LUẬN VĂN: Nghiên cứu thị trường đối với các doanh nghiệp việt nam Thực trạng và giải pháp pot - Pdf 12


LUẬN VĂN:

Nghiên cứu thị trường đối với
các doanh nghiệp việt nam
Thực trạng và giải pháp
Lời nói đầu

Mỗi doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải tìm
hiểu và nghiên cứu thị trường để biết được thị trường đang cần gì , doanh nghiệp phải

phí tiêu thụ , rút ngắn thời gian tiêu thụ .Từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh
doanh.
Sự phát triển và tồn tại của thị trường ảnh hưởng tới lợi ích của khách hàng.
Nhờ có thị trường mà người tiêu dùng nhanh chóng được thoả mãn nhu cầu của
mình.Thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán mà còn thể hiện các
quan hệ hàng hoá tiền tệ.Do đó thị trường được coi là môi trường kinh doanh .Thị
trường là khách quan , từng cơ sở sản xuất , kinh doanh không có khả năng làm thay
đổi thị trường , mà ngược lại họ phải tiếp cận để thích ứng với thị trường . Thị trường
là tấm gương để các cơ sở kinh doanh nhận biết nhu cầu xã hội, để đánh giá hiệu quả
kinh doanh của chính bản thân mình.
Trong quản lý kinh tế , thị trường có vai trò vô cùng quan trọng. Thị trường là
đối tượng , là căn cứ vào kế hoạch hoá . Cơ chế thị trường là cơ chế quản lý nền kinh
tế hàng hoá thị trường , là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
của nhà nước . Thị trường là nơi Nhà nước kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chủ
trương chính sách đã được ban hành .Từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp .
Thị trường còn là nơi phản ánh chất lượng sống , trình độ phát triển kinh tế của
một địa phương , một khu vực .
2-Chức năng của thị trường .
Chức năng của thị trường là những tác động khách quan vốn có bắt nguồn từ
bản chất của thị trường tới quá trình tái sản xuất và tới đời sống kinh tế xã hội.
Thị trường có bốn chức năng cơ bản sau đây :
a)Chức năng thừa nhận :
Hàng hoá được sản xuất ra người sản xuất phải bán nó .Việc bán hàng được
thực hiện thông qua chức năng của thị trường . Thị trường chấp nhận chính là người
mua chấp nhận mua hàng và do đó hàng hoá bán được .Từ giác độ này mà xét , khi thị
trường đã thực hiện chức năng thừa nhận thì cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình tá
sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành . Bởi vì bản thân việc tiêu dùng sản phẩm
và các chi phí tiêu dùng cũng đã khẳng định trên thị trường khi hàng hoá được bán .


những người sản xuất chưa tạo ra lợi thế trên thị trường cũng phải vươn lên để thoát
khỏi nguy cơ phá sản . Đó là những động lực thị trường tạo ra đối với sản xuất.
-Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế trên thị trường , người tiêu
dùng buộc phải cân nhắc , tính toán quá trình tiêu dùng của mình . Do đó thị trường
có vai trò lớn đối với việc hướng dẫn tiêu dùng .
-Trong quá trình tái sản xuất người sản xuất , lưu thông,…chi ra các chi phí như
thế nào cũng được xã hội thừa nhận . Thị trường chỉ thừa nhận ở mức thấp hơn hoặc
bằng mức xã hội cần thiết . Do đó thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc
tiết kiệm chi phí , tiết kiệm lao động sống.
d) Chức năng thông tin.
Trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất hàng hoá , chỉ có thị trường mới
có thể có chức năng thông tin . Trên thị trường có nhiều mối quan hệ: kinh tế , chính
trị , xã hội , dân tộc, Song thông tin kinh tế là quan trọng nhất.
Thị trường thông tin về : tổng cung , tổng cầu , cơ cấu của cung cầu, quan hệ
cung cầu đối với từng loại hàng hoá , giá cả thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị
trường,đến mua và bán , chất lượng sản phẩm , hướng vận động hàng hoá, các điều
kiện dịch vụ cho mua và bán , các quan hệ về tỷ lệ sản phẩm…
Thông tin thị trường có vị trí vô cùng quan trọng đối với quản lý kinh tế. Trong
quản lý kinh tế nội dung quan trọng nhất là ra các quyết định. Ra quyết định cần có
thông tin . Các dữ kiện thông tin quan trọng nhất là thông tin thị trường . Bởi vì các dữ
kiện thông tin đó khách quan được xã hội thừa nhận.
Trong quản lý kinh tế phủ nhận vai trò của thị trường thì điều đó cũng có nghĩa
là phủ nhận vai trò của thông tin đối với việc ra quyết định .
Trên thị trường chứa đựng nhiều loại thông tin khác nhau mà doanh nghiệp
cũng như khách hàng có thể thu thập để làm cơ sở cho việc ra các quyết định để đạt
được những lợi ích lớn nhất cho mình.
Thị trường đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh

Những nhân tố thuộc quản lý vi mô là những chiến lược chính sách và biện
pháp các cơ sở kinh doanh sử dụng trong kinh doanh .Những nhân tố này rất phong
phú và phức tạp . Những nhân tố này thường là các chính sách làm sản phẩm thích ứng
với thị trường , phân phối hàng hoá , giá cả , quảng cáo , các bí quyết cạnh trạnh.
II- phân loại thị trường
Tuỳ theo các cách phân loại mà có các loại thị trường khác nhau .
Phân loại thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể hay chia tập hợp
người tiêu dùng thành những nhóm nhỏ khác nhau có qui mô đủ lớn . Trong mỗi nhóm
nhỏ hay mỗi loại thị trường bao gồm các cá thể có nhu cầu giống nhau về một loại sản
phẩm hoặc dịch vụ nào đó .
Một số cách phân loại thị trường phổ biến trong thực tế đó là :
a) – Căn cứ vào phạm vi hoạt động của thị trường .
-Thị trường trong nước : đây là thị trường trong phạm vi lãnh thổ của một quốc
gia . Theo yêu cầu đòi hỏi của công tác nghiên cứu mà thị trường này có thể được chia
nhỏ hơn nữa thành thị trường miền , vùng, tỉnh …
-Thị trường nước ngoài : đây là thị trường nằm ngoài lãnh thổ của một quốc gia
. Nó bao gồm thị trường của từng quốc gia , từng khu vực , chung toàn thế giới.
b)-Căn cứ vào mục đích sử dụng của hàng hoá .
-Thị trường hàng tư liệu tiêu dùng.
-Thị trường hàng tư liệu sản xuất.
-Thị trường tài chính
- Thị trường lao động
-Thị trường thông tin
-Thị trường bất động sản

c)-Căn cứ vào số lượng người mua , người bán trên thị trường
-Thị trường cạnh tranh hoàn hảo : nhiều người mua, nhiều người bán, hàng

trường ( nhóm khách hàng) để nỗ lực đáp ứng.
- Mỗi doanh nghiệp đều có những mặt mạnh , yếu riêng nên PĐTT giúp các
doanh nghiệp tập trung vào thị trường trọng điểm , khai thác hiệu quả tiềm năng của
mình để tận dụng cơ hội . Đồng thời để khắc phục khó khăn .
2. Các tiêu thức chủ yếu để PĐTT.
-PĐTT theo yếu tố địa lý
-PĐTT theo yếu tố nhân khẩu học.
-PĐTT theo yếu tố tâm lý.
-PĐTT theo yếu tố hành vi mua hàng .
3. Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp
Mục đích của PĐTT là để tìm hiểu những đặc điểm riêng của từng phân đoạn.
Từ đó căn cứ vào những điều kiện cụ thể hiện tại cũng như tương lai gần của doanh
nghiệp để đề ra các chính sách Marketing , đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của từng
PĐTT.
Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp là thị trường mà doanh nghiệp đang
muốn xâm nhập phù hợp với điều kiện hiện tại của doanh nghiệp .
Để lựa chọn thị trường mục tiêu cần dựa trên những cơ sở :
-Đánh giá mức độ hấp dẫn của từng PĐTT:
Việc đánh giá nhằm tìm ra cơ hội thuận lợi và những đe dọa thách thức mà
doanh nghiệp sẽ gặp phải trong quá trình tham gia kinh doanh .Để đánh giá người ta
dựa vào các tiêu chuẩn chủ yếu đó là :
+ Quy mô và mức tăng trưởng của từng PĐTT. Trên thực tế , khi đánh giá
doanh nghiệp phải luôn căn cứ vào điều kiện cụ thể để lựa chọn phân đoạn thị trường
cho phù hợp .Vì không phải khi nào đoạn thị trường có khối lượng tiêu thụ lớn , mức
tăng trưởng cao đều là đoạn thị trường mang lại hiệu quả . Bởi ở đó mức độ cạnh tranh
rất cao.
+ Sức ép cạnh tranh trên thị trường . Để đánh giá mức độ cạnh tranh cần phảI

doanh nghiệp sẽ xác định được thị trường mục tiêu và ra những quyết định, chính sách
phù hợp với tình hình phát triển của doanh nghiệp.
iv. nghiên cứu thị trường .
Thị trường có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp nên các doanh nghiệp
đều phải nghiên cứu thị trường .
Nghiên cứu thị trường có nghĩa là quá trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng
cho một sản phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm của doanh nghiệp .
Trong hoạt động kinh doanh , doanh nghiệp cần phải dựa vào các thông tin về
thị trường để phân tích , đánh giá tiềm năng của thị trường , dự báo những biến động
sẽ xảy ra làm cơ sở cho việc hoạch định đúng đắn để tổ chức thực hiện một cách có
hiệu quả trong tương lai.
Công tác nghiên cứu thị trường phải góp phần chính trong việc thực hiện
phương châm hành động : Chỉ bán cái thị trường cần chứ không bán cái doanh nghiệp
sẵn có.
Nghiên cứu thị trường phải trả lời được một số câu hỏi sau :
- Địa phương nào , vùng nào , nước nào là thị trường có triển vọng nhất đối với
sản phẩm của doanh nghiệp.
- Khả năng bán ra được là bao nhiêu .
- Sản phẩm cần có những thích ứng gì trước những đòi hỏi của thị trường .
- Nên chọn phương pháp bán nào cho phù hợp.
Nghiên cứu thị trường còn phục vụ việc hoạch định chiến lược phát triển ngoại
thương , xác định cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu . Do đó nó đóng vai trò rất quan
trọng trong việc phát triển kinh tế .
Quá trình nghiên cứu thị trường bao gồm ba bước :
a)Thu thập thông tin .
Công việc đầu tiên của người làm công tác nghiên cứu thị trường là thu thập
những thông tin có liên quan đến thị trường và mặt hàng cần nghiên cứu .

Nhân tố quan trọng nhất quyết định sự cần thiết phải nghiên cứu thực địa tại
một thị trường là tác dụng của việc tăng doanh số bán ra và tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Nên có thư và các bản chào hàng , các catologues đẹp gửi trước đến các nhà
nhập khẩu và đại lý .
Khi khảo sát cần mang đầy đủ các mẫu hàng và tài liệu bán hàng . Ví dụ như
các mẫu thêu , các hàng sơn mài , thủ công mỹ nghệ , các loại đồ mây tre đan, các loại
quần áo …
Nên có kế hoạch đến thăm và làm việc với các đại sứ quán , với hiệp hội các
nhà nhập khẩu , với phòng thương mại và các báo chí thương mại . Nên tổ chức các
cuộc phỏng vấn với thương nhân và các đại diện khách hàng .
Trong thời gian ở nước ngoài nên chọn khách sạn để đem lại ấn tượng tốt.Khó
có thể thuyết phục người mua hàng rằng sản phẩm của doanh nghiệp là tốt và hoàn hảo
, khi người ta thấy mình ở trong một khách sạn xoàng xĩnh với một căn phòng nhỏ ,
với những bức tường mốc meo trong con ngõ hẻm .
Nên lập kế hoạch khảo sát từ ba đến sáu tuần lễ cho ba hay hai thị trường và sau
đó về viết báo cáo , xác nhận đơn đặt hàng và tiến hành các công việc về thích ứng sản
phẩm với thị trường .
b) Xử lý thông tin .
Sau khi đã thu thập được thông tin cần thiết doanh nghiệp sẽ phải tiếp tục xử lý
những thông tin đó .
Đó là việc phân tích , đánh giá , tìm hiểu sự chính xác của thông tin , lựa chọn
thông tin …. Nhằm tìm những lời giải cho những câu hỏi của thị trường mục tiêu :
- Dung lượng .
- Tình hình cạnh tranh.
- Giá cả .
- Phương pháp tiêu thụ .

Bên cạnh những ưu điểm phong phú về mẫu mã , đa dạng về cấp độ chất lượng
sản phẩm , linh hoạt về giá cả , thị trường hàng may mặc trong nước đang bộc lộ nhiều
hạn chế .
Giá cả không liên quan gì đến chất lượng sản phẩm : Sự tràn ngập của hàng may
trên thị trường góp phần làm tăng tính khốc liệt trong cạnh tranh . Giá cả hàng may
thường được linh hoạt tuỳ thuộc vào kinh nghiệm và tài chào hàng của người bán ,
thái độ của người mua . Giá một mã hàng có thể chênh nhau đến vài chục thậm chí
vài trăm phần trăm giữa các khách hàng khác nhau.
Hàng không rõ nguồn gốc : Các luồng hàng may mặc cung cấp cho thị trường
hầu hết có xuất xứ không rõ ràng . Bao gồm hàng nhập từ Trung Quốc, hàng nhái ,
hàng chất lượng thấp với đủ loại nhãn mác thường do các tổ hợp hay xưởng sản xuất
nhỏ cung cấp , hàng may gia công xuất khẩu dư ( dự phòng xuất khẩu 3-5%)- loại
hàng này không nhiều , thường được tư nhân thu gom và bán dưới danh nghĩa hàng
ngoại nhập với giá đắt gấp nhiều lần giá mua từ doanh nghiệp .
Chất lượng khó nhận biết và không được bảo hành . Chất lượng hàng may bán
trên thị trường nội địa vì thế không được kiểm định . Với các kiểu dáng ngày nay chất
lượng hàng không chỉ thể hiện ở chất liệu vải chính , ở đường kim mũi chỉ mà ở cả
phụ liệu và hoá chất được sử dụng trong quá trình chế tác sản phẩm .Đó là phần khó
nhận biết như miếng đệm độn vai , bông độn áo mùa đông , vải lót , hoá chất thuốc
nhuộm … sản phẩm may thường chỉ bộc lộ nhược điểm của nó sau khi giặt . Khi đó
người mua phải chịu toàn bộ thiệt hại do không thể khiếu nại người bán .
Tuy số lượng dân đông nhưng thu nhập của họ chưa cao nên các mặt hàng cao
cấp chỉ có thể đến được với những người có thu nhập cao. Số con lại được đã được
đáp ứng một phần hoặc chưa .Do vậy các nhà doanh nghiệp có thể sản xuất những loại
mặt hàng mà họ là lượng khách hàng lớn . Hay họ chính là thị trường tiềm ẩn mà các
doanh nghiệp cần quan tâm nghiên cứu .
Lượng lao động dồi dào , nhân công thấp , vẫn chưa tận dụng hết khả năng của

Nam .Tỷ lệ các số đo cơ thể con người thuộc mỗi dân tộc đều mang những đặc điểm
riêng . ở các nước tiên tiến , bảng tiêu chuẩn cỡ vóc quần áo thường được xác định
trên cơ sở nghiên cứu về nhân chủng học . Song ở Việt Nam , một địa chỉ xuất khẩu
hàng may có uy tín thì việc nghiên cứu và xác xây dựng bảng tiêu chuẩn cỡ vóc cho
chính người Việt Nam lại chưa có đI ều kiện thực hiện . Việc quan tâm thích đáng đến
thị trường nội địa chính là cơ hội cho các doanh nghiệp thực hiện được điều này.
Khi đó các doanh nghiệp sẽ là các tập đoàn trong tương lai , trên cơ sở tiềm lực
mạnh của mình sẽ trở thành người hướng dẫn tiêu dùng , định hướng thị hiếu theo
phong cách hiện đại và lành mạnh nhằm xây dựng nếp văn minh thời trang.
Trong bối cảnh hiện nay , việc chiếm lĩnh thị trường hàng may mặc trong nước
với trên 80 triệu dân được đặt ra như một thách thức đối với các doanh nghiệp Việt
Nam :
Trước hết , phải nói đến các đối thủ cạnh tranh có tiềm năng . Đó là các công ty
kinh doanh hàng may mặc nước ngoài đang có mặt ở Việt Nam . Nhiều doanh nghiệp
đang thực hiện chiến lược định vị hàng hoá của họ trên thị trường Việt Nam với giá
bán sát nút hàng may trong nước có cùng chất lượng . Song đối thủ nặng ký nhất vẫn
là Trung Quốc – nước luôn đi đầu trong chiến lược bán hàng giá rẻ , trong khi người
tiêu dùng Việt Nam đang ở cấp độ thấp . Ngoài ra còn phải kể đến các tổ hợp và tư
nhân sản xuất hàng may rất cơ động trong việc cung cấp hàng cho thị trường .
Thứ hai , khó khăn về hệ thống cửa hàng bán lẻ . Nhiều doanh nghiệp đã có giới
thiệu sản phẩm song thường là nghèo nàn , đơn điệu về hàng hoá vì được tổ chức theo
tiêu chí giới thiệu sản phẩm .
Thứ ba , thời hạn xoá bỏ các biện pháp bảo vệ sản xuất hàng dệt may trong nước
đang tới gần . Trong khu vực tập trung nhiều cường quốc dệt may như ở Đông nam á
này , mối đe doạ hàng ngoại thâm nhập vào thị trường là rất lớn . Khi thuế suất thuế
nhập khẩu hàng may sẵn giảm từ 20% hiện nay xuống còn 5% năm 2005 áp dụng cho
các nước trong khối Asean , tính khốc liệt trong cạnh tranh trên thị trường trong nước
*Coi trọng việc sản xuất hàng nội địa như việc sản xuất hàng xuất khẩu . Nhiều
năm qua, tâm lý coi nhẹ khách hàng trong nước đã trở thành bệnh mãn tính của nhiều
doanh nghiệp , ăn sâu vào tâm lý người lao động . Các doanh nghiệp ,các tổng công ty
, các doanh nghiệp thành viên nếu không quán triệt nguyên tắc này sẽ làm lu mờ hình
ảnh nhãn hiệu của doanh nghiệp và chắc chắn sẽ mất lòng tin của người tiêu dùng
trong nước .
* Tăng cường các hoạt động nghiên cứu , thiết kế mẫu , mốt để đưa ra thị trường
những kiểu dáng có sức sống lâu , dễ đi vào đời sống thực tế . Bên cạnh đó , các hoạt
động biểu diễn mẫu thời trang , tư vấn thời trang , mở các cửa hàng bán mẫu thiết kế
cũng là hoạt động không thể thiếu . Một mặt những hoạt động đó có tính giới thiệu , tư
vấn tiêu dùng , mặt khác còn tạo điều kiện cho các giao dịch thương mại vượt tầm vóc
thương mại bán lẻ.
*Nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn cỡ vóc Việt Nam làm cơ sở cho công
tác thiết kế mẫu và hướng dẫn người tiêu dùng quen dần với các tiêu chuẩn đó –cơ sở
cho tiêu dùng hiện đại .
* Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận , các đơn vị thành viên trong
việc phân công và chuyên môn hoá mặt hàng .
* Tổ chức tốt mạng lưới bán hàng , phương thức bán để tạo sức thu hút khách
hàng . Việc tổ chức các cửa hàng hay việc sử dụng các đại lý các quầy hàng trong siêu
thị tổng hợp có thể rất linh hoạt , tuỳ thuộc vào các yếu tố thực tế của thị trường .
* Nâng cao sức cạnh tranh , giảm giá thành , đảm bảo thời gian giao hàng , phát
huy lợi thế của doanh nghiệp và hạn chế điểm yếu của mình , tìm hiểu đối thủ cạnh
tranh …
*Tổ chức tốt việc chăm sóc khách hàng kể cả khách hàng mua buôn hay mua lẻ
trong tất cả các khâu từ tư vấn thời trang , thiết kế đơn chiếc , bảo hành sản phẩm và
các dịch vụ sau bán hàng . Dịch vụ này sẽ rất hấp dẫn người tiêu dùng trong điều kiện
hiện nay các cửa hàng tư nhân thường chỉ chú ý chào hàng để bán được hàng , kể cả
những hàng hoá không dùng được . Các doanh nghiệp cần chú trọng tiêu chí làm sao

2) – Khó khăn.
* Đối với thị trường Mỹ:
Từ ngày 01.01.2005 hàng dệt may Việt Nam ngoài việc phải cạnh tranh quyết
liệt với hàng dệt may của Trung Quốc thì phải cạnh tranh mệt mỏi hơn vì Việt Nam
vẫn phải chịu hạn ngạch trong khi 150 nước khác được xuất khẩu không hạn chế vào
thị trường này .Do không còn hạn ngạch , mặt bằng giá nhập khẩu hàng dệt may vào
Mỹ sẽ giảm đáng kể . Theo dự đoán giá trung bình cho 1m2 tính trung bình cho 29
chủng loại được đưa vào lịch tự do hoá theo WTO đến cuối năm 2003 giá của Trung
Quốc giảm 58% so với giá của năm 2001 và giá của thế giới nói chung giảm 3% .
Theo phân tích của trung tâm thương mại thế giới , mức độ giảm giá sẽ khác nhau với
từng chủng loại . Vì vậy hàng của Việt Nam sẽ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt và sẽ
không tránh khỏi giảm giá.
Những cat nóng của Việt Nam hiện nay cũng là những cat nóng của các nước
cạnh tranh chính khác như Trung Quốc . Đây là những cat về quần áo , chưa kể đến
những mặt hàng dệt may khác , hàng có sử dụng sợi tơ tằm . Nếu cạnh tranh không tốt
thì các cat nóng đó có thể trở thành nguội và không sử dụng hết hạn ngạch . Một số cat
phi hạn ngạch hiện nay thậm chí có nguy cơ tụt giảm kim ngạch . Lý do cơ bản mà
theo phân tích của các nhà nghiên cứu thị trường là nếu giá của hàng Việt Nam không
hấp dẫn thì các nhà nhập khẩu Mỹ có khả năng chuyển sang nhập khẩu từ các nước
khác thay vì cho nhập từ Việt Nam . Trước đây họ không làm như vậy vì các nước này
không có đủ hạn ngạch để xuất khẩu .
Một khối lượng đáng kể hàng dệt may Việt Nam xuất sang Mỹ thông qua nước
thứ 3 như Hồng Kông , Đài Loan , Hàn Quốc , kể cả những công ty ở các nước đang
phát triển như Srilanka . Các công ty này có khách hàng nhập khẩu truyền thống ở Mỹ
. Một phần do ở Việt Nam giá gia công rẻ , chất lượng may tốt . Một phần do khó khăn
về hạn ngạch ở các nước khác hay ở chính nước họ nên họ phải mua hoặc đặt gia công
ở Việt Nam để xuất khẩu vào Mỹ . Như vậy khi các nước khác không bị hạn chế bởi

quản lý hạn ngạch .
Các doanh nghiệp Việt Nam cần tích cực cải tiến quản lý sản xuất kể cả khâu
cung ứng vật liệu nguyên phụ liệu để giảm giá thành sản xuất , nâng cao và ổn định
chất lượng sản phẩm đảm bảo thời gian giao hàng , phát huy lợi thế của đội ngũ công
nhân khéo tay để tạo ra các sản phẩm có chất lượng bậc trung trở lên để cạnh tranh ,
nhất là thâm nhập vào các thị trường ngách tại Mỹ .
Sức cạnh tranh của hàng dệt may được đánh giá theo trên nhiều phương diện.
Trong thời kỳ hậu hạn ngạch , giá cả và thời gian trên hợp đồng sẽ là yếu tố quyết định
tồn tại trên thị trường . Chính vì vậy , các doanh nghiệp nên đưa những kiến nghị để
chính phủ giúp đỡ phát triển ngành dệt may hậu hạn ngạch . Cụ thể như điều chỉnh để
tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu nguyên liệu , chính sách và thủ tục hoàn thuế
với phần nguyên liệu nhập khẩu .
Về phần liên kết sản xuất , do không còn hạn ngạch nên các doanh nghiệp nhập
khẩu Mỹ có xu hướng sẽ tập trung nhập hàng ổn định từ một số nhà cung cấp nhất
định để dễ quản lý chất lượng và dễ tạo ra sức ép giảm giá , thay vì cho phân tán nhập
từ nhiều nhà sản xuất khác nhau ở nhiều nước khác nhau như hiện nay . Nhiều nghiên
cứu cho thấy sau khi bỏ hạn ngạch , các nhà bán lẻ sẽ chú ý nhập hàng ở các nhà máy
có từ 1000 công nhân trở lên . Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần liên kết sản xuất
hoặc sáp nhập để trở thành các nhà đối tác chiến lược lâu dài của các nhà nhập khẩu
Mỹ. Đây chính là lý do vì sao mà những mặt hàng có qui mô sản xuất lớn như dệt may
, giày dép , tôm cá có thể thâm nhập vào những hệ thống bán lẻ của Mỹ . Còn những
mặt hàng khác có qui mô sản xuất nhỏ hoặc manh mún thì hầu như không có cơ hội.
Cần phát triển linh hoạt với xu hướng bán lẻ linh hoạt , các cửa hàng kiểu
nàychỉ bán những mặt hàng có khả năng bán chạy , không bán những mặt hàng không
được khách ưa thích , hàng hoá sẽ được bổ sung hàng tuần . Như vậy thay vì đơn đặt
hàng lớn nhập về kho bán dần , các cửa hàng này sẽ chỉ nhận những đơn đặt hàng nhỏ
với thời gian giao hàng kế tiếp nhau , tới nhiều địa chỉ khác nhau để tránh đọng vốn ,

thị trường Pháp năm 2005 dự báo tăng 1,1 tỷ Euro , tăng 20% so với năm ngoái trong
đó dự báo dệt may đạt 165 triệu Euro tăng 20% .
Trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu , các doanh nghiệp nên nhờ sự giúp đỡ
của các nhà tham tán thương mại . Nhờ họ cung cấp những thông tin , địa chỉ có thể
liên hệ nhờ hỗ trợ khi cần thiết . Khi đã được cung cấp thông tin các doanh nghiệp cần
phải phản hồi nhanh , kịp thời và hiệu quả . Bởi cơ hội thị trường luôn trôi qua rất
nhanh .
Các doanh nghiệp cần phải linh hoạt , tận dụng khả năng tối đa của mình để sản
xuất được hiệu quả , chiêm lĩnh thị trường trong nước và nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang các thị trường khác nhau trên thế giới
.
Như vậy hàng dệt may của Việt Nam hiện nay đã và đang có những bước phát
triển mới . Mặc dù bên cạnh những thuận lợi có rất nhiều khó khăn song các sản phẩm
trong ngành dệt may vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước . Nhiều doanh nghiệp trong nước đã và đang rất năng động tìm hướng đi cho
riêng mình nhằm tăng sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như tăng kim
ngạch xuất khẩu . Trong tương lai ngành dệt may chắc chán sẽ có những bước chuyển
biến đáng kể .
Kết luận

Như vậy việc nghiên cứu thị trường có vai trò rất quan trọng đối với tất cả các
doanh nghiệp . Doanh nghiệp phải kết hợp lý thuyết với thực tế thị trường , với điều
kiện thực tế của doanh nghiệp để định vị thị trường , lựa chọn thị trường mục tiêu để
đề ra các chiến lược phát triển hiệu quả nhất đem lại tối đa hoá lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Cần phải nghiên cứu thị trường thật kỹ lưỡng nhằm không để lỡ cơ hội mà thì
trường đem lại . Các doanh nghiệp nên tham gia các khóa tập huấn về nghiên cứu thị

IV. Một số giải pháp

B. Thị trường thế giới và xu thế hội nhập

I.Thuận lợi và khó khăn

II.Xu thế hội nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status