Chính sách thương mại của trung quốc khi gia nhập WTO và bài học với Việt Nam - Pdf 24


1

MỤC LỤC

Trang
LỜI NÓI ĐẦU
4
Chương I: NHỮNG CAM KẾT CỦA TRUNG QUỐC KHI GIA NHẬP
WTO
6
I. Tiến trình Trung Quốc gia nhập WTO
6
1. Tiến trình đàm phán
1.1 Đàm phán đa phương
1.2 Đàm phán song phương
1.3 Nhận xét về tiến trình Trung Quốc đám phán để gia nhập WTO
6
6
9
10
2. Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO
2.1 Đối với bản thân Trung Quốc
2.2
Đối với quốc tế
2.3 Đối với khu vực Châu Á - ASEAN

12
12
15
15

26
26
Chương II: MỘT SỐ CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO
28
I. Nhận xét chung
28
II. Một số cải cách thương mại cụ thể
31
1. Một số cải cách thương mại cụ thể
1.1 Cải cách liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
1.2 Đưa quyền tự chủ sản xuất và kinh doanh ngoại thương xuống các
địa
phương
1.3 Cơ cấu lại nền kinh tế
1.4 Thay đổi các quy định phù hợp với thông lệ quốc tế
1.5 Tập trung cho các ngành công nghiệp mũi nhọn
1.6 Đủ ngũ cốc để nuôi sống 1,3 tỷ dân
1.7 Giữ tốc độ tăng trưởng bình quân 7% trong năm năm tới
1.8 Cơ chế quản lý

31
31

32
34
36
37
39
40

II. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ quá trình đàm phán
gia nhập WTO của Trung Quốc

61
1. Cần kiên trì “không nóng vội” và kiên định “bảo vệ lợi ích của mình”
2. Bài học về công tác chuẩn bị tốt, đầy đủ trong quá trình đàm phán
3. Bài học về sự điều hành hữu hiệu của Chính phủ
4. Bài học về tạo ra đ
iều kiện mở cửa bằng cách “Thí điểm trước - áp
dụng rộng rãi sau”
5. Bài học về sự chủ động phát triển thương mại quốc tế dựa vào lợi thế
so sánh
6. Những việc Việt Nam cần thực hiện để chuẩn bị cho tiến trình gia nhập
WTO
61
62
64

65

65
66
KẾT LUẬN
69
PHỤ LỤC
71
TÀI LIỆU THAM KH
ẢO
76


cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong nước. Nhận thức được tầm quan
trọng và lợi ích của việc tham gia “sân chơi quốc tế” này, Chính phủ Việt
Nam đã đặt mục tiêu trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm
2005. Để thực hi
ện được mục tiêu này, Việt Nam cần tham khảo, xem xét,
đánh giá và rút kinh nghiệm từ các nước đi trước trong quá trình đàm phán
gia nhập và kết quả sau khi gia nhập WTO nhằm tìm ra được hướng đi đúng
đắn, phù hợp với điều kiện Việt Nam nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu của
WTO.
Chính vì lý do này, em đã chọn vấn đề: “Một số cải cách chính sách
thương mại của Trung Quốc kể từ
sau khi gia nhập WTO và bài học kinh

5
nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp Đại
học Ngoại thương của mình.
1
Tính đến ngày 12/11/2001 Trung Quốc chính thức gia nhập WTO (Nguồn: www.wto.org/english/thewto-e)
Mục đích nghiên cứu:

- Phân tích vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình gia nhập WTO

của Trung Quốc.
- Phân tích kết quả sau một năm Trung Quốc trở thành thành viên chính
thức của WTO cũng như một số cải cách chính sách thương mại.
-
Rút ra những bài học cho Việt Nam trong quá trình đàm phán để sớm
gia nhập có hiệu quả vào WTO.

Đối tượng của phạm vi nghiên cứu:

ột số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
CHƯƠNG I
NHỮNG CAM KẾT CỦA TRUNG QUỐC KHI GIA NHẬP TỔ
CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI I. TIẾN TRÌNH TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO
1. Tiến trình đàm phán
Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa vốn là một trong số 23 quốc gia tham
gia ký kết thành lập Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT)
vào năm 1947. Tuy nhiên đến năm 1950, do chính phủ Quốc dân Đảng ở Đài
Loan tuyên bố rút lui nên Trung Quốc cũng đã rút khỏi GATT. Ngày
11/7/1986, đại sứ Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc Tiền Giai Đông đã gửi công
hàm cho GATT, chính thức đề xuất việc Chính phủ Trung Quốc xin khôi
phụ
c địa vị nước tham gia ký kết GATT.
1.1 Đàm phán đa phương

Năm 1987, GATT đã thành lập “Nhóm công tác về địa vị nước tham gia
ký kết Hiệp định chung của Trung Quốc” để thảo luận các điều kiện trở thành
thành viên nhưng do hậu quả của sự kiện Thiên An Môn năm 1989, quá trình
đàm phán bị tạm hoãn lại. Đàm phán được khôi phục vào năm 1992, nhưng
Trung Quốc đã không đạt được thoả thuận về sự phê chuẩn đa phương không
chính thức vớ
i GATT trước khi GATT chính thức được thay thế bởi WTO
vào tháng 1/ 1995. Chính vì vậy mà quá trình đàm phán của Trung Quốc phải
tiếp tục. Trung Quốc nộp đơn xin trở thành thành viên WTO vào tháng
12/1993; đồng thời đổi tên “Tổ công tác về việc khôi phục lại vị trí của Trung

7

Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) ở Osaka tháng 11/1995, Chủ tịch Giang
Trạch Dân đã thông báo, Trung Quốc sẽ tự nguyện giảm thuế hơn 4000 mặt

8
hàng với mức trung bình 30% và sẽ huỷ bỏ hạn ngạch nhập khẩu hơn 170
hạng mục hàng hoá vào năm 1996. Sau đó trong một buổi làm việc không
chính thức giữa các thành viên WTO vào tháng 12/1995, Trung Quốc tiếp tục
thông báo một số dự định mới:
- Rút ngắn lịch trình giảm thuế trong các ngành sản xuất và khai thác mỏ từ
6 năm xuống còn 3 năm, trong nông nghiệp từ 10 năm xuống còn 5 năm.
- Rút ngắn lị
ch trình huỷ bỏ quyền kinh doanh ngoại thương từ 8 năm xuống
5 năm.
- Giảm thuế nhập khẩu từ 35% xuống còn 23% bằt đầu từ tháng 4/1996.
Đến năm 1995, qúa trình đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc
dường như hoàn tất, nhưng một lần nữa việc đàm phán lại không đi được đến
thoả thuận và đàm phán lại diễn ra trong suốt năm 1996. Tại cuộc họp APEC
ở Manila tháng 11/1996, Trung Quốc đã thông báo cắt giảm thuế và chính
sách tiếp cận thị trường được đưa ra ngay trong chương trình hành động tình
nguyện của APEC. Trung Quốc đã đặt ra kế hoạch đằng sau chuyển động này
để tạo ra môi trường cho sự gia nhập WTO của Trung Quốc trước Nhật Bản
và một số nước Châu Á khác; đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ từ các nước bên
ngoài khu vực. Trung Quốc giới thiệ
u các chương trình hành động riêng lẻ
bao gồm việc giảm thuế mới, mở cửa thị trường và quyền sở hữu trí tuệ. Theo
kế hoạch, Trung Quốc thông báo sẽ:
- giảm mức thuế trung bình từ 23% xuống còn 15% (vào năm 2000).
- xem xét lại các biện pháp phi thuế quan đang tồn tại với 384 mặt hàng và
bãi bỏ tất cả những biện pháp không phù hợp với luật lệ, quy tắc của
WTO.

Cho đến ngày 26/9/1999, Trung Quốc đã đàm phán với 36 nước và EU,
đạt được thoả thuận với trên 20 nước và ký hiệp định chính thức với 12 nước.
Một đối tác quan trọ
ng trong đàm phán song phương khác của Trung
Quốc là EU. Sau nhiều phiên thảo luận, thương lượng, ngày 20/5/2000, Trung
Quốc và EU đã chính thức ký kết hiệp định về việc Trung Quốc gia nhập
WTO.

10
Ngày 17/9/2001, Hội nghị lần thứ 18 tổ công tác WTO họp tại Geneva
đã thông qua văn kiện pháp lý của Nhóm công tác Trung Quốc gia nhập WTO
bao gồm: nghị định thư gia nhập, báo cáo của tổ công tác bao gồm các phụ
lục của Nghị định thư. Hội nghị quyết định trình các văn kiện này lên Đại hội
đồng WTO. Như vậy, tổ công tác đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử 15 năm của
mình. Mặc dù văn kiệ
n pháp luật gia nhập WTO của Trung Quốc còn phải
được kiểm tra và thông qua tại Hôị nghị cấp Bộ trưởng lần thứ 4 cuả WTO tổ
chức ngày 9 - 13/11/2001 tại Doha, Quatar, song trên thực tế, Hội nghị này
thuần tuý là vấn đề thủ tục. Toàn bộ quá trình đàm phán gia nhập WTO của
Trung Quốc về cơ bản đã kết thúc.
Ngày 11/12/2001, Trung Quốc đã chính thức được kết nạp, trở thành
thành viên đầy đủ củ
a WTO.
1.3 Nhận xét về tiến trình Trung Quốc đàm phán để gia nhập WTO

Trải qua 15 năm nỗ lực và cố gắng, cuối cùng Trung Quốc đã bước
chân vào WTO. Quá trình đàm phán gia nhập của WTO của Trung Quốc đã
khẳng định việc Trung Quốc đã chủ động tham gia vào toàn cầu hoá kinh tế,
đơn phương đưa ra các chương trình hành động cụ thể với việc giảm thuế
quan, bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan ... Nhưng hết lần này đến lần khác,

 Tiến trình đàm phán gia nhập WTO chịu ảnh hưởng nặng nề của các nhân
tố chính trị. Nước Mỹ trong khi đàm phán với Trung Quốc đã đưa ra rất
nhiều các
điều kiện hà khắc, có mục đích chính trị rõ ràng, đặc biệt là một
số còn mong muốn cản trở việc Trung Quốc gia nhập WTO để ngăn chặn
việc nâng cao hơn nữa địa vị và sự phát triển của Trung Quốc. Mỹ đã
chính trị hoá việc đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc, làm tăng
thêm mức độ khó khăn trong đàm phán, đồng thời kéo dài tiến trình đàm
phán.
 Cùng vớ
i việc “giá vào cửa” tăng lên, mức độ khó khăn của việc gia nhập
cũng tăng theo. Khi vòng đàm phán thương mại đa phương Urugoay bắt
đầu, ngoài việc thảo luận những vấn đề mang tính truyền thống còn tăng

12
thêm 3 vấn đề mới: thương mại dịch vụ, bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ
và các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại.
 Ảnh hưởng của các nhân tố bảo hộ trong nước. Chế độ kinh tế vẫn có
nhiều điểm chưa hoàn thiện, vẫn tồn tại sự cách biệt nhất định so với
những yêu cầu của WTO, mứ
c độ mở cửa của không ít các ngành còn thấp
hơn so với mức tổng thể của các nước đang phát triển.
Nói tóm lại, một mặt Trung Quốc không ngừng đẩy mạnh cải cách sâu
rộng, hoà nhập vào quỹ đạo phát triển của thế giới, hội nhập vào thị trường
quốc tế, mặt khác các khó khăn và trở ngại trên thể hiện việc Trung Quốc
phản đối chủ nghĩ
a bá quyền, ra sức xây dựng một trật tự mới trong đó đề cao
quyền lợi của Trung Quốc về mặt kinh tế, thương mại, từ đó dẫn đến ảnh
hưởng của Trung Quốc trong WTO về những mặt khác.
2. Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO

- Tăng sức cạnh tranh trong mọi thành phần kinh tế. Gia nh
ập WTO dẫn đến
cơ chế cạnh tranh buộc các xí nghiệp Trung Quốc phải dựa vào tiêu chuẩn
2
Nguồn:

" Trung Quốc gia nhập WTO tác động đến Châu Á " - Ngoại thương 17 - 23/12/1999

quốc tế, vào yêu cầu thị trường để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh,
thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật và nâng cao trình độ quản lý, từ đó nâng cao chất
lượng tổng thể của xí nghiệp. Từ đây, người tiêu dùng Trung Quốc trực
tiếp hưởng lợi: có thêm nhiều lựa chọn sản phẩm, giá thành hạ hơn, chất
lượng cao hơn, nhận thức về
quyền sở hữu trí tuệ và quyền người tiêu
dùng được nâng cao, và tăng tính hiệu quả và sản lượng sản xuất.
- Tăng thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật nước ngoài. Theo tính toán của các
chuyên gia, đến năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc có
thể đạt 100 tỷ USD so với mức hơn 50tỷ USD/năm hiện nay
3
.
Nhiều
công ty nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc sẽ đem theo công nghệ tiên
tiến vào chuyển giao, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu thuế cho
chính phủ.
- Thúc đẩy nhanh hơn cải cách trong nước, xây dựng hệ thống luật pháp
thông thoáng. Để nhập cuộc được cũng như để có thể tồn tại trong sân chơi

14
này, Trung Quốc phải thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc cải cách, đổi mới các
chính sách kinh tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng nhanh cải cách theo

ảng Châu. Mức này sẽ tăng lên 50%

15
trong vòng 2 năm và khi đó, các ràng buộc về mặt địa lý cũng được gỡ bỏ.
Còn theo thoả thuận với Mỹ, mức thuế đánh vào các sản phẩm kỹ thuật cao
như thiết bị viễn thông sẽ giảm dần và bằng 0% vào 2005
4
.
Do vậy các
công ty quốc doanh quy mô lớn về viễn thông sẽ phải đối mặt với tình
trạng cạnh tranh gay gắt.
- Ngành xe hơi: Trước viễn cảnh gia nhập WTO, ngành xe hơi Trung
Quốc nằm trong số những ngành gặp khó khăn lớn nhất. Xe hơi nhập khẩu
giá rẻ hơn, với chất lượng và dịch vụ tốt hơn có thể gây thiệt hại nhiều cho
các liên doanh sản xuất xe hơi Trung Quốc nh
ư General Motors Thượng
Hải hay Volkwagen Thượng Hải. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất xe hơi nội
địa còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các thiết bị và phụ tùng
xe hơi nhập khẩu ào ạt khi mức thuế giảm nhanh.
Bên cạnh đó, ngân hàng, nông nghiệp, chứng khoán, bảo hiểm, năng
lượng - dầu mỏ, phân phối - bán lẻ cũng được xem là những "lĩnh vực
nóng" bởi ch
ịu nhiều sức ép khi Trung Quốc gia nhập WTO.
4
Nguồn: Báo cáo Bộ thương mại Hoa Kỳ 7/ 2002

2.2. Tác động đối với quốc tế:
Gia nhập WTO đồng nghĩa với với việc Trung Quốc cắt giảm thuế và
hạn ngạch đối với nhiều loại hàng, từ rau quả tới gạo, ô tô, đồng thời xoá
bỏ

Nguồn: Bing Zhang, trường Chính sách công cộng và Quản lý, ĐH bang Ohio, Hoa Kỳ, 2000. Xem
thêm: The New York Times, 15/11/ 1999. Tóm tắt hiệp định WTO song phương Mỹ - Trung http://www.
Uschina.org. Toàn nội dung hiệp định:
đối với các nước đang phát triển khác ở Châu Á về các mặt: thu hút đầu tư
nước ngoài, xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản. Tuy nhiên
bù lại các nước đang phát triển Châu Á cũng có các điều kiện thuận lợi hơn
để xâm nhập thị trường Trung Quốc - một thị trường có tiềm năng lớn nhất
thế giới.
Trên phương diện thương mại, việc giả
m thuế nhập khẩu và mở cửa
thị trường Trung Quốc sẽ mang lại lợi ích lớn cho những nước có trình độ
cao hơn trong khu vực. Tổng giá trị nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp

17
có hàm lượng vốn và chất xám cao sẽ tăng nhanh tại thị trường Trung
Quốc.
Các nhà sản xuất Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông, Ấn Độ là những người được hưởng lợi đầu tư vì sản phẩm của họ có
chất lượng cao, giá thành thấp, chi phí vận chuyển nhỏ hơn do ưu thế gần
Trung Quốc về địa lý. Hàng hóa của các nhà sản xuất này là sản phẩm củ
a
các ngành công nghệ cao, đặc biệt trong các ngành viễn thông, dịch vụ, tài
chính, có khả năng cạnh tranh cao hơn so với các sản phẩm cùng loại sản
xuất tại Trung Quốc.
Trong số các quốc gia và khu vực phát triển cao hơn Trung Quốc, có
thể Đài Loan là giành được nhiều lợi nhất ở Châu Á. Nhiều công ty Đài
Loan từ lâu đã coi Trung Quốc là cơ sở sản xuất của mình. Khi Trung Quốc
gia nhập WTO, rủi ro vào đầu tư Trung Quố
c sẽ giảm đi do hạn chế mà
nước này có thể áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên của

Quốc thâm nhập vào các nước ASEAN gia tăng, hàng Trung Quốc phong
phú, nhiều phẩm cấp, có khả năng đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của thị
trường.
Bù lại, các nước Đông Nam Á, nhất là những nước xuất khẩu tài
nguyên thiên nhiên như Indonesia, Việt Nam, và những nước sản xuất nông
nghiệp như Thái Lan, Việ
t Nam có thể sẽ tăng được thị phần hàng nông sản
và nguyên liệu thô trên thị trường Trung Quốc.
Lợi thế của ASEAN khi Trung Quốc gia nhập WTO là khả năng suất
khẩu các loại nông, thuỷ, sản mà khu vực này có lợi thế như gạo, cà phê,
tôm, đường, cá. Theo quy chế của WTO, các thành viên của WTO là các
nước đang phát triển phải mở cửa thị trường nông sản của mình theo hệ
thống hạn ngạch (MAV) đạt t
ừ 3-5% mức tiêu thụ trong nước, ngay khi gia
nhập WTO, Trung Quốc phải giảm thuế nhập khẩu nông sản còn bình quân
là 20% và sau 3 năm còn 14,5%. Trong bối cảnh này, Thái Lan và Việt
Nam được đánh giá là có nhiều lợi thế nhất. Hiện nay khoảng 20% nông
sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan là vào thị trường Trung Quốc. Trong đó

19
xuất khẩu gạo từ 250.000 đến 350.000 tấn/năm, chủ yếu là gạo thơm và
gạo 100% B. Năm 1999, Trung Quốc nhập khoảng 700,000 tấn gạo. Với
mức tiêu thụ là 120 triệu tấn/năm hiện nay, nhập khẩu gạo của Trung Quốc
sẽ tăng thêm 6 triệu tấn/năm
6
.

Khả năng cạnh tranh xuất khẩu hàng điện tử, thiết bị và đồ gia dụng
của Philippines và Malaysia sẽ bị ảnh hưởng đáng kể, bởi đây là thế mạnh
của Trung Quốc. Còn với Thái Lan và Việt Nam, những sản phẩm bị bất


Bảng 1: DÒNG CHẢY FDI THẾ GIỚI VÀO CHÂU Á, 1995 – 2002
Đơn vị: tỷ USD

1995 1996 1997 1998 1999 2000 1995-2000 2002
Châu Á 75,3 94,6 110,4 98.9 112,4 151,7 643,3
Trung Quốc 35,8 40,2 44,2 43,8 40,3 40,8 45,1 50.2
Hong Kong 6,2 10,5 11,4 14,8 24,6 64,4 131,9
Trung Quốc
và HongKong
42 50,7 55,6 58,6 64,9 105,2 377
Nhật Bản 0 0,2 3,2 3,3 12,7 8,2 27,6
Indonesia 4,3 6,2 4,7 (0,4) (2,7) (4,6) 7,5
Hàn Quốc 1,8 2,3 2,8 5,4 10,6 10,2 33,1
Malaysia 5,8 7,3 6,5 2,7 3,5 5,5 31,3
Philippines 1,5 1,5 1,2 1,8 0,7 1,5 8,2
Singapore 8,8 10,4 13,0 6,3 7,2 6,4 52,1
Đài Loan 1,6 1,9 2,2 0,2 2,9 4,9 13,7
Vietnam 2,3 2,5 2,8 2,3 2,0 2,1 1,4 1,55
Nguồn: Báo cáo đầu tư thế giới, UNCTAD, 2001
Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã thoả thuận tiến hành biện pháp
“Thu hoạch sớm”, trong đó, thuế quan của tám loại hàng nông sản gồm
động vật sống, thịt, cá, sữa, rau, quả, hạt, và các sản phẩm động vật khác
với tổng số khoảng 500 - 600 hạng mục sẽ được giảm trước năm 2004
7
.
Mức thuế tối huệ quốc trên 15% sẽ được giảm xúông 10% vào năm 2005

21
và 0% vào năm 2006. Trung Quốc cũng sẽ giảm thuế và cho hưởng quy chế

hoá ASEAN từ đầu năm 2004. Đây sẽ là cơ sở để các quan hệ thương mại

22
và đầu tư giữa Trung Quốc và ASEAN tăng mạnh hơn trong những năm
tới. II. CAM KẾT CỦA TRUNG QUỐC TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP
WTO
1. Nhận xét chung
Trong gần 1.000 trang nghị định thư của Trung Quốc gia nhập WTO về
các cam kết thực hiện sau khi gia nhập WTO thể hiện những thay đổi sẽ diễn
ra ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân với mức độ không
giống nhau, tuy nhiên đem lại cho Trung Quốc một diện mạo trên thế giới.
Nằm ở Đông Bắc Á, Trung Quốc có biên giới l
ục địa dài hơn 20.000
km, tiếp giáp với 15 nước, có biên giới biển với 8 nước, với diện tích lãnh
thổ 9.600.000 km2 đứng thứ ba trên thế giới (sau Nga và Canada) và có 1,3
tỷ dân chiếm 22% dân số thế giới là những lợi thế duy nhất trên thế giới
đối với một quốc gia như Trung Quốc. Nhận thức rõ được những ưu điểm
này mà các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã tìm ra được hướng
đi riêng theo phươ
ng châm “ biết mình, biết người” trong việc đưa ra các
cam kết gia nhập WTO, bên cạnh những cam kết bắt buộc của các nước
thành viên WTO. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong suốt 2 thập kỷ
qua, nền kinh tế Trung Quốc đã vững vàng để cạnh tranh với các nền kinh
tế khác một khi gia nhập vào hệ thống thương mại lớn nhất thế giới WTO.
Cam kết của Trung Quốc được đư
a ra với mục đích đánh giá và củng cố
các mối quan hệ kinh tế và thương mại hai bên cùng có lợi và bình đẳng với

ốt để Trung Quốc tiến hành cải cách
mở cửa sâu rộng đối với trong nước và tham gia được vào việc hình thành các
nguyên tắc thương mại thế giới mới đối với thế giới. Thấy được những lợi ích
rõ ràng, Chính phủ Trung Quốc đã cam kết “mở rộng” cánh cửa kinh tế cùng
hội nhập với thế giới. 2. Một số cam kết cụ thể

24
2.1 Thương mại hàng hoá
2.1.1. Ngành ô tô
Trung Quốc sẽ giảm thuế nhập khẩu ô tô còn 25% vào giữa năm 2006 so
với mức 80% - 100% hiện nay và xoá bỏ hạn ngạch vào năm 2005. Hiệp định
với EU buộc Trung Quốc phải xoá bỏ mọi hạn chế với các loại xe hơi được
sản xuất từ các liên doanh Trung Quốc - EU trong vòng 2 năm. Ngành ô tô
nước này sẽ là một trong những ngành bị ảnh hưởng nặng nhất khi Trung
Quốc gia nhập WTO do phải cạnh tranh mạnh mẽ trong điều kiện nhập khẩu
ô tô và phụ tùng ô tô tăng mạnh sau khi giảm thuế. Thuế đối với linh kiện ô tô
sẽ giảm từ mức trung bình 23,4% xuống còn trung bình 10%. Ngoài ra, các
hãng nước ngoài được phép hoạt động mua bán và mạng lưới dịch vụ riêng
trong vòng 3 sau khi Trung Quốc vào WTO.
2.1.2 Ngành dệt may
Lĩnh vực dệt may Trung Quốc là một trong số rất ít lĩnh vực sẽ có lợi
nhờ
gia nhập WTO khi xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu. Theo hiệp định WTO,
Trung Quốc chấm dứt hạn ngạch nhập khẩu sản phẩm dệt may vào ngày
1/1/2005. Tuy nhiên, việc này sẽ cho phép các nước nhập khẩu hàng dệt may
Trung Quốc hạn chế hàng nhập khẩu khi hàng Trung Quốc phá vỡ thị trường
của họ.

phần ở các
công ty viễn thông di động, tăng lên 35% một năm sau đó, và lên 49% trong 3
năm tiếp theo. Trong các dịch vụ Internet, truyền thông và các dịch vụ trị giá
gia tăng khác, các công ty nước ngoài có thể được nắm giữ ngay 30% ở các
công ty Trung Quốc thuộc các tỉnh Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu, tỷ
lệ này tăng lên 50% sau 2 năm khi mọi hạn chế về khu vực địa lý được xoá
bỏ. Thuế đối với các sản phẩm công ngh
ệ cao như thiết bị viễn thông sẽ được
giảm dần và xoá bỏ vào năm 2005. Dịch vụ đường dài và có dây cố định sẽ
được mở cửa chậm nhất, với 25% sau 3 năm và 49% sau 6 năm. Các công ty
viễn thông quốc gia khổng lồ có thể sẽ phải cạnh tranh mạnh mẽ, song đầu
nước ngoài vào các dịch vụ và hạ tầng cơ sở sẽ tăng mạnh. Trung Quốc đồng

Trích đoạn NHẬN XÉT CHUNG Đưa quyền tự chủ sản xuất và kinh doanh ngoại thương xuống các địa phương. Cơ cấu lại nền kinh tế ngũ cốc để nuôi sống 1,3 tỷ dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status