1
Mục lục
Trang
Lời nói đầu
4
Chơng I: Những cam kết của Trung Quốc khi gia nhập
WTO
6
I. Tiến trình Trung Quốc gia nhập WTO
6
1. Tiến trình đàm phán
1.1 Đàm phán đa phơng
1.2 Đàm phán song phơng
1.3 Nhận xét về tiến trình Trung Quốc đám phán để gia nhập WTO
6
6
9
10
2. Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO
2.1 Đối với bản thân Trung Quốc
2.2 Đối với quốc tế
2.3 Đối với khu vực Châu á - ASEAN
12
12
15
15
II. Cam kết của Trung Quốc trong quá trình gia nhập WTO
21
1. Nhận xét chung
21
2. Một số cam kết cụ thể
31
1. Một số cải cách thơng mại cụ thể
1.1 Cải cách liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
1.2 Đa quyền tự chủ sản xuất và kinh doanh ngoại thơng xuống các địa
phơng
1.3 Cơ cấu lại nền kinh tế
1.4 Thay đổi các quy định phù hợp với thông lệ quốc tế
1.5 Tập trung cho các ngành công nghiệp mũi nhọn
1.6 Đủ ngũ cốc để nuôi sống 1,3 tỷ dân
1.7 Giữ tốc độ tăng trởng bình quân 7% trong năm năm tới
1.8 Cơ chế quản lý
31
31
32
34
36
37
39
40
41
2. Kết quả sau một năm gia nhập WTO
II.1 Xuất nhập khẩu và nội tiêu
II.2 Kết quả FDI
II.3 Thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử
II.4 Hội nhập kinh tế toàn cầu
43
43
50
53
54
3
6. Những việc Việt Nam cần thực hiện để chuẩn bị cho tiến trình gia nhập
WTO
66
Kết luận
69
Phụ lục
71
Tài liệu tham khảo
76
Lời nói đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế hoá nền kinh tế hiện nay, hội
nhập và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế không
thể nào đảo ngợc đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế của
mình, và Việt Nam không nằm ngoài xu thế chung này.
Tham gia vào tổ chức thơng mại quốc tế (WTO) - tổ chức thơng mại
toàn cầu lớn nhất và quan trọng nhất, thu hút tới 144/ 200
1
nớc thành viên
Liên hiệp quốc và chi phối tới 95% tổng kim ngạch thơng mại toàn thế giới, là
đích hội tụ và mẫu số chung của các nớc trong xu hớng mở cửa hội nhập kinh
tế.
Việc tham gia WTO sẽ mang lại cho quốc gia thành viên nhiều cơ hội
mới, lớn lao về mở rộng thị trờng xuất - nhập khẩu, tiếp nhận những hàng hoá,
dịch vụ, công nghệ kỹ thuật và quản lý, đợc đối xử công bằng trên thị trờng
quốc tế, cải thiện các điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế và nâng cao
chất lợng cuộc sống của nhân dân trong nớc. Nhận thức đợc tầm quan trọng và
lợi ích của việc tham gia sân chơi quốc tế này, Chính phủ Việt Nam đã đặt
mục tiêu trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2005. Để thực
Ph ơng pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài này, tác giả đã vận dụng phơng pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; và quan điểm, đ-
ờng lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng. Đề bài này cũng sử dụng các
phơng pháp nghiên cứu tổng hợp nh: thu thập, so sánh, phân tích và tổng hợp.
Bố cục của khoá luận:
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, kết cấu đề tài đợc chia thành 3 chơng:
Chơng 1: Những cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO.
Chơng 2: Một số cải cách chính sách thơng mại của Trung Quốc sau khi gia
nhập WTO.
Chơng 3: Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Chơng I
5
Những cam kết của Trung Quốc khi gia nhập tổ
chức thơng mại thế giới
I. Tiến trình Trung Quốc gia nhập WTO
1. Tiến trình đàm phán
Nớc cộng hoà nhân dân Trung Hoa vốn là một trong số 23 quốc gia tham
gia ký kết thành lập Hiệp định chung về Thuế quan và thơng mại (GATT) vào
năm 1947. Tuy nhiên đến năm 1950, do chính phủ Quốc dân Đảng ở Đài Loan
tuyên bố rút lui nên Trung Quốc cũng đã rút khỏi GATT. Ngày 11/7/1986, đại
sứ Trung Quốc ở Liên Hiệp Quốc Tiền Giai Đông đã gửi công hàm cho GATT,
chính thức đề xuất việc Chính phủ Trung Quốc xin khôi phục địa vị nớc tham
gia ký kết GATT.
1.1 Đàm phán đa ph ơng
Năm 1987, GATT đã thành lập Nhóm công tác về địa vị nớc tham gia ký
kết Hiệp định chung của Trung Quốc để thảo luận các điều kiện trở thành
thành viên nhng do hậu quả của sự kiện Thiên An Môn năm 1989, quá trình
đàm phán bị tạm hoãn lại. Đàm phán đợc khôi phục vào năm 1992, nhng
Trung Quốc đã không đạt đợc thoả thuận về sự phê chuẩn đa phơng không
Trạch Dân đã thông báo, Trung Quốc sẽ tự nguyện giảm thuế hơn 4000 mặt
hàng với mức trung bình 30% và sẽ huỷ bỏ hạn ngạch nhập khẩu hơn 170
hạng mục hàng hoá vào năm 1996. Sau đó trong một buổi làm việc không
chính thức giữa các thành viên WTO vào tháng 12/1995, Trung Quốc tiếp tục
thông báo một số dự định mới:
- Rút ngắn lịch trình giảm thuế trong các ngành sản xuất và khai thác mỏ từ
6 năm xuống còn 3 năm, trong nông nghiệp từ 10 năm xuống còn 5 năm.
- Rút ngắn lịch trình huỷ bỏ quyền kinh doanh ngoại thơng từ 8 năm xuống
5 năm.
- Giảm thuế nhập khẩu từ 35% xuống còn 23% bằt đầu từ tháng 4/1996.
Đến năm 1995, qúa trình đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc dờng
nh hoàn tất, nhng một lần nữa việc đàm phán lại không đi đợc đến thoả thuận
và đàm phán lại diễn ra trong suốt năm 1996. Tại cuộc họp APEC ở Manila
tháng 11/1996, Trung Quốc đã thông báo cắt giảm thuế và chính sách tiếp cận
thị trờng đợc đa ra ngay trong chơng trình hành động tình nguyện của APEC.
Trung Quốc đã đặt ra kế hoạch đằng sau chuyển động này để tạo ra môi trờng
cho sự gia nhập WTO của Trung Quốc trớc Nhật Bản và một số nớc Châu á
khác; đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ từ các nớc bên ngoài khu vực. Trung Quốc
giới thiệu các chơng trình hành động riêng lẻ bao gồm việc giảm thuế mới, mở
cửa thị trờng và quyền sở hữu trí tuệ. Theo kế hoạch, Trung Quốc thông báo
sẽ:
- giảm mức thuế trung bình từ 23% xuống còn 15% (vào năm 2000).
7
- xem xét lại các biện pháp phi thuế quan đang tồn tại với 384 mặt hàng và
bãi bỏ tất cả những biện pháp không phù hợp với luật lệ, quy tắc của WTO.
- Mở cửa thị trờng hơn trong các lĩnh vực nh: ngân hàng, bảo hiểm, chứng
khoán, bán lẻ, vận tải, thông tin, du lịch và các lĩnh vực khác.
- Sửa đổi luật và các quy định có liên quan tới việc bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ.
- Thực hiện một cách đầy đủ các thoả thuận của vòng đàm phán Urugoay
WTO. Nh vậy, tổ công tác đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử 15 năm của mình.
Mặc dù văn kiện pháp luật gia nhập WTO của Trung Quốc còn phải đợc kiểm
tra và thông qua tại Hôị nghị cấp Bộ trởng lần thứ 4 cuả WTO tổ chức ngày 9 -
13/11/2001 tại Doha, Quatar, song trên thực tế, Hội nghị này thuần tuý là vấn
đề thủ tục. Toàn bộ quá trình đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc về cơ
bản đã kết thúc.
Ngày 11/12/2001, Trung Quốc đã chính thức đợc kết nạp, trở thành thành
viên đầy đủ của WTO.
1.3 Nhận xét về tiến trình Trung Quốc đàm phán để gia nhập WTO
Trải qua 15 năm nỗ lực và cố gắng, cuối cùng Trung Quốc đã bớc chân
vào WTO. Quá trình đàm phán gia nhập của WTO của Trung Quốc đã khẳng
định việc Trung Quốc đã chủ động tham gia vào toàn cầu hoá kinh tế, đơn ph-
ơng đa ra các chơng trình hành động cụ thể với việc giảm thuế quan, bãi bỏ
các biện pháp phi thuế quan Nhng hết lần này đến lần khác, Trung Quốc
vẫn vấp phải những trở ngại trong đàm phán. Nguyên nhân có thể thấy ở cả
nhân tố chủ quan và khách quan gồm:
Vấn đề t cách gia nhập của Trung Quốc: Trung Quốc luôn xác định là một
nớc đang phát triển, có nghĩa Trung Quốc thực hiện những quyền lợi và
nghĩa vụ phù hợp với những đIều kiện của một nớc đang phát triển. Nhng
các nớc tham gia ký kết lại đánh gia cao trình độ và thực lực phát triển kinh
tế của Trung Quốc, tuyên bố Trung Quốc nên gia nhập WTO theo những
điều kiện của một nớc phát triển. Điều này không những không phù hợp
với thực trạng kinh tế TQ mà còn mâu thuẫn với hàng loạt các chính sách
Trung Quốc. Chính điều này đã gây ra những bất đồng dai dẳng trong khi
đàm phán ký kết các thoả thuận song phơng và đa phơng.
Các bên đàm phán quan trọng nh Mỹ đã không ngừng đa ra cái giá vào
cửa quá cao và hà khắc, tạo ra những trở ngại lớn trong việc Trung Quốc
khôi phục lại địa vị tại GATT và gia nhập WTO. Về mặt thuế quan, đàm
phán chủ yếu yêu cầu Trung Quốc thực hiện thuế suất 0% hoặc yêu cầu
điều chỉnh mức thuế suất đối với hàng nhập khẩu. Đối với biện pháp phi
2. Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO
2.1 Đối với bản thân Trung Quốc
2.1.1 Tác động tích cực:
10
Việc gia nhập WTO giúp Trung Quốc duy trì và phát triển kinh tế
trong khi tiếp tục trơng trình cải cách và cơ cấu của mình. Những lợi ích đ-
ợc thể hiện ở mấy điểm sau đây:
- Duy trì tốc độ tăng trởng kinh tế cao trong suốt hai thập kỷ qua với mức
tăng trởng bình quân gần 10%/ năm.
- Tham gia hình thành luật thơng mại và đầu t quốc tế với vai trò thành
viên WTO
- Bảo vệ lợi ích thơng mại qua hệ thống giải quyết tranh chấp WTO
Mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Trung Quốc và thúc đẩy
thơng mại phát triển. Hiện có tới 90% kim ngạch ngoại thơng của Trung
Quốc là với các thành viên WTO, xuất khẩu của Trung Quốc, đặc biệt là
xuất khẩu hàng dệt may sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh thị trờng thế giới. Dệt
may đợc coi là hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm tới 25% kim ngạch xuất khẩu
của Trung Quốc. Dự tính vào năm 2005 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này
sẽ tăng gấp đôi mức hiện nay và đạt 70 tỷ USD. Cộng với thu nhập từ các
mặt hàng khác, hàng năm Trung Quốc có thể thu đợc thêm 116 tỷ USD, t-
ơng đơng 1% tăng trởng GDP
2
. Bên cạnh việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá
trong nớc, Trung Quốc còn tận dụng cơ hội từ nhập khẩu nh lựa chọn nhập
những hàng hoá có kỹ thuật cao, những công nghệ mới nhất, để nhanh
chóng phát triển ngành có kỹ thuật cao, những ngành mũi nhọn, nhanh
chóng đuổi kịp các nớc phát triển trên thế giới .
- Tăng sức cạnh tranh trong mọi thành phần kinh tế. Gia nhập WTO dẫn đến
cơ chế cạnh tranh buộc các xí nghiệp Trung Quốc phải dựa vào tiêu chuẩn
2
3
Nguồn: Nghiên cứu Trung Quốc số 6 (40) - 2001)
nh máy tính, thiết bị thông tin, ô tô du lịch về quy mô sản xuất, chất lợng
sản phẩm của Trung Quốc không thể bằng các nớc phơng Tây. Ngoài một
số ít ngành đợc bảo hộ nhất thời, tuyệt đại đa số mất đi lá chắn bảo hộ,
hoàn toàn đặt mình vào môi trờng cạnh tranh quốc tế, nên sức ép cạnh tranh
là rất lớn.Những ngành chịu sức ép cạnh tranh lớn phải đối mặt với nhiều
khó khăn nhất là:
- Ngành viễn thông: Theo thoả thuận với EU, các nhà đầu t nớc ngoài (viết
tắt ĐTNN) đợc phép mua ngay 25% cổ phần công ty điện thoại di động của
Trung Quốc khi nớc nay gia nhập WTO, và 3 năm sau sẽ tăng lên mức 49%.
Các công ty nớc ngoài đợc phép mua ngay 30% cổ phần các công ty
Internet, dịch vụ nhắn tin và nhiều dịch vụ khác của Trung Quốc ở Bắc
Kinh, Thợng Hải và Quảng Châu. Mức này sẽ tăng lên 50% trong vòng 2
năm và khi đó, các ràng buộc về mặt địa lý cũng đợc gỡ bỏ. Còn theo thoả
thuận với Mỹ, mức thuế đánh vào các sản phẩm kỹ thuật cao nh thiết bị
viễn thông sẽ giảm dần và bằng 0% vào 2005
4
. Do vậy các công ty quốc
12
doanh quy mô lớn về viễn thông sẽ phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh
gay gắt.
- Ngành xe hơi: Trớc viễn cảnh gia nhập WTO, ngành xe hơi Trung Quốc
nằm trong số những ngành gặp khó khăn lớn nhất. Xe hơi nhập khẩu giá rẻ
hơn, với chất lợng và dịch vụ tốt hơn có thể gây thiệt hại nhiều cho các liên
doanh sản xuất xe hơi Trung Quốc nh General Motors Thợng Hải hay
Volkwagen Thợng Hải. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất xe hơi nội địa còn
phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các thiết bị và phụ tùng xe hơi
nhập khẩu ào ạt khi mức thuế giảm nhanh.
Bên cạnh đó, ngân hàng, nông nghiệp, chứng khoán, bảo hiểm, năng l-
5
Nguồn: Bing Zhang, trờng Chính sách công cộng và Quản lý, ĐH bang Ohio, Hoa Kỳ, 2000. Xem thêm:
The New York Times, 15/11/ 1999. Tóm tắt hiệp định WTO song phơng Mỹ - Trung http://www.
Uschina.org. Toàn nội dung hiệp định: http://www.uschina.org
đối với các nớc đang phát triển khác ở Châu á về các mặt: thu hút đầu t nớc
ngoài, xuất khẩu sang thị trờng Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản. Tuy nhiên bù lại
các nớc đang phát triển Châu á cũng có các điều kiện thuận lợi hơn để xâm
nhập thị trờng Trung Quốc - một thị trờng có tiềm năng lớn nhất thế giới.
Trên phơng diện thơng mại, việc giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị tr-
ờng Trung Quốc sẽ mang lại lợi ích lớn cho những nớc có trình độ cao hơn
trong khu vực. Tổng giá trị nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp có hàm l-
ợng vốn và chất xám cao sẽ tăng nhanh tại thị trờng Trung Quốc.
Các nhà sản xuất Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông, ấn Độ là những ngời đợc hởng lợi đầu t vì sản phẩm của họ có chất
lợng cao, giá thành thấp, chi phí vận chuyển nhỏ hơn do u thế gần Trung
Quốc về địa lý. Hàng hóa của các nhà sản xuất này là sản phẩm của các
ngành công nghệ cao, đặc biệt trong các ngành viễn thông, dịch vụ, tài
chính, có khả năng cạnh tranh cao hơn so với các sản phẩm cùng loại sản
xuất tại Trung Quốc.
Trong số các quốc gia và khu vực phát triển cao hơn Trung Quốc, có
thể Đài Loan là giành đợc nhiều lợi nhất ở Châu á. Nhiều công ty Đài Loan
từ lâu đã coi Trung Quốc là cơ sở sản xuất của mình. Khi Trung Quốc gia
nhập WTO, rủi ro vào đầu t Trung Quốc sẽ giảm đi do hạn chế mà nớc này
có thể áp dụng đối với những nớc cha phải là thành viên của WTO nh vấn
đề hạn ngạch nhập khẩu đợc dỡ bỏ.
Cùng với Đài Loan, Hông Kông cũng đợc lợi nhiều. Cái lợi lớn nhất
của vùng này là các dịch vụ tài chính. Gia nhập WTO, Trung Quốc cam kết
dần dần mở cửa các dịch vụ tài chính. Việc này tạo điều kiện cho Hồng
Kông khi các hãng nớc ngoài giành cho nhiều tài lực hơn cho thị trờng
Trung Quốc. Phía các hãng Trung Quốc cũng sẽ tìm đến các nguồn vốn và
ngạch (MAV) đạt từ 3-5% mức tiêu thụ trong nớc, ngay khi gia nhập WTO,
Trung Quốc phải giảm thuế nhập khẩu nông sản còn bình quân là 20% và
sau 3 năm còn 14,5%. Trong bối cảnh này, Thái Lan và Việt Nam đợc đánh
giá là có nhiều lợi thế nhất. Hiện nay khoảng 20% nông sản phẩm xuất
khẩu của Thái Lan là vào thị trờng Trung Quốc. Trong đó xuất khẩu gạo từ
15
250.000 đến 350.000 tấn/năm, chủ yếu là gạo thơm và gạo 100% B. Năm
1999, Trung Quốc nhập khoảng 700,000 tấn gạo. Với mức tiêu thụ là 120
triệu tấn/năm hiện nay, nhập khẩu gạo của Trung Quốc sẽ tăng thêm 6 triệu
tấn/năm
6
.
Khả năng cạnh tranh xuất khẩu hàng điện tử, thiết bị và đồ gia dụng
của Philippines và Malaysia sẽ bị ảnh hởng đáng kể, bởi đây là thế mạnh
của Trung Quốc. Còn với Thái Lan và Việt Nam, những sản phẩm bị bất lợi
nhất khi Trung Quốc gia nhập WTO là hàng dệt may, da giày, điện tử, công
nghiệp nhẹ.
Tiếp đến là vấn đề cạnh tranh thu hút đầu t. Môi trờng đầu t của Trung
Quốc đã mang tính cạnh tranh hơn các nớc ASEAN nói chung từ nhiều năm
nay. Tỷ lệ vốn FDI vào Trung Quốc và ASEAN những năm đầu thập niên 90
là 3/7, những năm gần đây đã hoàn toàn đảo ngợc, nghĩa là 7/3 (tham khảo
bảng 1). Giờ đây các nớc sẽ càng gia tăng đầu t vào Trung Quốc để hởng u
đãi mà WTO dành cho nớc này.
Năm 2002 đã đánh dấu một bớc tiến mới trong quan hệ Trung Quốc -
ASEAN. Ngày 4/11/2002, Trung Quốc và Hiệp hội các nớc Đông Nam á
(ASEAN) đã ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế tại Campuchia, tạo tiền
đề thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (CAFTA) vào
năm 2010. Đây sẽ là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới với 1,8 tỷ dân
6
Nguồn: www.wto.org, www.moftec.gov.cn
Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã thoả thuận tiến hành biện pháp
Thu hoạch sớm, trong đó, thuế quan của tám loại hàng nông sản gồm
động vật sống, thịt, cá, sữa, rau, quả, hạt, và các sản phẩm động vật khác
với tổng số khoảng 500 - 600 hạng mục sẽ đợc giảm trớc năm 2004
7
. Mức
thuế tối huệ quốc trên 15% sẽ đợc giảm xúông 10% vào năm 2005 và 0%
vào năm 2006. Trung Quốc cũng sẽ giảm thuế và cho hởng quy chế tối huệ
quốc đối với các nớc ASEAN cha là thành viên của WTO nh Việt Nam, Lào
và Campuchia.
Mặc dù sự xuất hiện của CAFTA khiến ASEAN phải đối mặt với nguy
cơ tràn ngập hàng hoá rẻ tiền của Trung Quốc, nhng về lâu dài, cả hai nền
kinh tế đều có lợi. Hiện tại, Trung Quốc là đối tác thơng mại lớn thứ sáu
của ASEAN, còn ASEAN là bạn hàng lớn thứ năm của Trung Quốc. Kim
ngạch ngoại thơng với ASEAN chiếm 8% tổng kim ngạch ngoại thơng của
Trung Quốc với mức tăng bình quân hàng năm khoảng 15%.
Dự tính với CAFTA, xuất khẩu của ASEAN sang Trung Quốc sẽ tăng
khoảng 48% giúp GDP mỗi nớc trong nhóm này tăng khoảng 0,9%. Ngợc
lại, xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN tăng 55% và GDP tăng 0,3%.
Các nhà xuất khẩu Đông Nam á đợc thâm nhập vào thị trờng rộng lớn của
17
Trung Quốc và do vậy cảm thấy yên tâm hơn khi họ sẽ lệ thuộc ít hơn vào
thị trờng của Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu của 6 nớc chủ chốt của ASEAN
cộng với Đài Loan và Hàn Quốc sang Trung Quốc đã tăng 50% trong nửa
đầu của năm 2002 trong khi xuất khẩu của các nớc này sang Mỹ và Nhận
Bản không tăng.
Việc bắt đầu thực hiện CAFTA sẽ thúc đẩy thơng mại trong ASEAN,
đồng thời đòi hỏi phải nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh. Trung
Quốc là nớc có vị thế thuận lợi trong việc giữ vai trò chính thúc đẩy hoạt
động giao thơng giữa các nớc trong vùng.
quốc kinh tế nào.
Theo lịch trình cụ thể, Trung Quốc cam kết sẽ xoá bỏ sự phân biệt đối
với hàng hoá nhập khẩu tại thị trờng Trung Quốc, xoá bỏ hệ thống hai giá, loại
bỏ các hạn chế về buôn bán, đa vào những sắp xếp hành chính thống nhất,
giảm thuế hoặc xoá bỏ hạn ngạch với hàng dệt may, xoá bỏ các hàng rào phi
thuế quan, mở cửa đối với các lĩnh vực dịch vụ nh ngân hàng, bảo hiểm, chứng
khoán, viễn thông, bu điện, luật pháp, kế toán, dịch vụ liên quan đến máy tính,
xoá bỏ kiểm soát giá, cải cách các doanh nghiệp thơng mại nhà nớc và cho
phép các công ty nớc ngoài tăng tỷ lệ sở hữu cũng nh phân phối hàng hoá tại
Trung Quốc.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đồng ý tham gia nhiều hiệp định liên quan tới
cải cách luật pháp, cấp phép nhập khẩu, và trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ
(SOE), thực hiện nghĩa vụ với hơn 20 hiệp định WTO đa phơng nh GATT,
Hiệp định chung về Thơng mại dịch vụ (GATS), hàng rào kỹ thuật đối với th-
ơng mại (TBT), các biện pháp đầu t liên quan đến thơng mại (TRIMs), lĩnh
vực sở hữu trí tuệ liên quan đến thơng mại (TRIPs).
Nhìn chung, việc gia nhập WTO đem lại cho Trung Quốc nhiều cơ hội
hơn là thách thức. Xét về mặt chiến lợc, hội nhập hơn nữa vào hệ thống kinh tế
thế giới là phù hợp với lợi ích căn bản của Trung Quốc. Toàn cầu hoá là xu thế
tất yếu, Trung Quốc cần giữ một vị trí có lợi hơn trong trào lu kinh tế toàn cầu
trong thế kỷ mới, nắm quyền chủ động hơn và phát triển mạnh mẽ hơn. Gia
nhập WTO là một khâu then chốt để Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa
sâu rộng đối với trong nớc và tham gia đợc vào việc hình thành các nguyên tắc
thơng mại thế giới mới đối với thế giới. Thấy đợc những lợi ích rõ ràng, Chính
phủ Trung Quốc đã cam kết mở rộng cánh cửa kinh tế cùng hội nhập với thế
giới.
2. Một số cam kết cụ thể
19
2.1 Thơng mại hàng hoá
II.1.1. Ngành ô tô
Trung Quốc đã đồng ý mở cửa các lĩnh vực dầu thô và dầu chế biến cho
các thơng gia t nhân qua việc tự do hoá dần và giảm sự độc quyền mậu dịch
bằng việc cho lĩnh vực t nhập nhập khẩu 4 triệu tấn các sản phẩm dầu và 10%
dầu thô nhập khẩu. Trung Quốc cũng sẽ mở cửa lĩnh vực phân phối bán lẻ mặt
hàng này sau 3 năm gia nhập WTO, và cho phép các công ty nớc ngoài có ít
nhất 30% ở mỗi trạm xăng dầu. Trung Quốc sẽ mở cửa thị trờng bán buôn sau
5 năm gia nhập WTO.
2.2 Thơng mại dịch vụ
2.2.1 Lĩnh vực viễn thông:
Các nhà kinh doanh nớc ngoài đợc phép nắm tới 25% cổ phần ở các công
ty viễn thông di động, tăng lên 35% một năm sau đó, và lên 49% trong 3 năm
tiếp theo. Trong các dịch vụ Internet, truyền thông và các dịch vụ trị giá gia
tăng khác, các công ty nớc ngoài có thể đợc nắm giữ ngay 30% ở các công ty
Trung Quốc thuộc các tỉnh Bắc Kinh, Thợng Hải và Quảng Châu, tỷ lệ này
tăng lên 50% sau 2 năm khi mọi hạn chế về khu vực địa lý đợc xoá bỏ. Thuế
đối với các sản phẩm công nghệ cao nh thiết bị viễn thông sẽ đợc giảm dần và
xoá bỏ vào năm 2005. Dịch vụ đờng dài và có dây cố định sẽ đợc mở cửa
chậm nhất, với 25% sau 3 năm và 49% sau 6 năm. Các công ty viễn thông
quốc gia khổng lồ có thể sẽ phải cạnh tranh mạnh mẽ, song đầu nớc ngoài vào
các dịch vụ và hạ tầng cơ sở sẽ tăng mạnh. Trung Quốc đồng ý tham gia Hiệp
định Công nghệ thông tin (ITA) và cam kết xoá bỏ thuế đối với các sản phẩm
thuộc danh sách ITA bao gồm: các sản phẩm bán dẫn, máy tính, phụ kiện và
thíêt bị viễn thông. Các hãng nớc ngoài cũng đợc quyền sơ hữu và xâm nhập
thị trờng dịch vụ viễn thông và nâng cao sự bảo vệ bản quyền thông qua việc
Trung Quốc thực thị Hiệp định về các lĩnh vực liên quan đến thơng mại bản
quyền (TRIPS).
2.2.2 Chứng khoán
Một số liên doanh nớc ngoài đợc phép tham gia vào quản lý quỹ theo
cùng phơng thức quản lý của các công ty Trung Quốc. Ba năm sau khi gia
nhập WTO, các công ty nớc ngoài sẽ đợc nắm 49% ở các liên doanh. Hiện nay
ngoài tham gia vào các lĩnh vực bảo hiểm y tế, hu trí, trong vòng 5 năm và
cho phép các chi nhánh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động từ 2
năm sau khi gia nhập WTO. Hiện các công ty nớc ngoài chỉ đợc kinh doanh
chủ yếu ở Thợng Hải và Quảng Châu. Các công ty nớc ngoài dự kiến sẽ dễ
dàng xin đợc giấy phép bán bảo hiểm ở Trung Quốc. Các công ty bảo hiểm
22
Trung Quốc, hiện chiếm 99% thị trờng, sẽ phải cạnh tranh với các công ty nớc
ngoài.
2.2.5 Phân phối - bán lẻ
Trung Quốc sẽ xoá bỏ những hạn chế trong các dịch vụ phân phối với
hầu hết các sản phẩm sau 3 năm, xoá bỏ mọi hạn chế đối với những liên hiệp
phân phối lớn, đồng thời xoá bỏ những hạn chế về không gian đối với các
điểm phân phối của bên nớc ngoài. Trung Quốc cũng sẽ cho phép các công ty
nớc ngoài kiểm soát tới 65% ở các điểm bán lẻ. Gia nhập WTO có nghĩa là
các công ty nớc ngoài sẽ có thể xoá bỏ những bớc trung gian trong phân phối
hàng hoá và có quyền lựa chọn lập các mạng lới phân phối của mình, giảm bớt
thời gian từ khâu sản xuất tới khi sản phẩm tới tay khách hàng.
Nh vậy, cuối cùng Trung Quốc cũng đã đạt đợc dấu mốc trong lịch sử
phát triển kinh tế với việc tham gia ngôi nhà WTO vào ngày 11/12/2001.
Bên cạnh những thuận lợi của việc gia nhập, Trung Quốc cũng phải đối mặt
với những khó khăn riêng. Việc Trung Quốc gia nhập WTO cũng đồng nghĩa
với việc tham gia sâu rộng hơn vào cạnh tranh quốc tế, cho phép các công ty
nớc ngoài tham gia vào thị trờng nội địa, đặt các ngành sản xuất trong nớc
phải xác định vơn mình lên để không bị thua ngay trên sân nhà mà còn có
hành lang pháp lý quốc tế vơn ra ngoài biên giới Trung Quốc. Nền kinh tế
Trung Quốc sẽ đóng một vai trò tích cực và mang tính xây dựng đối với mọi
mối quan hệ kinh tế toàn cầu, thúc đẩy sự cạnh tranh và khẳng định mình trên
trờng quốc tế. Vậy, sau một năm gia nhập WTO, Trung Quốc đã thực hiện các
cam kết cải cách nh thế nào và thu đợc những gì từ sự hội nhập?
23
hàng thứ 39 lên hàng thứ 2 trên thế giới; lắp đặt 470.000km đờng cáp
quang, tăng chiều dài đờng sắt lên 71.500km.
Việc gia nhập WTO đã đem lại những thay đổi rõ rệt đối với quốc gia
đông dân nhất thế giới này, từ việc mở rộng phạm vi hoạt động hơn cho các
vùng và ngành mà trớc đây bị giới hạn, tới các cấp của cơ quan chính phủ
cũng nh việc cải cách hệ thống pháp lý theo một khuôn khổ đợc đảm bảo
thay vì cách thức thử nghiệm trớc đây. Quá trình mở cửa thị trờng của
Trung Quốc đã thay đổi từ hớng mở cửa đơn phơng sang mở cửa hai chiều
giữa Trung Quốc và các nớc thành viên khác của WTO. Trung Quốc bây giờ
có thể chủ động tham gia việc đa ra các nguyên tắc thơng mại và kinh tế thế
giới, không còn ở thế bị động chấp nhận các nguyên tắc đó nữa. Ngoài ra,
Trung Quốc cũng có thể điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế và thơng mại
với nhiều quốc gia thông qua các cơ chế thảo luận song phơng và đa phơng.
Theo Bộ trởng bộ hợp tác kinh tế và ngoại thơng (MOFTEC) Trung Quốc
Thạch Quảng Sinh
8
kim ngạch ngoại thơng và đầu t nớc ngoài vào Trung
Quốc đạt mức tốt nhất trong nhiều năm qua mặc dù nền kinh tế thế giới
đang đi xuống. Với t cách là một thành viên của WTO, Trung Quốc là ngời
chơi tốt nhất trong thơng mại đa phơng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt
mức kỷ lục 600 tỷ USD, Trung Quốc bớc từ vị trí thứ 6 lên thứ hàng thứ 4 trên
thế giới (theo báo cáo của WTO, 10/2002). Tổng kim ngạch trong 10 tháng
đầu năm đạt 500,2 tỷ USD, tăng 19.7% so với cùng kỳ năm trớc.
8
Nguồn: Báo cáo
thờng niên của Bộ trởng MOFTEC 2002, www.moftec.gov.cn
Vốn FDI đạt trên 50 tỷ USD, tăng 30% đã biến Trung Quốc thành nơi thu
hút vốn FDI mạnh nhất trên thế giới, tính riêng trong 10 tháng đầu năm đã
tăng 20%.
Là thành viên của WTO cũng đã thúc đẩy Trung Quốc giải quyết các
hoá dầu; xây dựng các ngành công nghiệp cơ sở khác; áp dụng công nghệ cao
và thiết bị để thay đổi các ngành công nghiệp truyền thống nh cơ khí, đèn, dệt
may, v.v. ở miền Tây tập trung vào năng lợng, giao thông, bất động sản, cơ sở
hạ tầng và đầu t; hớng vốn đầu t nớc ngoài vào thành lập các doanh nghiệp
cho tơng hợp, doanh nghiệp hớng xuất khẩu cũng nh mở cửa hơn nữa lĩnh vực
dịch vụ.
Với những kết quả trên cho thấy việc Trung Quốc gia nhập WTO là hoàn
toàn đúng đắn, phù hợp với xu hớng phát triển của thế giới và lợi ích riêng của
Trung Quốc. Bên cạnh những thành tựu cải cách đạt đợc trong năm qua Trung
Quốc có thể tự tin thực hiện đợc mục tiêu đã đặt ra là trở thành một cờng quốc
kinh tế trên thế giới đến giữa thế kỷ này, và mục tiêu trong năm 2003 gồm:
tăng trởng GDP đạt 7%, tạo 8 triệu việc làm mới cho dân c đô thị, tỷ lệ thất
nghiệp ở đô thị là 4,5%, mức tăng chỉ số giá cả không quá 1% và tăng tổng