TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
QUẢN
TRỊ
KINH
DOANH
CHUYÊN NGÀNH
LUẬTKINH
DOANH
QUỐC
TẾ
-ã,
to
.gí
KHOA
LUÂN
TÓT
NGI
Về tài:
CHÍNH SÁCH
VÀ
PHÁP
LUẬT
CẠNH TRANH
Ở
MỘT
2009
MỤC
LỤC
LỜI
MỞ
ĐÀU
Ì
Chương
ì.
TỎNG
QUAN
VÈ
CHÍNH SÁCH
VÀ
PHÁP
LUẬT
CẠNH
TRANH 3
ì.
Quan
niệm về cạnh
tranh
và
tầm
quan
trọng
của cạnh
tranh
3
Ì. Khái
-
thể
chế
đối với
hoạt
động
kinh
doanh
8
b.
Điều
kiện trong
chỉ đạo, điều
hành
nền
kinh tế
quốc
dân
9
c. Điều
kiện
về
trình
độ
nhận
thức,
hiểu
biết
của
công chúng về
d.
Các công cụ
của
chính sách
cạnh
tranh
13
2. Pháp
luật
cạnh
tranh
15
a.
Sự
cn
thiết
của
pháp
luật
cạnh
tranh
16
b.
Vai trò của
pháp
luật
cạnh
tranh
17
c. Nội dung của
NAM 27
ì.
Thực
trạng
chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh
ở một
số nước
27
Ì.
Thực
trạng
chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh
của
Mỹ 27
Ì
a.
Đạo
luật
Sherman
29
b.
Đạo
luật
Clayton
tranh
của
Australia
33
3.
Thực
trạng
chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh
của
Pháp
38
4.
Thực
trạng
chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh
của Nhật
42
li.
Thực
trạng
chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh
LUẬT
CẠNH TRANH CỦA
VIỆT
NAM 61
ì.
Sự
cần
thiết
phẳi
hoàn
thiện
chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh
của Việt
Nam 61
li.
Giẳi
pháp hoàn
thiện
chính sách
cạnh
tranh
của
Việt
Nam 63
Ì.
Giẳi
pháp về tăng
nghiệp
66
b.
Xoa bỏ rào
cẳn
gia
nhập
thị
trường
67
c.
Đổi
mới các
doanh
nghiệp
nhà
nước, xoa
bỏ
tình
trạng
bị
ép
buộc
làm
việc
theo
kế
hoạch
áp
đặt từ
72
IU. Giẳi
pháp hoàn
thiện
pháp
luật
cạnh
tranh Việt
Nam 73
Ì.
Việc
hoàn
thiện
và
thực
hiện
pháp
luật
cạnh
tranh
phẳi
được
đặt
trong
mối quan
hệ
tổng
thể với
các
chế
việc
thực
thi
luật
cạnh
tranh
75
KÉT
LUẬN
77
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 78
3
LỜI
MỞ ĐẦU
1.
Sự
cần
thiết
nghiên cứu đề tài
Xây
dựng
một môi trường
cạnh
tranh
tự do,
công
bằng là vấn
đề được các nước
kinh
tế -
xã
hội
nói
chung.
Để
thực
hiện
được
điều này,
các nước
đều
ban hành chính
sách,
pháp
luật
cạnh
tranh
nhàm
khuyến
khích và
điều chỉnh
các hành
vi
cạnh
tranh
trên
thỏ
trường.
biện
pháp
chống
lại
các hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
và hạn
chế cạnh
tranh
của các
doanh
nghiệp. Đổi
mới
kinh
tế theo
cơ
chế
thỏ
trường
của
Việt
Nam đã đánh dấu sự
ra đời
của những
quy
đỏnh
các
doanh
nghiệp,
như
Luật
thương
mại, Luật
doanh
nghiệp, Luật
đầu
tư,
và đặc
biệt
là
Luật
cạnh
tranh.
Tuy
nhiên,
chính sách
và pháp
luật
cạnh
tranh
của
Việt
Nam vẫn còn chưa
thống nhất
và
nhiều
học
kinh
nghiệm cho
Việt
Nam
là
một
việc
làm
cần
thiết.
Đó
là
lý
do
tôi
chọn
đề
tài
"Chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh
ở một số nước tiêu
biểu
và
bài học
cho
Việt
Nam" làm Kjhoá
trạng
chính sách pháp
luật
cạnh
tranh
ở một
số
nước và
Việt
Nam; và
đề
xuất
những
giải
pháp cụ
thể
cho chính sách pháp
luật
cạnh
tranh
của
Việt
Nam.
3.
Đối
tượng nghiên cứu của Khoa
luận
Ì
Đối
tượng
biểu
và
Việt
Nam.
5.
Phương pháp nghiên
cứu
Để
hoàn thành Khoa
luận,
các
phương pháp nghiên
cứu chủ yếu bao gồm:
phương pháp
thống kê,
phân
tích,
so
sánh
và
logic.
6. Két
cấu của
Khoa
luận
Ngoài
mục
lục,
lời
mở
một
số
nước
và
Việt
Nam
Chương
IU:
Giải
pháp hoàn
thiện
chính sách
và
pháp
luật
cạnh
tranh
của
Việt
Nam
Khoa
luận
được hoàn thành
dưới
sự
hướng
dẫn
nhiệt
tình của
thầy
bị
những
kiến
thức
và kỹ
năng cần
thiết
trong việc
tìm
tòi tài
liệu,
nghiên cứu
và
sáng
tạo
trong
suốt
quá
trình
học tập
cho
sinh
viên.
2
Chương
ì.
TỎNG
QUAN
VỀ
CHÍNH SÁCH
có ở
nhiều lĩnh
vực khác
nhau.
"Cạnh
tranh
là
hành động
ganh đua,
đấu
tranh
chống
lại
các cá
nhân hay các nhóm,
các
loài
vì
mục đích giành được
sự
tồn
tại,
sống
còn, giành được
lợi
nhuận,
địa
vị,
sụ
kiêu
Cạnh
tranh
có
thổ
là
giữa hai
hay
nhiều
lực
lượng,
hệ
thống,
cá
nhân,
nhóm,
loài,
tuy
theo
nội
dung
mà
thuật
ngữ
này
được
sử
dụng.
Cạnh
tranh
có
chúng có cơ
hội,
được
cung cấp
lợi
thế
cho sự
sống
sót, tồn
tại
.
Trong
lĩnh
vực
kinh
tế,
cạnh
tranh
cũng
có
nhiều
cách
hiổu
khác
nhau.
Ví dụ
như
"cạnh
tranh
là
nghiệp
và
các ngành
kinh
doanh
nhằm
chiếm
được sự
chấp
thuận
và
lòng
trung
thành
của
khách hàng"
3
Cạnh
tranh
còn
được
hiổu
là
"Chạy
đua
trong kinh tế;
hành
vi
của
lôi
kéo được
hoặc
đổ
bị
mất
đi
một
lượng
khách hàng thường xuyên"
4
.
Đây là
cuộc chạy đua,
trên một
thị
trường
mà
cấu trúc
và sự
vận hành của
thị
trường
đó đáp ứng các
điều
kiện
của
quy
luật
cung
Comu
(Pháp),
theo
Nguyễn
Hữu
Huyên,
"Luật cạnh tranh
của
Pháp
và
Liên minh Châu
Ấu"
NXB
Tư
pháp,
Hà
Nội
2004,
tí.
11
3
cung
cấp
với
bên
kia
là những người
sử
dụng hoặc
tiêu dùng hàng hoa
Nhưng nhìn
chung, cạnh
tranh
được
coi
là hành
vi
của
hai
hay
nhiều
chủ
thể
trong kinh
doanh
(trong
nền
kinh
tế thị
trường)
với
mục đích giành cho mình
những
ưu
thế
cao
nhất
so
với
chủ
càng
nhiều
doanh
nghiệp
cạnh
tranh
với
nhau thì sản
phẩm hay
dịch
vụ
cung
cấp
cho khách hàng sẽ càng có
chất
lượng
tẩt
hơn.
Như
thế thì,
cạnh
tranh
sẽ đem
đến cho
khách hàng giá
trị tẩi
ưu
nhất
với
đồng
hiện
ở
những
ngành có
nhiều
hãng
cạnh
tranh
nhau
trong việc
cung
ứng một
loại
sản
phẩm duy
nhất.
Những đặc
điểm
cơ
bản
cho
cạnh
tranh
hoàn hảo
là:
Có một
sẩ
lượng
lớn
các hãng
hãng đều nhắm đến mục tiêu
tẩi
đa hoa
lợi
nhuận;
Các hãng có
thể gia
nhập hoặc
thoái
lui
khỏi
ngành một cách dễ
dàng,
không
tẩn
kém; Hàng hoa được mua - bán
là
hoàn toàn
thuần
chủng;
Thông
tin
trên
thị
trường
phải
tường
minh.
Cạnh
tranh
phẩm của mình trên
thị
trường.
Trong
thực
tế,
hình
thức
cạnh
tranh
không hoàn hảo
là
hình
thức
phổ
biến
trên
thị
trường,
ở
nhiều lĩnh vực, nhiều
ngành
của nền
kinh tế.
Cạnh
tranh
không
lành
mạnh (còn được
gọi
tranh
khác.
Cạnh
tranh
mang
tính
độc quyền là
cạnh
tranh
giữa nhiều
đơn vị
cung
trên
thị
trường
với
những sản
phẩm khác
biệt
nhau
(khác
biệt
về
giá,
địa
lý,
chất
liệu, thời
gian
cung ứng, dịch
trường).
Độc quyền
lại
được
chia
thành độc
quyền
do pháp
luật
quy
định
và độc
quyền
tự
nhiên.
Độc
quyền
nhà nước nhìn
chung
là
loại
độc
quyền
do pháp
luật
quy
định,
khác
với
độc
quan
của Nhà
nước.
Độc
quyền
thực tế
có
thể
hình thành
từ
nhiều
nguồn gậc
khác
nhau.
Cạnh
tranh
là một
trong
những
đặc trưng cơ bản của
kinh
tế thị
trường,
và chỉ
xuất
hiện
và
tồn
tại
trong
này
là
khác
nhau
và
ít
nhất
sẽ có một sậ
đậi
kháng
nhau,
sự
đạt
được mục đích
của người
này
sẽ
dẫn đến sự
thất
bại
của người
kia
và ngược
lại.
Do đó, họ
phải
tìm mọi cách
cạnh
tranh
với
mang
đến cho
cạnh
tranh
ở đó một
sắc
thái
riêng.
Cho
nên,
nghiên cứu
cạnh
tranh
đi
liền
với
nghiên cứu về
thị
trường.
Để
thực
hiện
cạnh
tranh
trên
thị
trường,
các chủ
thể
dựa vào
phương
tiện
cạnh
tranh
của
các
chủ
thể
kinh
tế
còn
là
các
dịch
vụ kèm
theo.
Ngoài
ra,
quảng
cáo
cũng
là
một phương
tiện
hữu ích
khi
các
chủ
thể
muận
chiếm
thị
phần
đáng
kể,
nhờ áp
dụng
phương
thức
cạnh
tranh
bang
chất
lượng và các
dịch
vụ đi kèm, đồng
thời
với chiến
dịch quảng
áo rầm
rộ.
Mặc dù giá
đắt
hơn nhưng khách hàng
sốn
sàng
trả
để sử
dụng dịch
vụ.
cố
gang
tạo ra
cho mình một phương
thức
cạnh
tranh
để có
thể tồn
tại
trên các
thị
trường ngày một đòi
hỏi
cao
này.
Vê hình
thức,
nhìn vào
thị
trường
người ta
có
thể
biết
được các
đối thủ
đang
cạnh
tranh với
Chức năng
của cạnh
tranh trong kinh tế thị
trường
Cạnh
tranh
cần
phải
được nhìn
nhận
nhu là nhân
tố cốt
lõi của nền
kinh tế thị
trường.
Thực
tế
đã
chứng
minh,
nhờ có
cạnh
tranh,
cùng
với
nền
kinh tế thị
trường
nơi nhu
cầu của con người
mạng
khoa
học kỹ
thuật
Người
tiêu dùng thì có nhu cầu ngày càng
cao,
còn các nhà
kinh
doanh
thì có ham muốn
lợi
nhuận
ngày càng
nhiều, khiến
họ sáng
tạo
không mệt
mỏi,
luôn luôn tìm cách
sản
xuất
tốt
hơn,
tạo
ra
nhiều
của
cải
hơn. Điều
tranh
bao
giờ
cũng
có tác động tích
cực.
Chức năng của
cạnh
tranh
đối
với
nền
kinh
tế thị
trường
được
thể hiện
ở
những
điểm
sau
đây:
Cạnh
tranh
điều
chinh giữa
cung
và
cầu
hàng
chính
của người
tiêu
dùng mà định hướng cho
việc
sản
xuất,
chào bán
sản
phẩm
dịch
vụ của
mình.
Tuy
6
nhiên
chức
năng này của
cạnh
tranh
chỉ phát huy nếu
cung
và cầu không bị ảnh
hưởng
bởi
một
quyết
định hành chính hay
bất
cứ một sự can
định
kinh tế
cá nhân
trở
nên chính
xác
hơn,
nghĩa
là đảm bảo cho
việc
sử
dụng
các
nguồn
lực
một cách có
hiệu
quả
nhất.
Các
doanh
nghiệp
luôn tìm cách làm
thế
nào để sử
dụng
một cách
tiết
kiệm
nhất
Vì
thế,
cạnh
tranh
là động
lực
làm cho
việc
các yếu
tố
sản
xuất
như
vốn
và
lao
động được áp
dụng
và dùng một cách
hiệu quả
và có
lợi
nhất,
tránh lãng
phí
những
yếu tố sản xuất.
Cạnh
tranh khiến
các
xuất
ra sản
phẩm
tốt
hơn
nữa,
giá cả
thấp
hơn nữa thì
việc
sáng
tạo
không
ngừng
là điều mà các
doanh
nghiệp
luôn hướng
tới.
Điều này làm cho
ngưồi
tiêu dùng luôn được sử
dụng
những
sản
phẩm và
dịch
vụ
mới,
tốt
tranh
thúc đẩy
việc đổi
mới
trong
toàn
nền kinh tế.
Cạnh
tranh
không
những
có
lợi
cho
ngưồi
tiêu dùng
khi
mang
lại
những
thành
quà
từ sức
sáng
tạo
và
đổi
mới không
ngừng
của
thị
trưồng,
ví dụ
khi
họ chào giá lạm
dụng
quyền
lực thị
trưồng.
Cạnh
tranh
còn có
chức
năng
điều
phối.
Cạnh
tranh
đảm bảo phân
phối thu
nhập
và các
nguồn
lực kinh tế tập trung
vào
tay
những
doanh
nghiệp
giỏi,
và khách hàng
sẽ bị
loại
bỏ.
Quá
trình
cạnh
tranh
tạo ra
các
chu
trình mà càng
về
sau thì mức độ
cạnh
tranh
càng
khốc
liệt,
khả năng
kinh
doanh
của các chủ
the
càng được nâng cao
hơn.
Do
đó,
khi
một
xuất
phát.
Giống
như quá trình tích
tụ
để
tái
sàn
xuất,
thành
quả
từ
chu
trình
cạnh
tranh
trưửc
lại
được sử
dụng
làm
khởi
đầu cho
giai
đoạn cạnh
tranh
tiếp
theo.
Cứ như
thế,
ra
cơ
hội
cho
những
chủ
thể
mửi
hiệu
quả
hơn,
năng động hơn
gia
nhập
vào
thị
trường.
Các
doanh
nghiệp
bị
thất
bại
hoặc
là
phải
tự
đổi
mửi mình
hoặc
điều
kiện
đảm bảo cho
cạnh
tranh
Nền
kinh
tế thị
trường là cơ sờ để
tồn
tại
cho
cạnh
tranh,
nhưng nếu không có
những điều
kiện
nhất
định
thì cạnh
tranh
cũng
không
thể
được duy
trì, bởi
vì có
thể
chính
cạnh
tranh
tồn
tại
trên
thị
trường
thì
hoạt
động
kinh
doanh
phải
được phép
tự
do
diễn ra,
các chủ
thể
kinh
tế
được
tự
do
lựa
chọn
và
tự
do
tiếp
cận
tranh trong
nền
kinh
tế.
Một môi trường pháp lý và cơ
chế,
chính sách phù hợp
sẽ
phát huy các
nguồn
lực
trong
xã
hội,
tạo điều
kiện
cho
các chủ
thể hoạt
động
kinh
doanh
bình
đẳng,
cạnh
tranh
lành
mạnh,
công
khai
như
mong
muốn. Có
thể
nhận
thấy
điều
này
khi
xem xét
khung
chính
sách,
pháp
luật
của các
nước.
Những nước phát
triển
với
kinh
nghiệm
xây
dựng
và pháp
luật
lâu
đời
có một môi trường
cạnh
kinh tế
trên
thế
giới
hiện
nay và
với
sự hình thành của
"thị
trường
toàn
cầu",
những
quy định về pháp lý -
thể
chế đã
vượt
ra khọi
phạm
vi
quốc
gia
để
mang
tính
chất
quốc
tế,
nghĩa
là các quy định này được hình thành và
yếu tố
pháp lý -
thể
chế
quy
định về mọi
lĩnh
vực
của
hoạt
động
kinh
doanh
phải
đồng
bộ,
rõ
ràng,
sát
với
thực
tiễn
và
thống
nhất.
Để tăng cường sự bình đẳng trên
thực
tế giữa
các chủ
thể
nhau.
b.
Điều
kiện trong chỉ đạo,
điều
hành nền
kinh tế
quốc
dân
Nhà nước
chỉ đạo,
điều
hành nền
kinh tế
quốc
dân thông qua bộ máy
điều
hành
của
mình.
Thiếu
sự
hiệu quả trong
hoạt
động
của
bộ máy
này,
cạnh
tranh
trò
quản
lý
kinh tế của
mình,
nhà nước
phải
hình thành được bộ máy
điều
hành đủ năng
lực
chuyên môn,
tận tụy,
công tâm
khi thi
hành công
vụ.
Mọi văn bản pháp quy đều
không
thể
đưa vào
thực
hiện trong
cuộc
sống
nếu bộ máy
điều
hành non kém về
chuyên
môn,
bộ
máy công
quyền
là
những điều
kiện
cần thì trình độ
nhận
thức,
hiểu
biết
về
cạnh
tranh
và chính
sách,
pháp
luật
cạnh
tranh
của
các chủ
thể kinh
doanh
và
người
tiêu
dùng
lại
là
trên
thị
trường (như đã
từng
diễn ra
ở các nước có nền
kinh tế
bao cấp trước
đây).
Bên
cạnh đó,
việc
nhận
thức
đầy đủ về chính sách và pháp
luật
cạnh
tranh,
tức
là
nhận
thức
về
cạnh
tranh
hợp
pháp
khiến
cho các
chủ
luật
cạnh
tranh
1.
Chính sách
cạnh
tranh
a.
Khái
niệm
Như đã đề
cập,
cạnh
tranh
luôn luôn
tồn
tại
trong với
nền
kinh
tế
thị
trường.
Trong
nền
kinh tế
này,
tất
cả các chủ
thể kinh tế
nhau,
trong
đó có
cả
những
biện
pháp tác động tiêu cực đến
thị
trường và xã
hội.
Nếu không có một
sự
quản
lý nào
thì cạnh
tranh
sẽ liên
tục diễn ra
vô cùng
mạnh
mẽ và hỗn
loạn,
do
các
doanh
nghiệp
luôn tìm
mọi
cách để dành
lợi
cả
những
biện
pháp nhà nước sử
dụng
để
đạt
được mục đích này có
thể coi
là chính
sách
cạnh
tranh
của
Nhà
nước.
Như
vậy,
chính sách
cạnh
tranh
bao gồm
tất
cả
những
biện
pháp của nhà nước
nhằm duy
trì
cạnh
thị
trường,
mặt
khác,
nó
phải
có các
biện
pháp
chống
lại
các
chiến
lược hạn chế
cạnh
tranh
của các
doanh
nghiệp.
Do
đó,
có
thế
hiểu
chính sách
cạnh
tranh
bao gồm cả pháp
luật
cạnh
gia,
chính sách
cạnh
tranh
cũng
thay
đổi
theo
từng
thời
kỳ.
Đó
là vì
chính
sách
cạnh
tranh
được xây
dựng
dựa
trên
chủ
trương phát
triển
kinh tế
của quốc
gia,
tình hình
thực
tế
cạnh
tranh
của mỳt nước phụ
thuỳc
vào trình đỳ phát
triển,
cũng
nhu các nhân
tố
văn
hoa, kinh
tế,
xã
hỳi.
Cụ
thể
về
chính sách
cạnh
tranh
của mỳt số
quốc
gia
tiêu
biểu
sẽ được nghiên cứu rõ ở
chương
li.
b.
Mục tiêu
tiêu
của
chính sách
cạnh
tranh
nhìn
chung
phụ
thuỳc
vào mục tiêu phát
triển
chung
của
mỳt
quốc
gia,
và
cũng
liên
quan
tới
mục
tiêu
của
các chính sách khác như chính
sách thương
mại,
chính sách ngành công
nghiệp,
chính sách cổ
Mỹ có 3 mục
tiêu:
tăng phúc
lợi
cho
người
tiêu
dùng,
bảo vệ
tự
do
cạnh
tranh
và tăng
hiệu
quả
kinh
tế.
Chính sách
cạnh
tranh
Canada nêu rõ mục tiêu là duy
trì
và
khuyến
khích
cạnh
tranh,
thúc đẩy
hiệu
ích họp pháp của
thương nhân và
người
tiêu dùng, góp
phần
phát
triển
kinh tế
- xã
hỳi.
Ở mỳt số
li
nước
khác,
mục tiêu của chính sách
cạnh
tranh
lại
nhấn
mạnh
tới
đổi
mới và
hiệu
quả
hoạt
động
của doanh
nghiệp.
Nhưng nhìn
tế.
Mô hình
thứ hai
hướng
chính sách
cạnh
tranh
tới
"lợi
ích
chung
toàn
cộng
đồng".
Lợi
ích
cộng
đồng thường được định
nghĩa
bao
gồm
cả
tính
hiệu
quả
của nền
kinh
tế, lợi
ích cho
người
quả
kinh
tế
làm
mục tiêu cho chính sách
cạnh
tranh
của
mình.
Tuy
nhiên,
có sự khác
biệt
rõ ràng
giữa
các nước sử
dụng
đa - mục tiêu (tăng
lợi
ích
cộng
đồng nói
chung)
và đơn -
mục tiêu (như
là
duy
trì
sự
vận
theo
đuổi
với
những
cách
thức
linh
hoạt,
và nhìn
chung
nó phụ
thuộc
vào văn hoa và mô hình pháp lý của
từng
nước.
c.
Chức
năng
Chính sách
cạnh
tranh
có
những chức
năng cơ bàn như
sau:
- Chính sách
cạnh
tranh tạo ra
tất
cả
Như
vậy,
chính sách
cạnh
tranh
phải
tạo ra
được một môi trường
trong
đó
cho
phép các
doanh
nghiệp
tự
do thương
mại,
tự
do
lựa
chọn
và
tự
do
tiếp
cận
thị
trường.
Các nước có thâm niên về áp
dụng
biệt
nhấn
mạnh
chính sách
cạnh
tranh
như một cách
thức
bảo đảm tự do
kinh tế
và
tự
do
kinh tế
chính
là tự
do
cạnh
tranh
'.
- Chính sách
cạnh
tranh
điều
tiết
quá trình
cạnh
tranh.
Tuy
cạnh
gia.
Mỗi một
quốc
gia trong
mỗi
một
giai
đoạn
đều
đặt
ra
những
mỗc tiêu
kinh
tế,
chính
trị,
xã
hội
khác
nhau,
như
đạt hiệu
quả
kinh tế
cao,
bảo vệ các
doanh
nghiệp
vừa và
Chính sách
cạnh
tranh
cũng là
một
phần của
công cỗ này,
và nó có
chức
năng
hướng
quá
trình
cạnh
tranh
phỗc
vỗ đúng mỗc
tiêu.
- Chính sách
cạnh
tranh
còn có
thế
giúp bình ổn giá
cả
trong
nước. Với
việc
ngăn
chặn
nào.
Giá cả
chỉ
phỗ
thuộc
vào
cung
và
cầu
trên
thị
trường mà không bị
chi
phối
bởi
bất
cứ một chủ
thể
nào,
do đó nó
trờ
nên ổn
định
một cách tương
đối.
d.
Các công cỗ
của
chính sách
cạnh
mại,
chính sách đầu
tư,
chính sách
thuế,
đặc
biệt
là
luật
cạnh
tranh,
đều
là
các công cỗ
của
chính sách
cạnh
tranh.
Thông qua
các công cỗ này mà chính sách
cạnh
tranh
mới phát
huy
được
vai
trò của
mình.
- Chính sách thương mại
Chính sách thương mại là một công cỗ
kiểm
soát độc
quyền
kinh
doanh,
Nxb
Giao
thông
vận tài.
13
thương
mại tự do,
bình đẳng cho các chủ
thể kinh tế
cả ờ phạm
vi
quốc
gia
và quôc
tế.
Chính sách thương
mại
còn bao gồm các chính sách như chính sách
ngành,
chính
sách
thuế
Chính sách ngành
điều
chỉnh
kinh
tế.
Chính sách
thuế
là công cụ
điều
tiết
thị
trường,
giúp nâng cao năng
lực
cạnh
tranh
và
thu
hút
vốn
đầu tư của nền
kinh
tế.
Một chính sách
thuế
minh
bạch,
rõ
ràng,
thống
nhất,
không phân
biệt
Như
vậy,
thông qua chính sách thương
mại,
nhà nước có
thể tạo ra
một hệ
thống
thương mại thông
thoáng,
hiệu quả, từ
đó góp
phần
đảm bảo
cạnh
tranh
đưầc
diễn
ra
tự
do
trên
toàn
nền kinh
tế.
- Chính sách
đầu
tư
Một
chính sách đầu tư
dung
chính của chính sách đầu tư
là tạo
điều
kiện
cho các
tổ
chức,
cá nhân đầu tư phát
triển,
thu
hút
nguồn
vốn đầu tư
từ
ngước ngoài và đầu tư
trực
tiếp
từ
nguồn
vốn
ngân
sách.
Nhìn
chung,
có
thể hiểu
nhà nước sử
dụng
chính sách đầu tư vừa nhằm
nhằm phân
phối
các
nguồn
tài
nguyên
hiệu
quả,
cũng
để
thực hiện
các mục tiêu
kinh tế
chung
của
nhà
nước,
tránh tình
trạng
đầu tư
dàn
trải,
lãng
phí.
Trong
chính sách đầu tư
của
mình,
nhà nước có
thể
cho
vay lãi
suất
thấp ,
nhằm hỗ
trợ
các
tố
chức,
cá nhân đầu tư phát
triển
các
ngành,
các khu
vực.
Thông qua
đó,
nhà
nước
cố
gắng
tạo
ra
mịt môi trường đầu tư ổn
định,
lành
mạnh,
qua đó góp
phần
tăng tính
đặc
biệt
là
giữa
doanh
nghiệp
trong
nước
với
doanh
nghiệp
nước ngoài.
-
Luật
cạnh
tranh
Luật
cạnh
tranh
là công cụ
quan
trọng
nhất,
có tác
dụng
mạnh
mẽ
nhất
trong
chính sách
hạn chế
cạnh
tranh
nào.
Không có
luật
cạnh
tranh, thị
trường
sẽ
rơi vào
trạng
thái
hỗn
loạn
do
các
chủ
thể kinh tế
luôn
muốn
tìm mọi
cách,
kể cả
việc
thực
hiện
những
hành
vi
những
quy định pháp
luật
về
cạnh
tranh
cùng các chế tài xử lý
vi
phạm của nó đều cố
gắng
loại
bỏ
khỏi
thị
trường
tất
cà các hành
vi
tiêu
cực
làm ảnh hưởng đến
cạnh
tranh
lành
mạnh.
2.
Pháp
luật
cạnh
tranh
thị
trường
cũng
như môi trường
cạnh
tranh
bình đẳng và công
bằng.
Vai
trò căn bản của
cạnh
tranh trong
nền
kinh tế thị
trường đã sớm được
nhận
thức
với
đầy đủ
những
nịi
dung của nó.
Nhưng
cũng
như
đối với
chính sách
cạnh
tranh,
người
kinh tế
bàng các công cụ
vĩ
mô
thuộc
về
kiến
trúc
thượng
tầng
của
xã
hội
là chính sách và pháp
luật.
Trong
đó,
pháp
luật
cạnh
tranh
đóng
vai
trò
là
một bộ
phận
cơ
bản
không
của
nhà nước - một mô hình
quản
lý kinh tế hiện đại.
Trong
thời
kỳ
kinh tế thị
trường cổ
điển
của
giai
cấp
tư
sản,
nhà nước chì có
chức
năng bảo vệ an
ninh,
xây
dựng
luật
pháp và xét xử
tranh
chấp.
Pháp
luật
chỉ
giới
hạn ở
khuyết
tật
của thị
trường
được
bộc lộ
một cách
mạnh
mẽ. Sự
thất
bại của
mô hình
kinh tế chỉ
huy ở các nước
xã
hội
chủ
nghĩa
và
những
cuộc
khủng
hoảng
kéo dài trên
thị
trường
tự
do
của
các
của nhà nước là để vừa hạn chế
những
khuyết
tật
của thị
trường vừa
tạo
môi trường cho ưu
thế của thị
trường phát
huy
tác
dụng
tích
cực.
Đe
thực
hiện vai
trò
kinh tế của
mình,
nhà nước
phải
duy trì
một
trật
tự
chung
đảm bảo sự lành
mạnh
cơ
bản của
pháp
luật
kinh
tể.
Vì
thế,
ngày nay càng có
nhiều
nước xây
dựng
pháp
luật
cạnh
tranh
hơn.
Đối với
các nước đang phát
triển,
đặc
biệt
là các nước sau
thời
kỳ xã
hội
chủ
nghĩa,
pháp
luật
khứ. Khi
được tư
nhân
hoa,
các
doanh
nghiệp
này không
muốn
có
bất
kỳ một sự
cạnh
tranh
nào
nổi
lên làm ảnh hưởng đến vị
trí
và
quyền
lợi
mà mình đang nắm
giữ,
họ sẽ tìm mọi
16
cách để ngăn
cản nhập khẩu hoặc
phân
phổi
các
do
hoa nền
kinh tế,
có
thể
như
việc
xoa bỏ độc
quyền
của các
doanh
nghiệp
lớn
bằng
cách
chia
tách chúng
ra,
thì
khó có
thể
ngăn
cản
được sằ họp tác
giữa
các nhà
quản
lý
từ
những
bộ
phận
mới của chính
doanh
nghiệp
cũ trước
kia.
Độc
quyền
của các
doanh
nghiệp
lớn
bây
giờ trở
thành
sằ
liên
kết
của
một số
doanh
nghiệp
nhằm
thống
lĩnh
thị
trường.
Như
thế,
ràng
là
vô cùng
cần
thiết.
b.
Vai
trò
của
pháp
luật
cạnh
tranh
Pháp luật cạnh tranh góp phần quan trọng tạo lập môi trường kinh doanh và
cạnh tranh bình đẳng, tự do.
Với
tư cách là
lĩnh
vằc pháp
luật
đặc thù
của
nền
kinh tế thị
trường,
pháp
luật
cạnh
tranh
bảo vệ
đảm bảo cơ sở pháp lý
quan
trọng
là các quy định về
tằ
do
kinh
doanh
và
quyền
được
tồn
tại
bình đẳng của các
doanh
nghiệp.
Tằ do
kinh
doanh là quyền
được
tằ
do
lằa
chọn
lĩnh
vằc
kinh
doanh,
tằ
do
điều
kiện
đó,
các chủ
thể trong thị
trường
tằ
quyết
định
việc
cung
cấp hàng
hoa dịch
vụ mà không
chịu bất
cứ sằ
chi phối
nào
từ
phía nhà nước và các
doanh
nghiệp
khác.
Người
tiêu
dùng
cũng
được
tằ
do
loại
17
hàng hoa trên
thị
trường
khiến
cuộc cạnh
tranh trở
lên
khốc
liệt.
Các
doanh
nghiệp
phải
tìm mọi cách để
tạo ra
lợi
nhuận,
giữ
vững vị trí của
mình trên thương
trường.
Kết
quả
là,
trong
khi
một vài
doanh
này phát
sinh ra
nhiều
biếu
hiện
tiêu
cực.
Do sự thôi thúc tìm
kiếm
lợi
nhuận bằng
mọi
cách,
một số chủ
thể
trên
thị
trường
thực
hiện
các hành
vi
không phù hợp
với truyền
thống
kinh
doanh
lành
mạnh,
xâm phạm
tự kinh
tế,
huy
hoại
cạnh
tranh,
xâm phạm
quyền tự
do
kinh
doanh
lành
mạnh
của
các
doanh
nghiệp
trên
thị
trường.
Pháp
luật
cạnh
tranh
ra
đời
nhằm mục đích ngăn
ngừa
và hạn
chế
mạnh
trên
thị
trường.
Đây
là vai
trò chủ yếu của
chính sách
cạnh
tranh.
Pháp
luật cạnh tranh
bảo
vệ
quyền
lợi
người tiêu
dùng
Bảo vệ
người
tiêu dùng luôn luôn là một
trong
các mục tiêu chính của chính
sách
cạnh
tranh tất
cả các
nước.
Pháp
luật
những
gây
tổn hại
cho
đối thủ
cạnh
tranh
mà còn xâm
phạm nghiêm
trọng
tới lợi
ích
của
người
tiêu
dùng.
Lợi
dụng
sự
thiếu
hiểu
biết
của
khách hàng về sản phẩm, các
doanh
nghiệp
có
thể
đưa
ra những
khuyết
trong
cung
ứng và
trong
tính
năng,
kết
cấu của sản phẩm. Khi
phát
hiện,
họ khó có
thể
khiếu nại
hay
kiện
tụng
vì
giao
dịch
đã hoàn thành tự
nguyện.
Khi đó,
thiết
chế của
pháp
luật
cạnh
tranh
cùng
giữa
các
doanh
nghiệp
bị
triệt
tiêu
bằng những
thủ
đoạn
không lành
mạnh
hoặc bằng
sự tích
tụ,
tập trung tất
yếu
của thị
trường.
Khi
các
doanh
nghiệp
bắt tay vểi
nhau
trong việc
cung
cấp một
loại
sản
sản
xuất.
Pháp
luật
cạnh
tranh
có
nhiệm
vụ
chống
lại
tất
cả
những
hành
vi
này, qua đó bảo vệ
người
tiêu dùng
vểi
ba
nội
dung:
bảo vệ
người
tiêu dùng trưểc
những
họp đồng không
trang
thực
chính
trong
các
lĩnh
vực này;
và quy
định
trách
nhiệm đối
vểi
những
vi
phạm có
thể
đe doa đến
quyền
lợi
người
tiêu
dùng
1
.
Pháp
luật cạnh tranh
bảo
vệ
quyền
lợi
của các
doanh
tự
do,
pháp
luật
cạnh
tranh
có tác
dụng khuyến
khích các chủ
thể
trên
thị
trường
cạnh
tranh
một cách lành
mạnh
vểi
nhau.
Pháp
luật
cạnh
tranh
duy
trì
trật
tự thị
trường,
giúp
doanh
do
tất
cả các
doanh
nghiệp
đều sử
dụng
các
thủ
đoạn
không lành
mạnh
nhằm
tranh
giành
thị
phần hoặc
trả
đũa
lại
đối
thủ
cạnh
tranh.
Như
vậy,
mặc dù pháp
luật
cạnh
tranh đặt
tồn
tại,
nhưng
cũng
đem
lại
cho họ một
môi
trường
ổn
định,
lành
mạnh
để phát
triển.
Pháp
luật cạnh tranh
đảm bảo
cho
tiến trình toàn
cầu hoa
diễn
ra nhanh chóng
và
hiệu
quả
Pháp
luật
cạnh
tranh với
và
tạo ra
một
thị
trường
rộng
lớn với
sự
tham
gia
cốa
tất
cả
các
quốc
gia.
Đặc
biệt,
thị
trường
cạnh
tranh
quốc
tế tồn
tại
từ những doanh
nghiệp
sản
xuất
nhỏ
dụng
thế
mạnh
tài
chính
để
chiếm
đạt
và
thao
túng
thị
trường
cốa những
nước
có trình
độ
phát
triển
thấp
hơn.
Pháp
luật
cạnh
tranh
điều
chinh
các
hành
vi
tranh
một mặt ống hộ quá
trình
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
diễn
ra nhanh
chóng,
một mặt
đảm
bảo tính
hiệu
quả
cốa
quá
trình
này
thông qua
việc
loại
bỏ các
hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh và
luật
chống phản
cạnh
tranh ,
nhưng nhìn
chung
pháp
luật
cạnh
tranh
thường
chia
thành
hai
lĩnh
vực lớn
là
pháp
luật
chống cạnh
tranh
không lành
mạnh và
pháp
luật
chống
hạn chế
cạnh
tranh.
Một
dưới
sơ đồ
sau:
20