể tăng cường
kiểm soát gắt gao vệ sinh an toàn hàng xuất khẩu Việt Nam nếu muốn siết
chặt lượng hàng nhập vào, hoặc nới lỏng kiểm tra, giám sát nếu muốn tăng
lượng hàng nhập vào từ Việt Nam.
Với công cụ chính sách quá khôn khéo như vậy, có thể thấy, phía Trung
Quốc hoàn toàn có thể chủ động mua hàng từ Việt Nam vào khi giá thấp.
Khi cần, nước này có thể hạn chế lượng mặt hàng nhập khẩu vốn là thế
mạnh của Việt Nam, điều chỉnh được giá bán của chính doanh nghiệp Việt
Nam và từ đó, có lợi thế ép giá hàng xuất khẩu của ta.
Đặc biệt, vì Trung Quốc chỉ áp dụng các chính sách này với hàng nhập khẩu
tiểu ngạch của Việt Nam nên không vi phạm các qui định về WTO.
16

Bài học của cty bánh đại xanh Gia Bảo là khi có ý đ
ịnh đặt chân sang Trung Quốc
phải có hoạch định chiến lược lâu dài, bài bản”.
Nếu không đăng ký thương hi
ệu, chắc chắn sản phẩm Việt Nam sẽ đụng ngay vấn
nạn hàng nhái, hàng giả, vốn rất nhức nhối ở nước này. Và khi đã gây dựng th
ương
hiệu rồi, doanh nghiệp phải cam kết trung thành, giữ vững uy tín cho thương hi
ệu
đó thì mới phát triển bền vững được.
Vậy lối đi nào cho các DN VN trong việc xuất khẩu sang TQ
 Cần thúc đẩy xuất khẩu chính ngạch
Về lâu dài không thể xuất khẩu mãi bằng con đường buôn bán biên mậu
. Trung
Quốc là thị trường tiềm năng của VIệt Nam, song, mấu chốt mà các doanh nghi
ệp
phải giải quyết được là tiến tới xuất khẩu chính ngạch, nâng cao hàm lư
ợng chế
biến trong sản phẩm, hạn chế tình trạng xuất nguyên liệu thô như hiện nay. Vì ch

khi đó, giá trị hàng xuất khẩu mới có thể nâng cao, tránh được mọi rủi ro
phát sinh
17

v
ề thanh toán.

Muốn thế, các doanh nghiệp buộc phải có một chiến lược bài bản, căn cơ,
làm ăn lâu dài, ổn định tại Trung Quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status