TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
FOREIGN
TRADE
CINIVERỈlYr
KHOA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
CHÍNH
SÁCH
CẠNH TRANH
cùn
TRUNG
QUỐC
VÀ
BÀI
HỌC
KINH
NGHIỄM
CHO
Vlậ
NOM
•
IH-,-!>t
^cr^
HÀ
NỘI
-
2005
LÒI CẢM ƠN
Trước
hết
em
xin gửi
lời
cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Từ Thúy Anh.
Mặc dù bận
với
việc
giảng
dạy
cũng
như nghiên cứu ở trường nhưng cô đã
tận
tình giúp
đỡ,
chỉ
bảo,
giúp em hoàn thành
tốt
Khoa
luận
tốt
chân thành cảm ơn các thày cô giáo
trong
trường
Đại
học
Ngoại
thương đã dạy
dỗ,
trang
bị
cho em
nhọng
kiến
thức
quý
báu,
tạo
cơ sở để
em
tiến
hành công
việc
nghiên
cứu khoa học của
mình.
Cuối
cùng,
em
xin
cảm ơn
CHUÔNG
ì:
KHÁI QUÁT
VỀ CẠNH TRANH VÀ
CHÍNH SÁCH
CẠNH
TRANH
4
ì.
Lý
luận
về
cạnh
tranh
4
Ì.
Nguồn
gốc của
cạnh
tranh
4
2.
Cạnh
tranh
và các khái
niệm
có
liên
quan
5
gia
lũ
3.2.
Cạnh
tranh
và
thương
mại quốc
tế.
11
li.
Chính sách
cạnh
tranh
13
1.
ý
nghĩa
của việc
xây
dựng
một chính sách
cạnh
tranh
cho
nền kinh tế
13
2.
Chính sách
cạnh
tranh
15
3.
Khái quát về chính sách
cạnh
tranh
trên
thế
giới
19
CHƯƠNG
li:
CHÍNH SÁCH
CẠNH TRANH CịA
TRUNG
QUỐC 22
ì.
Sự
hình thành lý
luận
về
cạnh
tranh
ở
Trung
Quốc
23
1.
Nền
kinh tế thị
tranh
trong
nền
kinh tế
Trung
Quốc
26
Ì.
Thực
trạng
cạnh
tranh trong nền kinh tế
Trung
Quốc 26
1.1.
Những hành
vì
cạnh
tranh không lành
mạnh 26
1.2.
Những hạn chế gây cản
trở
cạnh tranh
30
2.
Sự
cần
thiết
của
Quốc 39
2.1.
Xây dựng và hoàn
thiện những
yếu tố tạo
nên
sự
cạnh tranh trong
nền
kinh
tếTrung
Quốc 40
2.2.
Xây dựng và hoàn
thiện
pháp
luật
về
cạnh tranh
ỞTrung Quốc 50
Chương
ni:
Chính sách
cạnh
tranh của Việt
Nam và bài học
kinh
nghiệm
từ
Trung
Việt
Nam 67
3.1.
Cấu
trúc
thị
trường
67
3.2.
Những hành
vi
cạnh
tranh không lành
mạnh 68
3.3.
Những hành
vi
hạn chế cạnh
tranh
70
4.
Yêu câu khách
quan
của việc
xây
dựng
và hoàn
thiện
chính sách
cạnh
điểu kiện
cho
sự
cạnh tranh trong
nền
kinh
tế.
76
2.2.
Những
kết
quả
trong
xây dựng pháp
luật
về
cạnh tranh
ở
Việt
Nam 81
2.3.
Thành
lập
một cơ quan quản
lý
cạnh
tranh
86
HI.
Những vân đề
tranh
ở
Trung
Quốc và
Việt
Nam 89
2.
Những
kiến
nghị
cho chính sách
cạnh
tranh
của
Việt
Nam 93
KẾT
LUẬN
96
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH
MỤC
CÁC CHỮ,
KÝ
HIỆU
VIẾT TẮT
XHCN
Trách
nhiệm
hữu hạn
TCT
Tổng
Công
ty
FDI
Foreign
Direct
Investment
(Đầu tư
Trực
tiếp
Nước ngoài)
USD
Đô
la
Mỹ
WTO
World
Trade
Organization
(Tổ
chức
Thương mại Thế
giới)
GATT
General
Agreement
Property Rights
WEF
World
Economic Forum
(Din
đàn
kinh
tế
Thế
giới)
IPRS
Intellectual
Property Rights
(Quyền sở
hữu
trí tuệ)
£í Ihi Qlhư
7ố«a
LỜI
MỞ ĐẦU
1.
Tính
cấp
thiết
của đề tài
Công
cuộc
đổi
mới
mà
công
nghiệp,
dịch
vụ,
xuất
nhỏp
khẩu
đều
đạt tốc
độ
tăng trưởng
cao.
Những thành
tựu
này chính là
kết
quả
của việc
xoa bỏ nền
kinh
tế
kế
hoạch
hoa
tỏp trung
bao
cấp,
chuyển
sang
nền
hoàn
thiện
hơn nữa
thể chế kinh tế thị
trường định hướng
XHCN mà
Nhà nước
ta
đang
xây
dựng.
Tuy nhiên, cùng
với
quá trình
đó
là sự
xuất
hiện
và
ngày càng phổ
biến
của các hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
và
các hành
vi
sự
hoàn
thiện,
trong
đó có
chính sách
cạnh
tranh.
Việc
xây
dựng
một chính sách
cạnh
tranh
thực
sự
hiệu
quả đang là đòi
hỏi
của nền
kinh tế
không chỉ
ở
Việt
Nam
mà
còn
ở
tất
cả các nước
trường
cũng
như cơ
chế
cạnh
tranh
mới được đưa vào nền
kinh
tế.
Do
đó,
hướng đi đúng đắn
trong
xây
dựng
chính sách
cạnh
tranh là
học
tỏp kinh
nghiệm
của
các nước đi
trước.
Trung
Quốc
là một nước có khá
nhiều
điểm
tương đồng
hiện
ở
việc
Trung
Quốc đưa cơ
chế cạnh
tranh
vào nền
kinh tế
cũng
như ban hành Pháp
luật
về
cạnh
tranh
sớm hơn nước
ta
hơn 10 năm. Do
đó,
quá trình xây
dựng
chính sách
cạnh
tranh
của Trung
Quốc
có
thể
cung
cấp cho
cạnh
tranh
của
Trung
Quốc,
ngưặi
viết
sẽ
đưa
ra
những
liên hệ
nhất
định
với
những
gì
Việt
Nam
đã và đang
thực
hiện,
nhằm đưa
ra những
gợi
ý cho
việc
hoàn
thiện
chính sách
chung
và
những
đặc
điểm
của
quá trình xây
dựng
chính sách
cạnh
tranh
của
Trung
Quốc và
Việt
Nam.
•
Phạm
vi
nghiên
cứu:
Những
quan
hệ
cạnh
tranh
và chính sách
cạnh
tranh trong
phạm
quốc
gia.
Chính sách
cạnh
tranh
ở đây là chính sách nhằm
tạo
một môi trưặng
cạnh
tranh
bình đẳng và lành
mạnh
chứ không
phải
là
những
giải
pháp nhằm
nâng
cao
năng
lực
cạnh
tranh
của quốc
gia
trên
thị
trưặng
thế
cùng
kết
hợp
giữa việc
nghiên cứu
tài
liệu,
tham
khảo
ý
kiến
của các
nhà nghiên
cứu,
và
những
kiến
thức thực
tiễn.
Ngoài
ra
Khoa
luận
cũng
vận
dụng
những
quan
điểm,
đường
đẩu, Kết luận,
Phụ
lục,
Tài
liệu
tham
khảo,
Khoa
luận
gồm
có
ba
chương như
sau:
CHƯƠNG
ì
KHAI
QUÁT
VE CẠNH TRANH VA
CHÍNH SÁCH
CẠNH TRANH
CHƯƠNG
li
CHÍNH SÁCH
CẠNH TRANH CỦA
TRUNG
QUỐC
CHƯƠNG HI
CHÍNH SÁCH
CẠNH TRANH CỦA
Mác-
Lê
nin, lịch
sử phát
triển
của nền
sản xuất
xã
hội
đi
từ
nền
kinh tế tự
nhiên lên nền
kinh tế
hàng
hoa.
Kinh
tế tự
nhiên
là hình
thức
sản
xuất
mà
sản phẩm
lao
động
làm
ra chỉ
có
chế
độ tư hợu
hoặc
các
hình
thức
sở hợu khác
nhau
về tư
liệu
sản
xuất.
sản
xuất
hàng
hoa
không
chỉ
thúc đẩy sự phát
triển
của
lực
lượng
sản
xuất,
nâng cao năng
suất lao
động
mà
nin,
là
khu
vực
trao
đổi,
mua
bán
mà ử
đó các
chủ thể kinh tế
cạnh
tranh
với
nhau
để xấc định giá
cả,
số
lượng
hàng hoa hay
dịch
vụ.
Ngày nay
thị
trường
được
coi
là
cầu nối giợa
các chủ
quyết
liệt
đòi
hỏi
các
DN
phải
luôn
tự
hoàn
thiện
để
tồn
tại
và phát
triển.
Chính
trong
điều
kiện
đó mà
cạnh
tranh
hình thành và đóng
vai
trò là một
trong
ba quy
luật
kinh tế
của xã
hội hiện đại.
sở
dĩ
như
vậy
là vì
nó
có
thể tạo ra
điểu
kiện
cho sự
cạnh
tranh
có
hiệu quả.
Ngược
lại,
cạnh
tranh
lại
khiến cho kinh tế thị
trường
trở
thành
thể chế kinh tế
năng
suất
nhất
hôn cùa
kinh
tẽ
thị
trường,
là
động
lực
làm tăng tính
vượt
trội
của
kinh tế thị
trường.
2.
Cạnh
tranh
và các khái
niệm
có liên
quan
2.1.
Cạnh
tranh
Có
nhiều
định
nghĩa
khác
nhau
cận cạnh
tranh
trên góc độ xã
hội,
đây là cách
hiểu
chung
về
cạnh
tranh,
là
cạnh
tranh
trong
mọi
lĩnh
vực của
đời
sống
xã
hội,
cạnh
tranh
theo
định
nghĩa
này
được
hiểu
là sự
điển
tiếng
Việt:
cạnh
tranh
là
"tranh
đua
giữa
những cá
nhăn,
tập
thể có
chức năng như
nhau,
nhằm
giành
phần
hơn,
phần
thắng
về mình
"'.
Như
vậy
cạnh
tranh
sẽ xảy
ra giữa
những
của nền
kinh tế thị
trường
thì
cạnh
tranh
được
hiểu
là sự ganh
đua,
đấu
tranh
về
kinh
tế
giữa
nhũng
người
sản
xuất
với
nhau,
giữa người sàn xuất
với
người
tiêu
dùng hàng hoa và dịch v
nhằm
giành giật
những
tranh giữa
những
người
bán
với
người
mua;
hai
là
cạnh
tranh giữa
những
người
mua
với
nhau
và;
ba là
cạnh
tranh giữa
những
người
bán
với
nhau.
Cạnh
tranh giữa người
bán
với
người
trên cơ
sở quy
luật
cung
cầu.
Khi
một
loại
hàng hoa
dịch
vụ nào
đó
diễn
ra
tình
trạng
cung
nhỏ hơn cầu thì
cuộc cạnh
tranh giữa
nhũng
người
mua
trở
nên gay
gắt
và giá hàng
hoa,
dịch
vụ
và xây
dựng
pháp
luật
cạnh
tranh
ờ
Việt
Nam
hiện
nay,
NXB Công an Nhân dân
2001,
ÍT.
8
5
£í Ihi Qlhư
7ố«a
người
bân là
cuộc cạnh
tranh
chính trên vũ đài
thị
trường,
đồng
thời
cũng là cuộc
cạnh
tranh
cạnh
tranh
mà sẽ
được
đề cừp
trong
những
phần
tiếp
theo
cùa
luừn
văn.
Như
vừy
xét
theo
phương
diện
mối
quan
hệ
giữa
những
người
bán thì
cạnh
tranh
được
hiểu
cũng
phù hợp
với
định
nghĩa
về
cạnh
tranh trong
Từ
điển
Bách
khoa
Việt
Nam,
theo
đó
cạnh
tranh
được
định
nghĩa là:
"hoạt
động
tranh
đua
giữa
những
người
sản
xuất
li
nhất
"
2
.
Đây
thực
sự là cách
hiểu
về
cạnh
tranh
đứng
trên góc độ
kinh
doanh,
thương
mại,
là
cạnh
tranh kinh
tế.
Theo
cách
hiểu
này có
thể thấy
được
vai
trò của
tranh
là
động
lực
bên
trong
thúc đẩy
nền
kinh tế
hàng hoa phát
triển.
2.2.
Các hình
thái
của cạnh
tranh
Có
nhiều
tiêu chí để phân
loại
cạnh
tranh
thành
những
hình thái khác
nhau.
Nếu căn cứ vào mức độ
từp trung trong
một
ngành,
định
mua/bán
của
cả bén
cầu/
bên
cung
đều không ảnh
hường
đến giá cả trên
thị
trường
3
. Giá cả
thị
trường
coi
như đã
được
định
truởc sẵn.
Cạnh
tranh
hoàn hảo
xuất
hiện
ở
những
ngành có
nhiều
của
các DN khác
nhau
là
'
Viện
nghiên cứu Nhà
nước
và Pháp
luừt,
Cạnh
tranh
và xảy
dựng
pháp
luừt
cạnh
Tranh
ở
Việt
Nam
hiện
nay
NXB Cõng an Nhân dân
2001,
tr.
8
2
Từ
điển
thị
trường
trong
đó có
ít
nhát
một người
bán hàng
lớn
đến mức có
thể
ảnh hưởng đến giá cả và lượng
cung
ứng
trên
thị
trưởng
'.
Cạnh
tranh
không hoàn hảo thường
biểu
hiện
dưới
các
dạng:
độc quyền
tuyệt đối,
độc
quyền
sự can
thiệp
của
Nhà
nước,
nền
kinh tế
hoàn toàn
vổn
động
theo
cơ chế
thị
trường
2
.
Trong
hình thái
cạnh
tranh
này Nhà nước hoàn toàn
không can
thiệp,
điều
tiết
đối
vói các
điều
kiện
cơ bản của
khả
năng
của
mình;
và được
tự
do
tham
gia
thị
trường.
Ngược
lại
với
cạnh
tranh
tự
do là
cạnh
tranh
có sự
điều
tiết
của các cơ
quan
Nhà
nước, tức
là có sự
can
thiệp,
kinh tế
vào các mục tiêu
kinh tế
vĩ
mô
của
từng
quốc
gia.
Phạm
trù chính sách
cạnh
tranh
đề
cổp
đến
trong
luổn
văn chính là
biểu
hiện
về
sự điều
tiết
của
Nhà nước vào
hoạt
động
cạnh
tranh.
cạnh
tranh
mà không bị
pháp
luổt
cấm và phù hợp
với
các
tổp
quán thương
mại.
Tuy nhiên do
chạy
theo
lợi
nhuổn,
các DN thường tìm cách
cạnh
tranh
bằng
mọi giá nhằm giành
giổt
thị
trường
và
loại
bỏ
đối thủ
do đó
thực tế
tranh
và
người
tiêu
dùng.
1
David
Begg,
Stanley
Fischer,
Rudiger
Dornbusch,
kinh tế
học,
NXB Giáo dục 1995
tr.
223
2
Bradley
R.
Schiller,
Kinh
tí
ngày
nay,
NXB
Đại
học Quốc
gia
Hà
lành
mạnh
bền
vững
thì không
thể
không
quan
tâm
đến
việc
xây
dựng
một môi trường
cạnh
tranh
lành
mạnh.
Trên
thực
tế,
hoạt
động
cạnh
tranh trong
các nền
kinh tế
diễn
ra
ngày càng đa
mạnh.
Khái
niệm
cạnh
tranh
không lành
mạnh
được định
nghĩa
khác
nhau
ở mủi
quốc
gia.
Đây
là
một
trong
các hình thái cùa
cạnh
tranh
mà đã được đề
cập
ở
phần
trên
với
tính
chất
cơ bản là
trường,
cạnh
tranh
không lành
mạnh
diễn
ra
ngày càng đa
dạng
với
ngày càng
nhiều
hoạt
động
tinh
vi,
phức
tạp.
Có
thể
liệt
kê ra sau đây một số hành
vi
cạnh
tranh
không lành
mạnh
phổ
biến
':
lẫn với
các
sản
phẩm có
nguồn
gốc khác.
- Đánh
lừa
bằng quảng cáo, khuyến mãi,
ưu đãi thương
mại,
quảng
cáo có
dụng
ý so sánh nhằm
loại
trừ đối thủ
cạnh
tranh
- Bán phá giá nhằm
loại
trừ đối thủ
cạnh
tranh.
- Xâm phạm bí mật
kinh
doanh,
phá vỡ
bất
hợp pháp hợp đồng thương mại
lý
đa phương
điều chỉnh
hoạt
dộng cạnh
tranh
và
luật
cạnh
tranh
của
một
số
nước
và vùng lãnh
thổ" -
Vụ pháp
chế-tài
liệu
tham khảo-2003
8
£í Ihi Qlhư
7ố«a
Các hành
vi
hạn chế
cạnh
tranh
cũng
là một
cạnh
tranh ra
làm ba nhóm cơ
bản là
':
- Các
thoa
thuận
hạn chế
cạnh
tranh:
định giá hay
điều
kiện
bán hàng
khác;
phân
chia thị
trường/khách hàng hay
nguồn cung
cửp
dịch
vụ/hàng hoa;
hạn
chế sản
xuửt,
lượng
bán
ra;
từ
trường:
bán phá
giá,
tăng giá
có
chủ
định;
ửn định giá và
điều
kiện
bán
lại;
áp
dụng điều
kiện
thương mại phân
biệt
đối
xử
với
thương nhân khác
-
Hoạt
động sáp
nhập:
Các
hoạt
động sáp
nhập,
hợp
tranh
không lành
mạnh
và
biểu hiện
cao
nhửt
của cạnh
tranh
không lành
mạnh
là độc
quyền.
Độc
quyền
là
hình thái
thị
trường
trong
đó có một DN duy
nhửt
bán một
loại
sản phẩm mà
không có sản phẩm
thay thế
gần
giống
nó
do
ban
đầu là động
lực
của sự phát
triển
kinh tế
hàng
hoa,
nhưng
khi
độc
quyền ra
đời
thì động
lực
đó sẽ bị
thủ
tiêu.
Ngoài
ra
sự
xuửt
hiện
của độc
quyền
còn phụ
thuộc
vào đặc thù của
từng
một
số
nước
và vùng lãnh
thổ" -
Vụ pháp
chế
-
tài
liệu
tham khảo-2003;
Cơ sở
khoa học
và
thực
tiễn
cho
việc
xây
dựng
chính
sách
cạnh
tranh
ờ
Việt
Nam, NXB Lao
Động,
Hà
Nội,
Theo
triết
học
Mác-xít,
đấu
tranh
là
động
lực
thúc đẩy sự
vận
động và phát
triển
của mọi sự
vật,
hiện
tượng.
Cạnh
tranh với
bản
chất
là
cuộc
đấu
tranh
về
kinh tế
giữa
các thành viên
trong thị
tự
nhiên,
những
thành viên
yếu
kém
sẽ
dần dần
bị
loại
bỏ,
những
thành viên
hoạt
động
tỏt,
ưu
việt
sẽ
sỏng
sót và phát
triển.
Cạnh
tranh
là phương
thức
phân bổ các
nguồn
lực,
đồng
của các DN trên
thị
trường,
cạnh
tranh
tạo
ra
áp
lực
bên ngoài
buộc
các DN
phải
tìm mọi
giải
pháp để nâng cao năng
suất
và
chất
lượng
lao
động
trong
DN nhằm đưa
ra thị
trường
những sản
phẩm có
chất
lượng
giáo dục tính tháo
vát,
năng
động,
nhạy
bén và óc
sáng
tạo
của
các DN.
Trong
khuôn khổ nền
kinh tế thị
trường,
ý
nghĩa
kinh tế
của cạnh
tranh
là,
một
mặt
tạo ra
động
lực
cho sự phát
triển
kinh
tế,
mặt khác là cách hữu
nền
kinh tế
xã
hội.
Cụ
thể,
cạnh
tranh
có
vai
trò
quan
trọng trong việc
xác định ba vấn đề cơ
bản
của nền
kinh tế thị
trưởng,
đó
là:
Sản
xuất
cái
gì;
sản
xuất
như
thế
nào;
sản
DN
trong
cuộc cạnh
tranh
ấy không
thể
không tìm
hiểu
nhu cầu của
người
tiêu dùng để xác định đúng đắn về sản phẩm
mà mình đưa
ra,
nhằm đảm bảo chúng được
người
tiêu dùng
chấp nhận.
Đây là
10
£í
ĨTkị
Qlhư Tôea
điều
kiện
sống
còn cho sự
tổn
tại
và
phất
chử
giúp DN
trả
lời
đúng đắn câu
hỏi
sản
xuất
cái
gì, cạnh
tranh
còn
hướng
cho các nhân
tố
sản
xuất
được sử
dụng
một cách có
hiệu
quả
nhất,
làm
giảm
thiểu
giá thành của
sản
xuất
xã
đóng một
vai
trò
hết
sức
quan
trọng
đối
vơi sự phát
triển
kinh tế
quốc
gia.
Thông qua
việc
thúc đẩy sự phát
triển
không
ngừng của
các DN
với
tư cách
là
thành viên
của
thị
trường,
cạnh
tranh
thực
được
tạo điều
kiện diễn
ra
một cách lành
mạnh,
không
bị cản
trở,
không
bị
lợi
dụng
trở
thành công cụ để gây
hại, loại
bỏ các DN
khác.
Nếu không đảm bảo được
điều
này thì
cạnh
tranh khi
đó
lại
trở
thành
trở
ngại,
làm
đoàn hoa khu
vực,
đây
cũng
là xu
thế
cơ bản của
cạnh
tranh.
Trên phạm
vi
quốc
tế,
cạnh
tranh
có tác động tích cực đến sự phát
triển
phân công
lao
động
quốc
tế,
thúc đẩy sự phát
triển
của các
quan
hệ
kinh
tế quốc tế
nói
nhiều
nhân
tố
khiến
cho
cạnh
tranh
tăng lên như: số
lượng
các công
ty
tăng
lên;
ngoài
việc
cạnh
tranh với
các công
ty
trong
nước DN còn
phải đối
mặt
với
sự
cạnh
tranh
từ
các công
ty
và
lợi
thế
cạnh
tranh
sẽ
thuộc
về
những
DN nắm
giữ
những
kỹ
thuật
mới
đó;
vòng
đời
li
£1 giạ Qlhư
TCea
ơi
i4-X40D-3t&fìlG
sản
phẩm
ngắn
đi,
tính sáng
tạo
và năng
hoa
đời sống
kinh
tế thế
giới
đã dần dần làm hình thành
một
thị
trường
thế
giới
thống nhất,
trong
đó ý
nghĩa
cứa các yếu
tố cạnh
tranh
thay
đổi
theo
hướng
làm
giảm
tương
đối
vai
trò
cạnh
tranh
toán và
giao
hàng, qua các
dịch
vụ kèm
theo
bán
hàng Đặc
trưng
cứa cạnh
tranh
cũng
thay
đổi,
cạnh
tranh
không
phải
chỉ
là
đối
đầu, ganh
đua mà
là cạnh
tranh
có tính hợp
tác,
cấc
bên cùng có
lợi.
người
đó sẽ
chiếm
được
thế
chứ
động
trong
tiến
trình toàn
cầu hoa.
Vấn đề
cạnh
tranh
có tính
chất
toàn
thế
giới,
can hệ
tới
địa
vị
và
lợi
ích
cứa
mỗi
quốc
gia.
quốc
tế
hoa
trong
thế
kỷ 21 không
dừng
lại
ở
việc
làm
thế
nào để
cạnh
tranh
có
hiệu
quả mà còn là làm
thế
nào để
cạnh
tranh
một cách công
bằng
bình đẳng và
có
trật
tự.
Trong
xu
kiện
cho hàng hoa và
dịch
vụ ở một
thị
trường khác
xâm
nhập
và
cạnh
tranh
bình đẳng
với
hàng
hoa, dịch
vụ sản
xuất
tại
chỗ.
Trong
khuôn khổ WTO
những
biện
pháp ngăn cản sự lưu thông
cứa
hàng hoa như
thuế
quan,
phi thuế
và
những
thay
đổi lớn
trong
cách
tiếp
cận cạnh
tranh
cứa
các
quốc
gia.
12
£1 giạ Qlhư
TCea
ơi
i4-X40D-3t&fìlG
li.
Chính sách
cạnh
tranh
1.
Ý
nghĩa của
việc
xây
dựng
một chính sách
cạnh
tranh
tự
do sẽ dẫn đến
cạnh
tranh
không lành
mạnh, các hành
vi
hạn
chế cạnh
tranh
và hơn nữa là độc
quyền.
Chính
những
hệ
quả
này
lại
làm
thui
chột
cạnh
tranh
và
khiến
cho
cạnh
tranh
không còn mang ý
nghĩa
đến
lợi
ích của toàn xã
hội.
Kinh
tế thị
trường càng phát
triển
thì
những
biểu hiện
sai
lệch
của
cạnh
tranh
càng
xuớt
hiện
nhiều
và
dưới
những
cách
thức
ngày càng đa
dạng, phức
tạp,
khó
kiểm
và
phức
tạp
hơn bao
giờ hết.
Trong
bối
cảnh đó, cạnh
tranh
chỉ
có
thể
phát huy được
hết vai
trò
của
nó
khi
vận động
trong
một
trật
tự
và
theo
những
quy
tắc
nhớt
định áp
tạo điều
kiện
cho
cạnh
tranh diễn ra
một cách lành mạnh. Sự
can
thiệp
của
Nhà nước thông qua
việc
xây
dựng
một chính sách
cạnh
tranh
hoàn
thiện
chính là sự can
thiệp
của "bàn
tay
hữu
hình "
trong
nền
kinh tế
nhằm đảm bảo cơ chế vận động cho toàn bộ nền
kinh
tế.
kinh tế
mỗi quốc
gia
những
lợi
ích
hết
sức
to lớn.
Hơn
thế nữa, trong
bối
cảnh
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế,
chính sách
cạnh
tranh
còn có ý
nghĩa quan
trọng trong việc
nâng cao
chớt
lượng
của
nền
kinh
2.1.
Chính sách cạnh tranh
Như trên đã đề
cập,
cạnh
tranh khi
phát
triển
một cách
tự
do thì
tất
yếu sẽ
dẫn
đến
cạnh
tranh
không lành
mạnh,
các hành
vi
hạn
chế cạnh
tranh
và hơn nữa
là độc
quyền. Tất
cả
những
hành
điều
tiết
mọi
hoạt
động
cạnh
tranh
nhằm bảo vệ
cạnh
tranh,
tạo ra
một môi trường
cạnh
tranh
tích
cực,
lành
mạnh,
đảm bảo cho mọi chủ
thể trong
nền
kinh tế
đểu
thu
được
những
lợi
ích vốn
có do
cạnh
'.
Theo
nghĩa
hẹp
dưới
góc độ xây
dựng
và hoàn
thiện
khung
pháp
luật,
chính sách
cạnh
tranh
bao gồm phạm
vi
mức độ xử
lý
các vấn đề
liên
quan đến cấu
trúc
thị
trường,
quan hệ ứng xử của các thành
viên trên
thị
trường
và
lược
cạnh
tranh
là
tổng
hợp các
biện
pháp để nâng cao
khả
năng
cạnh
tranh
của
DN so
với
các DN khác
hoặc
của cả nền
kinh tế
so
với
các nền
kinh tế
khác.
Còn chính
sách
cạnh
tranh
là
việc tạo
mà là bảo
vệ
sự cạnh
tranh
công
bằng
và hạn
chế hoặc chế
tài
các hành
vi
cạnh
tranh
không
chính
đáng,
từ
đó
tạo
điều
kiện
khách
quan
thuận
lợi
cho
cạnh
tranh
công
bằng.
Phạm
Duy
Nghĩa-
"Về pháp
luật
cạnh
tranh
và chống độc
quyền",
Tạp chí
Nhà
nước
và pháp
luật
số
8/1999,
tr.24-25
14
JBi
ĩĩhị
Olhư
76ea
tranh.
Có
thể
hiểu
khung
pháp
luật
về
cạnh
tranh
là sự
thể
chế hoa chính sách
cạnh
tranh
của Nhà
nước.
Mục đích của pháp
luật
về
cạnh
tranh
là
tạo ra
một sân chơi
chung
cho
hoạt
động
cạnh
tranh,
nghĩa
là để quá trình
tranh
đua
giữa
các DN
diễn
pháp
lại
phải
cụ
thể,
nên pháp
luật
về
cạnh
tranh
chỉ
có
thể
xác
định
ra
giới
hạn cho
hoạt
động của các chủ
thể trong
cạnh
tranh, tức
là
quy định
ra
những
hành
vi
không được
về
cạnh
tranh,
khác
với
những
lĩnh
vực pháp
luật
khác như
luật
công
ty
hay
luật
hình sự.
Pháp
luật
về
cạnh
tranh
bao gồm
hai
lĩnh
vực chủ
yếu:
pháp
luật
chống
cạnh
phương pháp
của
luật
tư, tức
là nếu
người
bị
ảnh
hường,
bị
thiệt
hại
hay có
nguy
cơ
bị
thiệt
hại
chưa đưa
ra
sự
phản
đối
và
khiếu
kiện
thì
pháp
luật
và
từng
hành
vi,
từng
quan
hệ
của
một
chủ
thể
thì
pháp
luật
chống
hạn
chế cạnh
tranh
lại
nhằm vào
hiện
tượng
làm
thay đổi
cơ
cấu
thị
trường.
2.3.
Những cơ sở cho
việc
Tuy
vậy,
chính sách
cạnh
tranh trong hiện
thực
bao
giờ
cũng
là
kết
quả
thoa
hiệp,
nó không
lấy
một mô hình lý
luận
cạnh
tranh
duy
nhất
làm cơ
sở,
mà dựa trên
việc lấy
một mô hình lý
luận
nào đó làm chủ
đạo,
luận
khoa
học đáng
tin
cậy,
có như vậy mới tránh được
hiện
tượng tạm bợ
trong
quá trình xác định và
thực
thi
chính sách
cạnh
tranh.
Nói
cụ
thể,
việc
xây
dựng
chính sách
cạnh
tranh phải
tính
tới
ba nhân
tố sau:
2.3.1.
Môi
cạnh
tranh,
không
thể
không tính
đến
những
đặc
điểm
riêng
biệt
đó. Chính trình độ phát
triển
của nền
kinh tế
sẽ
phản
ánh trình độ phát
triển
của các thành viên trên
thị
trưồng,
đồng
thồi
ảnh
hưởng
đến thái
độ,
phương
thức
trưồng đã
đạt
được trình độ
phát
triển
tiên
tiến,
cạnh
tranh trong
điều
kiện
đó được họ
thực
hiện
chủ yếu
thông qua trình độ công
nghệ,
qua
chất
lượng
sản
phẩm
dịch
vụ và độc
quyền
đã
trở
thành một xu
thế phổ biến
để
nhóm. Thêm vào đó mỗi
quốc
gia
lại
có một mục tiêu
kinh tế
riêng,
trong
đó có
những
ngành được Nhà
nước
khuyến
khích
cạnh
tranh,
ngược
lại
có
những
ngành
lại
cần
thiết
phải
được
bảo hộ,
do Nhà nước độc
quyền
nắm
chú ý đến
những
đặc
điểm
riêng của
từng
nền
kinh tế
để phát
hiện
cho đúng
lĩnh
vực chính cấn
điều
chỉnh
của chính sách
cạnh
tranh
và xác đinh mức độ và phạm
vi
điều
chỉnh
cho phù hợp để đảm bảo chính sách
cạnh
tranh
thực
sự là một bộ
phận
của chính sách
kinh tế vĩ
xã
hội
Một
trong
những
nhân
tố
xã
hội
có ảnh hưởng đến
việc
xây
dựng
chính
sách
cạnh
tranh
là
nhận
thức
về
cạnh
tranh
và mức độ
chồp nhận cạnh
tranh
cùa
xã
hội.
Tuy
trường và
cạnh
tranh
còn khá
mới
mẻ. Ngay cả
khi
nền
kinh tế
quốc
gia
đã
chồp nhận
cơ
chế
thị
trường,
không
phải
mọi thành viên
trong
xã
hội
đều ủng hộ
cạnh
tranh,
ở một số
nước,
do tư
duy nhồn
đang được hưởng
lợi
từ
bảo
hộ,
bảo
trợ
và
vị trí
chi
phối
trên
thị
trường,
không muốn tăng cường
cạnh
tranh trong
nền
kinh
tế.
Thái
độ, quan
điểm,
hệ tư tưởng
của
giai
cồp
thống
trị
có
điểm
thể
hiện
rõ thái độ của
giai
cồp
thống
trị đối vối thị
trường và
đối
với
cạnh
tranh.
Ý
thức
chồp
hành
luật
pháp
của
các thành viên
trong
xã
hội
cũng
là một nhân
tố
xã
hội
có ảnh hưởng đến chính sách
định.
Sự hình thành ý
thức
pháp
luật
không
những
do trình độ của
lực
lượng sản
xuồt
và tính
chồt
xã
hội
của
quan
hệ sản
xuồt
quyết
định,
mà còn phụ
thuộc
vào tác động
tổng
hợp
của tập
quán xã
hội,
tâm lý dân
trường,
khi cải
cách và
^huyển-đổi-thể
chế
kinh tế thị
Ị
THÚ
V.Ễ-H
Ị
trường,
xây
dựng
chính sách
cạnh
tranh,
phải
tiến
hành- đồng
thời
việc
tăng
.
hí.OA.
rMuụ:.õ
cương điêu
tiết
kết
quá phàn phôi
chỉ
là đòi
hỏi
của công
cuộc cải
cách sâu
sắc hơn,
của sự phát
triển
kinh tế
mà còn là đòi
hỏi
của
việc
duy
trì
sự
ổn
định xã
hội,
thúc đẩy
sự
tiến
bộ xã
hội.
2.3.3.
Các quy
tắc,
luật
lệ
mắt xích
trong
đó các nền
kinh tế
gắn
kết
với
nhau,
tương tác
lẫn
nhau
trong
khuôn khổ
những
quy
tắc
và
luật
lệ
chung. Bất
cữ một
quốc gia
nào
khi
xây
dựng
các chính sách
kinh tế
vĩ
mô của mình
định
chung
và mâu
thuẫn
với
chính sách của cấc
quốc
gia
khác,
nhất
là các
nước
đối
tác.
Điều
này là cần
thiết
cho sự phát
triển
kinh tế
xã
hội
toàn
diện
và
ổn
định
của quốc
gia
đổng
hết
phải
căn cữ vào
thực
trạng kinh tế
xã
hội,
căn cữ vào mục tiêu
kinh tế
xã
hội
của mình, để xác định
trọng
tâm xây
dựng
chính sách
cạnh
tranh.
Đồng
thời,
các
quốc
gia
cũng
phải
xác định rõ
những đối
tác
kinh tế
quan
biến hiện
nay của liên
kết kinh tế
quốc
tế
là
việc
các
quốc
gia
tham
gia
vào các
tổ
chữc
khu vực và
quốc
tế.
Do đó một
trong
những
điểm
lưu ý
khi
xây
dựng
chính sách
cạnh
tranh
đó là chính sách
thế
giới,
mục đích
hoạt
động
của
WTO là thúc đẩy
tự
do hoa thương mại
giữa
các nước thành
viên,
tạo
một
môi trường
kinh
doanh tự
do,
thông thoáng và lành mạnh. Hầu
hết
các
quốc gia
trên
thế
giới
hiện
nay đều mong muốn
trở
thành thành viên của
tổ chữc