ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HUYỀN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC CỦA
TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
luật văn thạc sĩ luật học
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. NGUYN B DIN
hà nội - 2011
MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU………………………………………………………………… …… 1
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT SỬ DỤNG
NGUỒN NƢỚC CỦA TRUNG QUỐC………………………………… …… 7
1.1.Khái niệm nguồn nƣớc ( tài nguyên nƣớc )theo pháp luật Trung Quốc… 7
1.2 . Đặc điểm cơ bản của nguồn nƣớc( tài nguyên nƣớc ) của trung quốc…… 9
1.3. Các giai đoạn sử dụng và phát triển nguồn nƣớc của Trung Quốc……… 11
1.4. Nguồn nƣớc và sự phát triển kinh tế của Trung Quốc…….……………….15
1.5. Thực trạng về nguồn nƣớc của Trung Quốc hiện nay…………… …….17
1.6. Các chính sách của Trung Quốc hiện nay…………….………….………. 18
1.7. Mục tiêu chính sách, pháp luật về quản lý và phát triển nguồn nƣớc của
Trung Quốc…………………………………………………………….…… 22
1.7.1. Mục tiêu chính sách,pháp luật về quản lý nguồn nƣớc………………….22
1.7.2. Mục tiêu chính sách, pháp luật về phát triển nguồn nƣớc của Trung Quốc
giai đoạn (2010-2011)……………………… …………………………….… 22
1.8 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về nguồn nƣớc của Trung Quốc.
và các giai đoạn phát triển của luật nƣớc…………………… ……………… 29
2.7.2. Trách nhiệm pháp lý hành chính……………………………………… 58
2.7.3. Trách nhiệm pháp lý hình sự ………………………………… ……… 59
2.8. Thực trạng thi hành pháp luật về nguồn nƣớc của Trung Quốc………… 60
2.8.1 Những thành tựu đã đạt đƣợc………………………… …………………60
2.8.2 Những bất cập còn tồn tại……………………… ……………………….64
Chƣơng III Chính sách pháp luật sử dụng nguồn nƣớc của Việt Nam và các bài
học kinh nghiệm từ pháp luật nguồn nƣớc của Trung Quốc đối với Việt Nam 68
3.1 Quan hệ nguồn nƣớc và chính sách pháp luật về nguồn nƣớc của nƣớc ta
trong giai đoạn đổi mới ……………………… ……………………………… 68
3.1.1 Chính sách pháp luật sử dụng nguồn nƣớc của Việt Nam thời kỳ mới giành
độc lập năm 1945……………………… ……………………………….69
3.1.2 Chính sách pháp luật của nƣớc ở nƣớc ta từ năm 1946 đến 1975…… …70
3.1.3 Chính sách pháp luật nguồn nƣớc từ năm 1976 – 1995 ………………… 73
3.1.4 Chính sách pháp luật nguồn nƣớc từ năm 1995 đến nay………………….78
3.2 Một số bài học kinh nghiệm từ sự thực hiện chính sách pháp luật về nguồn
nƣớc của Trung Quốc ………………………………………………………… 86
3.2.1 Bài học kinh nghiệm thứ nhất ……….…………………………….86
3.2.2 Bài học kinh nghiệm thứ hai……….………………………………88
3.2.3 Bài học kinh nghiệm thứ ba………….…………………………….90
3.2.4 Bài học kinh nghiệm thứ tƣ………………….…………………… 91
3.2.5 Bài học kinh nghiệm thứ năm …….……………………………….92
3.3 Một số kiến nghị ……………………… ………………………………….93
KẾT LUẬN ……………… ………………………………………………….100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi
trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước; nguồn nước là một
đứng thứ 6 trên thế giới sau Brazil, Nga, Canada, Hoa Kỳ và Indonesia. Trung
Quốc với 2.185 mét khối trên đầu người, chỉ bằng 1/4 trung bình thế giới, bằng 1/5
của Hoa Kỳ, xếp hạng 121 trên thế giới, là một trong những 13 quốc gia nghèo về
nguồn nước. Chỉ số nêu trên đã thúc đẩy Nhà nước Trung Quốc cần có những
chính sách bảo vệ đối với tài nguyên nước đúng đắn, phù hợp với nhu cầu thiết yếu
của con người và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng. Chính sách và pháp
luật về tài nguyên nước của Nhà nước Trung Quốc không ngừng được nghiên cứu,
bổ sung hoàn thiện. Kể từ khi thành lập nước, đặc biệt là từ khi cải cách mở cửa,
dưới sự lãnh đạo của Nhà nước, công nghệ thủy lợi về tiết kiệm nước trong tưới
tiêu và sản xuất thiết bị tưới tiết kiệm nước, dự án tiết kiệm nước trong xây dựng
đã được triển khai vv…Luật pháp của Trung Quốc quy định phải hết sức tiện kiệm,
sử dụng hợp lý nguồn nước và bảo vệ thiết thực hợp lý nguồn nước, tránh lãng phí
trong sử dụng. Luật pháp của Trung Quốc quy định rõ chính quyền nhân dân các
cấp cần tiến hành quy hoạch, quản lý nghiêm ngặt, bảo vệ và sử dụng tài nguyên
nước, ngăn chặn và sử lý những hành vi lãng phí, ô nhiễm nguồn nước. Trong
chiến lược quốc gia về tài nguyên nước trong thế kỷ 21, và các vấn đề khoa học
liên quan đến nguồn nước là một trong những vấn đề quan trọng của chính phủ
Trung Quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để thi hành
pháp luật về tài nguyên nước, Nhà nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đề ra
hàng loạt các biện pháp để thực thi hiệu quả.
Nghiên cứu hệ thống pháp luật về tài nguyên nước của Trung Quốc trong
những năm gần đây và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là hết
sức cần thiết và cấp bách. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, tác giả đã lựa chọn đề
tài: “Pháp luật về sử dụng nguồn nước của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Làm rõ nhận thức vai trò của chính sách, hệ thống pháp luật về tài nguyên
nước và những tác động của chúng.
- Hiểu biết cơ bản hệ thống pháp luật về sử dụng nguồn nước của Trung
Quốc; chế độ quản lý nguồn nước; các quyền và nghĩa vụ đối với người sử dụng
5. Những công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn
- Cán cân và tài nguyên nước mặt Việt Nam, Tổng cục khí tượng thủy văn, 1989.
- TS. Nguyễn Viết Phổ - Vũ Văn Tuấn: Đánh giá và bảo vệ tài nguyên khí hậu, tài
nguyên nước của Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật 1994.
-Tô Đình Huyến: Nghiên cứu đánh giá tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội vùng Đông bắc Việt Nam. Luận án Phó tiến sĩ Khoa học - Địa chất, năm
2006.
- Trần Đức Hạ (chủ biên): Bảo vệ và quản lý tài nguyên nước, Nxb Khoa học và
Kỹ thuật, 2009.
- Nguyễn Thanh Sơn: Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2005.
- Hoàng Hưng: Quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
- Phạm Xuân Sử: Phát triển bền vững tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng.
Luận án Phó tiến sĩ Khoa học kỹ thuật, 2006.
- Ngô Thị Thanh Vân: Quản lý sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, Nxb Nông
nghiệp, 2006.
- Nguyễn Văn Thắng: Cân bằng và phát triển bền vững tài nguyên nước các sông
vùng ven biển miền trung. Luận án tiến sĩ kỹ thuật, 2006.
- Trần Văn Hưng: Nghiên cứu môi trường và tài nguyên nước phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội dải ven đồng bằng sông Hồng. Luận án Phó tiến sĩ khoa học, 1996.
Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết, báo cáo về tình hình tài nguyên nước; thực
trạng, chính sách bảo vệ môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng.Tuy
nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào trùng với đề tài. Quan điểm
của Đảng ta, thực tiễn đã chứng tỏ chính sách pháp luật về tài nguyên nước không
chỉ là vấn đề sự sống trong tương lai mà còn mang ý nghĩa kinh tế, chính trị - xã
hội sâu sắc.
6. Kết quả dự kiến của luận văn
6.1. Kết quả khoa học
- Đánh giá thực trạng, thực trạng pháp luật tài nguyên nước của Trung Quốc; chỉ ra
những tác động tích cực và hiệu quả của hệ thống pháp luật tài nguyên nước đối
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT SỬ DỤNG NGUỒN NƢỚC
CỦA TRUNG QUỐC 1.1. KHÁI NIỆM NGUỒN NƢỚC ( TÀI NGUYÊN NƢỚC) THEO PHÁP
LUẬT TRUNG QUỐC
Nước là một loại tài nguyên quí giá và được coi là vĩnh cửu. Không có nước thì
không có sự sống trên hành tinh của chúng ta. Nước là động lực chủ yếu chi phối
mọi hoạt động sinh hoạt và kinh tế của con người. Nước được sử dụng rộng rãi
trong sản xuất nông nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thủy sản
vv Do tính chất quan trọng của nước như vậy nên UNESCO lấy ngày 22/3 là ngày
nước thế giới. Tài nguyên nước là lượng nước trong sông, ao hồ, đầm lầy, biển và
đại dương và trong khí quyển, sinh quyển.
Đối với hàng ngàn năm trước đây, loài người cho rằng nguồn cung cấp nước là trời
cho, nhưng bây giờ khái niệm này đã được thử thách. Tình hình khẩn cấp của môi
nguồn nước dưới đất năm 1998: lưu trữ và vận chuyển trong đất đá, chất lượng và
số lượng là giá trị sử dụng tài nguyên nước là một phần của trái đất, lượng mưa
không khí và nước bề mặt tiếp xúc gần gũi và chuyển đổi lẫn nhau. Năm 2003 cũng
đưa ra một quan điểm: “tài nguyên nước ngầm bao gồm nguồn lưu trữ nước ngầm
và nguồn nước không tham gia vào chu trình nước hiện đại, không tái tạo và khả
năng lưu trữ phục hồi của tài nguyên lưu trữ; tham gia trong chu trình hiện đại, tái
tạo và phục hồi năng lực cung cấp nguồn nước”vv…
Tại điều 2 Luật nước của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thông qua tại kỳ
họp thứ 24, Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa VI, ngày 21 tháng 1 năm
1998, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1998 quy định: “Tài nguyên nước là nước
mặt và nước ngầm”. Luật nước của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thông qua
kỳ họp thứ 29, Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX thông qua ngày 29
tháng 8 năm 2002 về việc sửa đổi bổ sung Luật nước năm 1998, có hiệu lực ngày 1
tháng 10 năm 2002, tại điều 2 quy định: “Tài nguyên nước bao gồm nước mặt và
nước ngầm”.
Theo đó, nước mặt bao gồm sông ngòi, sông băng, hồ, đầm lầy và các nguồn
nước khác; nước ngầm là lượng nước dưới đất dù động hay tĩnh; nước mặt và nước
ngầm được chuyển hóa vào nhau, không thể tách rời. Như vậy, khái niệm nguồn
nước theo pháp luật Trung Quốc nó đồng nhất với tài nguyên nước, [57, tr.7].
Tài nguyên nước có giá trị trực tiếp cho con người và giá trị tiềm năng của
vật chất. Nguồn tài nguyên nước là hiệu quả tiêu chuẩn đối với hệ thống sinh thái
không giới hạn đối với con người. Tuy mang tính vĩnh cửu nhưng trữ lượng hàng
năm không phải là vô tận, tức là sức tái tạo của dòng chảy cũng nằm trong một giới
hạn nào đó không phụ thuộc vào mong muốn của con người. Tài nguyên nước
được đánh giá bởi ba đặc trưng cơ bản là lượng, chất lượng và động thái của nó.
Biết rõ các đặc trưng tài nguyên nước sẽ cho chúng ta phương hướng cụ thể trong
việc sử dụng, qui hoạch khai thác và bảo vệ nó.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VỀ NGUỒN NƢỚC ( TÀI NGUYÊN NƢỚC) CỦA
TRUNG QUỐC
Trung Quốc nằm ở phía đông Châu Á và Châu Âu, chủ yếu do Thái Bình
Theo số liệu thống kê năm 2004, thì lượng nước bình quân trên đầu người là 2185
m3.
Thứ hai
, dòng chảy hàng năm có sự biến đổi lớn: các dòng chảy thay đổi
theo thời gian, các sông ở miền Bắc đã xuất hiện những năm mưa liên tiếp và
những năm khô liên tiếp. Ví dụ sông Hoàng Hà cho 11 năm liên tiếp mùa khô
(1922 -1932), dòng chảy trung bình năm là 24% ít hơn so với các năm bình thường,
và cũng xuất hiện trong 9 năm liên tiếp của thời kỳ ẩm ướt (1943 -1951), dòng
chảy trung bình năm là 19% so với năm bình thường. Trong những năm khô hạn
liên tiếp là hiện tượng thiên tai, hạn hán lũ lụt gây lên sự bất ổn trong sản xuất nông
nghiệp.
Lượng mưa hàng năm ở Trung Quốc phân bố không đồng đều. Phía Nam
sông Trường Giang vào mùa lũ ( từ tháng 4 -7) cho khoảng 60% tổng dòng chảy
hàng năm, lũ lụt ở một số sông phía Bắc Trung Quốc ( từ tháng 6 - 9) lên đến 80%
tổng dòng chảy hàng năm.
Thứ ba,
Sự phân bố đất đai, dân số, tài nguyên nước không phù hợp với sự
phân bố của nền kinh tế. Theo số liệu thông kê năm 1993 thì ở phía Bắc có 5 con
sông, số dân là 46, 5% tổng dân số, tổng số đất canh tác 65, 3%, GDP chiếm 45,
2% của cả nước nhưng lượng nước chỉ là 19% tổng số nước quốc gia. Còn ở phía
Nam có 4 con sông, dân số 53, 5%, đất canh tác 34, 7%, GDPchiếm 54, 8%, lượng
nước là 81%. Như vậy miền Bắc lượng nước bình quân đầu người là 1.127 mét
khối chỉ bằng 1/3 bình quân đầu người của miên Nam.
Thứ tư
, tình hình môi trường nước là nghiệt ngã, hiện nay tình trạng ô nhiễm
nguồn nước rất nghiêm trọng, khoảng 1/3 chất thải công nghiệp và 80% nước thải
không qua xử lý mà thải trực tiếp ra sông, hồ, môi trường nước đô thị suy thoái tới
tượng rằng nước là “vô tận”. Trong giai đoạn này chính sách chủ yếu là kiểm soát
lũ, theo thông kê tại các bờ kè của sông quốc gia và chiều dài ven biển là
4.200.000km, khoảng còn lại là bị phá vỡ, các tiêu chuẩn kiểm soát lũ lụt là rất
thấp, cả Trung Quốc có hơn 100 triệu mét khối công suất và sáu hồ chứa lớn. Khối
lượng là 0, 1 - 1, 0 mét khối các hồ chứa vừa và nhỏ, diện tích tưới tiêu 1.600 triệu
ha, mức độ đảm bảo không cao. Rất ít cơ sở cho các dự án kiểm soát lũ, công trình
cấp nước, xói mòn đất nghiêm trọng, rất nhiều đất nhiễm mặn, hoang mạc hóa.
Giai đoạn thứ hai,
là nhấn mạnh sự quy hoạch thống nhất: hạn chế thuốc trừ
sâu, sử dụng phương pháp kỹ thuật, thông qua việc lập kế hoạch so với một số
chương trình để xác định các lưu vực hoặc phương pháp tiếp cận phát triển khu
vực, đề xuất thực hiện các biện pháp kỹ thuật. Tuy nhiên trọng tâm của phát triển
tài nguyên nước là mục tiêu kế hoạch và phương pháp đánh giá hầu hết các nhu cầu
của nền kinh tế khu vực như là một điều kiện tiên quyết cho dự án hoặc chương
trình dựa trên các chỉ số tốt nhất về kỹ thuật và kinh tế. Các vấn đề khác không liên
quan đến khía cạnh kinh tế như bảo tồn nguồn nước, bảo vệ tài nguyên nước, môi
trường sinh thái, phấn bỏ hợp lý các vấn đề khác.
Trong giai đoạn thứ hai, do sự phát triển quy mô lớn về sử dụng tài nguyên
nước và sử dụng xây dựng dự án, số lượng các nguồn nước sẵn có và phát triển
kinh tế xã hội của nước dần dần trở lên cân bằng hơn, hay sự thoát nước tự nhiên
thải vào môi trường ngày càng nhiều, mùa khô thiếu nước xảy ra đã làm mất cân
bằng giữa cung và cầu.
Trong giai đoạn này, có thể được bắt đầu từ khi Trung Quốc mới thành lập,
đến cuối những năm 70 ở một số vùng của miền bắc Trung Quốc bắt đầu thiếu
nước.Trong thời gian này, Trung Quốc đã tiến hành một quản lý phát triển nguồn
nước với quy mô lớn và việc sử dụng phát triển tài nguyên nước được cải thiện,
việc cung cấp nước làm tăng công suất, mở rộng diện tích tưới tiêu cho sự phát
triển của Trung Quốc về kinh tế và xã hội. Theo thông kê, trong năm 1949 tổng
lượng nước là 103.100.000.000 mét khối, trong đó 100.100.000.000 mét khối cấp
đoạn này, do dân số tăng nhanh và phát triển kinh tế nhanh chóng, tăng nhu cầu về
tài nguyên nước, do tác động của ô nhiễm nước đã diễn ra tình trạng khan hiếm
nước rất phổ biến, đặc biệt là miền Bắc và một phần của bờ biển thành phố. Với
việc tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế, hiện tượng thiếu nước đang phát triển
và môi trường nước xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề nghiêm trọng, chẳng hạn
như nguồn nước bị ô nhiễm, khai thác quá mức nước ngầm, nước biển xâm nhập
vv Giai đoạn này vấn đề nước đã thu hút nhiều sự chú ý, nhận thức về tài nguyên
nước. Để giải quyết những vấn đề của các thành phố thiếu nước nghiêm trọng như:
tập trung, trọng tâm các dự án trọng điểm để xây dựng một hành lang vững chắc,
thực hiện các chính sách giảm bớt nhu cầu sử dụng, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo
tồn một cách chặt chẽ.
Trong thời gian này, Trung Quốc đã phát triển kế hoạch kiểm soát ô nhiễm
nguồn nước ngày càng chặt chẽ. Đặc biệt thông qua những bài học ô nhiễm nghiêm
trọng từ sông Hoài, sông Thái Hồ và một số các sông khác trong công việc kiểm
soát ô nhiễm nguồn nước. Nhận ra rằng, công tác phòng chống và kiểm soát ô
nhiễm phải đưa vào nguồn chính là thượng nguồn, hạ nguồn, dọc hai bên và từ các
phía của nhánh sông để các lưu vực đầu nguồn cho việc điều khiển tích hợp, thực
hiện “lễ hội của dòng nước thải” (để giảm tải lượng ô nhiễm), mở nguồn nước (pha
loãng để tăng cường khả năng tự làm sạch của con sông)”. Được thông qua trong
việc quản lý của sự kết hợp lưu vực và sự đoàn kết trong khu vực kiểm soát lũ lụt,
ô nhiễm với nhau. Thực hiện, sử dụng đầy đủ các phương tiện thủy lợi, quản lý hợp
lý, nâng cao công suất tự thanh lọc nước.
Kể từ năm 1976 đến nay, Trung Quốc đã dần dần thiết lập các cơ quan bảo
vệ tài nguyên nước ở vùng đầu nguồn, những thiết chế pháp luật quy định về kiểm
soát ô nhiễm nguồn nước. Trong việc quản lý toàn diện về ô nhiễm nguồn nước
được thực hiện theo các quy hoạch phát triển theo quy tắc“người gây ô nhiễm phải
chịu trách nhiệm”, và phòng ngừa ô nhiễm tổng thể ở các lưu vực sông là một phần
của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Bảo vệ nguồn nước uống, cải thiện chất
lượng nước, việc sử dụng nước phải thực hiện theo kế hoạch, chính sách bảo tồn
nguồn nước. Phải phát triển, thực hiện các kế hoạch bảo vệ tài nguyên nước, các
mét khối nước, tình trạng thiếu nước nghiêm trọng tại 17 tỉnh, thành phố bao gồm
cả các thành phố ven biển. Trong khi đó, có 36.200.000.000 tấn nước được thải ra (
80% không được qua xử lý). Theo báo cáo thì Trung Quốc có 1200 con sông, có
850 con sông bị ô nhiễm.[61, tr62].
Theo Tân Hoa Xã báo cáo vào tháng 8 năm 2010: thì việc khai thác nguồn nước
ngầm quá mức đã dẫn tới sự hình thành của hơn 80.000 km2 đất kênh, dẫn đến
thiên tai, sụt lở. Có 30 thành phố bị sụt lún mặt đất ở các mức độ khác nhau. Với sự
phát triển kinh tế - xã hội ngày càng đa dạng thì nhu cầu của nước ngày càng gia
tăng, vì vậy mà trong 15 năm trở lại đây Trung Quốc coi ngành xây dựng thủy lợi
là ngành công nghiệp cơ bản của nền kinh tế quốc gia và đã đầu tư rất nhiều vào
việc xây dựng các loại hồ chứa, đập nước và lưu trữ nước, dự án dẫn dòng để đảm
bảo nhu cầu cung cấp nước.
1.5. THỰC TRẠNG VỀ NGUỒN NƢỚC CỦA TRUNG QUỐC HIỆN NAY
Mặc dù Trung Quốc đã có những thành tựu to lớn trong việc xây dựng các
công trình thủy lợi, nhưng vì chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Thái Bình Dương,
điều kiện cảnh quan độc đáo, địa bàn được phân phối tài nguyên nước rất không
đồng đều. Miền Nam lượng nước nhiều hơn, miền Bắc ít hơn, vào mùa lũ lụt, khô
hạn vấn đề nước đang được từng bước giải quyết. Kể từ khi cải cách và mở cửa vào
năm 1978, nền kinh tế của Trung Quốc với tốc độ phát triển bình quân hàng năm là
8% duy trì tăng trưởng nhanh chóng, GDP bình quân đầu người là hơn 1.000 đô la
Mỹ, nhưng lĩnh vực tài nguyên nước còn đang phải đối mặt với những thách
thức.[60, tr. 35].
Thứ nhất,
nguồn nước khan hiếm, nhu cầu cung cấp mâu thuẫn, lượng nước
trên đầu người là 2.200 mét khối, bằng 28% mức bình quân thế giới. Trong vòng
20 năm qua với sự tác động của con người, khu vực miền Bắc tỉnh Ninh Hải giảm
hơn 10% dòng chảy hàng năm, hạn hán ở phía Bắc đã trở thành vấn đề nổi bật
trong phát triển kinh tế - xã hội. Dự báo đến năm 2030 dân số Trung Quốc sẽ tăng
kế hoạch tức là GDP trên đầu người từ năm 2000 đến 2020 phải tăng gấp bốn lần.
Để đạt được mục tiêu này, Trung Quốc đang tập trung vào phát triển, và những nỗ
lực để giải quyết những vấn đề mới, tình huống mới để đáp ứng những thách thức
trong tương lai. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Nhà nước Trung Quốc nhấn
mạnh sự cần thiết phải tuân theo các khái niệm phát triển khoa học để định hướng
phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi các chế độ tăng trưởng kinh tế, tập trung và
phát triển sự hòa hợp giữa phát triển kinh tế - dân số với tài nguyên môi trường,
xây dựng một xã hội thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên, phát triển
kinh tế - xã hội cho người dân theo định hướng toàn diện, phối hợp và phát triển
bền vững.
Bắt nguồn từ vị trí địa lý, từ đặc điểm của nguồn nước, lịch sử hình thành và
thực trạng mà chiến lược quản lý và chính sách phát triển bền vững cho tài nguyên
nước của Trung Quốc là: phát triển hài hòa giữa con người với thiên nhiên, quản lý
chặt chẽ hơn về nước để ngăn chặn sự vi phạm và phát triển bền vững tài nguyên
nước.
* Trung Quốc đi theo con đường phát triển bền vững tài nguyên nước, chủ
yếu tuân theo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất
, định hướng cho người dân điểm khởi đầu và kết quả cuối cùng của
nguồn nước. Thông qua việc phát triển nhu cầu về nước để đáp ứng cho người dân,
an ninh, an ninh lương thực, kiểm soát lũ lụt, sinh thái nước, môi trường vv
Thứ hai,
tuân theo sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, tôn trọng pháp
luật về nguồn nước. Xem xét đầy đủ để thực hiện năng lực của tài nguyên nước, xử
lý đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ, giảm và thậm chí ngăn chặn các
hành vi của con người xâm phạm trên mặt nước.
Thứ ba,
ý tưởng thay đổi quản lý kiểm soát lũ lụt theo thông số kỹ thuật từ
những hoạt động của con người, kinh tế - xã hội, để thích ứng với môi trường phát
triển của lũ. Sắp xếp một cách khoa học các trung tâm quản lý lũ, sông, hồ; tập
trung tăng cường việc xây dựng hệ thống kiểm soát lũ lụt, tăng cường dự báo, cảnh
báo lũ, thành lập hệ thống quản lý lũ lụt, liên tục cải thiện việc kiểm soát lũ và sử
dụng hợp lý tài nguyên nước mưa.
Thứ ba,
dựa vào sự phát triển của nền kinh tế tròn, kết hợp phòng ngừa, điều
trị toàn diện để giải quyết vấn đề của môi trường nước. Mục tiêu là khôi phục và
cải thiện chức năng nước, tập trung bảo vệ nguồn nước và dần dần thiết lập một
môi trường nước thực hiện hệ thống quản lý dựa trên năng lực của quyền phát thải,
theo các con sông, thực hiện tổng kiểm soát lượng khí thải. Phát triển mạnh mẽ
kinh tế tròn, tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, gia tăng xử lý nước
thải và sử dụng nước khai hoang. Nghiêm ngặt chính sách bảo vệ nước ngầm, tăng
cường quản lý toàn diện các khu vực có mạch nước ngầm.
Thứ tư,
phát huy đầy đủ khă năng phục hồi và bảo vệ môi trường sinh thái.
Bảo vệ và giám sát hiệu quả, ngăn chặn việc phá rừng bừa bãi, chăn thả gia súc bừa
bãi; hỗ trợ kỹ thuật, quản lý hành chính, tăng cường các biện pháp chống xói mòn
đất trong khu vực và quản lý toàn diện môi trường sinh thái của các con sông, dần
dần đảo ngược tình trạng suy thoái liên quan đến nước.
* Các biện pháp chiến lược: