LUẬN VĂN:
Quản lý tài chính trong Bảo hiểm xó hội
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng, đã được
lộ những tồn tại, hạn chế ngay trong chính sách, chế độ và tổ chức triển khai thực hiện. Vì
vậy để thực hiện đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao nhằm phục vụ ngày
càng tốt hơn đối với mọi người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH; hệ thống
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần phải tiếp tục cải tiến, hoàn thiện quản lý trên tất cả các hoạt
động của toàn ngành, đặc biệt là công tác quản lý tài chính.
Là người đã và đang tham gia trực tiếp quản lý trong lĩnh vực kế hoạch tài chính
của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tôi chọn đề tài " Quản lý tài chớnh trong Bảo hiểm xó hội
Việt Nam - Thực trạng và giải phỏp " nghiên cứu để nhằm góp phần quản lý chặt chẽ và
sử dụng có hiệu quả các loại vốn, nguồn vốn và tài sản của Nhà nước, góp phần thúc đẩy
BHXHVN phát triển ổn định, vững chắc.
2. Tình hình nghiên cứu
Hoạt động của BHXH nói chung và quản lý tài chính BHXH nói riêng cũng đã có
những công trình được công bố như: "Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và
các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ,
mã số 96-01-01/ ĐT, chủ nhiệm đề tài là TS. Nguyễn Văn Châu; "Thực trạng và định
hướng hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội hiện nay", Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ, mã số 96-03-03/ĐT, chủ nhiệm đề tài là TS Dương Xuân Triệu.
"Quản lý tài chính Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An", Luận văn Thạc sĩ kinh tế
của tác giả Trần Quốc Toàn - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 1999 và
nhiều bài báo của nhiều nhà nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí khoa học (xem thêm phần
phụ lục các tài liệu tham khảo của luận văn). Các công trình trên đã đề cập khá nhiều vấn
đề có liên quan đến hoạt động BHXH, nhưng chưa đề cập toàn diện, chưa phân tích, đánh giá
sâu nội dung và phương thức quản lý tài chính của BHXHVN. Để thực hiện đề tài, tác giả
đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc những công trình trên, kết hợp với khảo sát thực tiễn,
phân tích, đánh giá để đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính trong
BHXHVN.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Xác định những nội dung quản lý tài chính trong BHXHVN. Phân tích
đánh giá quá trình đổi mới phương thức quản lý tài chính qua các giai đoạn, trên cơ sở đó
Chương 1
những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội
và quản lý tài chính trong Bảo hiểm xã hội Việt Nam
1.1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái niệm, bản chất bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán khoa học và được dự báo trước;
con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra do rất nhiều
nguyên nhân như: thiên tai (bão lụt, động đất, hạn hán, hỏa hoạn ), tai nạn giao thông
(máy bay, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe máy ), tai nạn trong lao động sản xuất, ốm đau, dịch
bệnh Những bất trắc, rủi ro đó đã gây ra và đem đến cho con người những tổn thất, hậu
quả to lớn cả về mặt kinh tế, lẫn môi trường sinh thái và môi trường xã hội. Chính vì vậy
mà con người đã phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những
biến cố rủi ro đó. Những biện pháp phòng ngừa, né tránh và hạn chế rủi ro thường được
con người chủ động đưa ra các quy định cụ thể (bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, quyết
định, thông tư ) trong từng lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời
sống sinh hoạt xã hội để buộc mọi đơn vị, mọi tổ chức và mọi thành viên trong xã hội phải
tuân thủ thực hiện. Chẳng hạn như để phòng, chống lụt bão, Nhà nước ban hành Luật về đê
điều; để đề phòng tai nạn giao thông, Nhà nước ban hành Luật Giao thông đường bộ,
đường thủy, đường hàng không
Mặt khác, theo quy luật sinh học thì hầu như mọi người thường phải trải qua các
giai đoạn là: con người ta được sinh ra, được nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành; lao động
cống hiến sức lực, trí tuệ cho xã hội, cho gia đình; tiếp đến là giai đoạn hết tuổi lao động
được xã hội, gia đình và lớp người tiếp theo chăm sóc cho đến khi chết. Như vậy là trong
toàn bộ cuộc đời, con người không phải lúc nào cũng có đủ sức khỏe và cơ hội lao động để
có thu nhập. Trong khi đó con người luôn luôn cần phải có những nhu cầu sinh hoạt về
mặt vật chất và tinh thần. Vì vậy, mỗi người lao động và xã hội cần thiết phải có một
cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những
người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/ chồng, con) của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp
phần đảm bảo an toàn xã hội.
Ngày 4 tháng 6 năm 1952, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ban hành Công ước
số 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, trong đó có quy định 9 chế độ trợ cấp, đó
là:
1. Chăm sóc y tế;
2. Trợ cấp ốm đau;
3. Trợ cấp thất nghiệp;
4. Trợ cấp tuổi già (hưu bổng);
5. Trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
6. Trợ cấp gia đình;
7. Trợ cấp thai sản;
8. Trợ cấp tàn tật;
9. Trợ cấp tiền tuất.
Đồng thời Tổ chức Lao động Quốc tế cũng khuyến nghị các nước thành viên phải
thực hiện ít nhất là 3 chế độ trong các chế độ nói trên. Trong ba chế độ đó thì phải có ít
nhất 1 chế độ là các chế độ 3, 4, 5, 8 và 9 [9, tr. 123-142].
1.1.1.2. Bản chất của bảo hiểm xã hội
Bất kỳ một nhà nước nào trên thế giới cũng phải thừa nhận rằng sự nghèo khổ của
người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro, thất nghiệp, tật nguyền bẩm sinh gây ra không chỉ là
trách nhiệm của bản thân cá nhân, của gia đình, của những người thân của họ mà còn phải
là trách nhiệm của nhà nước và của cộng đồng xã hội.
Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi là một chính
sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, cho
đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội. Với tư cách là công cụ quan
trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức bảo vệ quyền lợi chính
đáng cho người lao động, đặc biệt là để giải quyết mối quan hệ thuê mướn lao động giữa
chủ và thợ. Yêu cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và
dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một
số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải những
biến cố rủi ro gây tổn thất.
Hoạt động BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao; lấy
hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai
thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH đối với
người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH. Là quá trình tổ chức thực hiện các
nghiệp vụ thu BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các
chế độ, chính sách và chi BHXH cho người được hưởng; quản lý quỹ BHXH và thực hiện
đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH.
Nghiên cứu về sự giống và khác nhau giữa BHXH và bảo hiểm thương mại sẽ làm
rõ hơn bản chất của BHXH.
Bảo hiểm thương mại là biện pháp chia sẻ tổn thất về mặt tài chính của một hay
một số ít người gặp phải một hay một số loại rủi ro nào đó, được bù đắp bởi một quỹ tiền
tệ tập trung hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm cũng có khả
năng gặp phải rủi ro đó, thông qua hoạt động quản lý của các nhà kinh doanh bảo hiểm.
Hoạt động của bảo hiểm thương mại theo nguyên tắc có tham gia bảo hiểm mới
được hưởng quyền bảo hiểm, đó là hoạt động kinh doanh kiếm lợi nhuận của các doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm, tuân thủ theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, lời ăn, lỗ chịu.
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm
nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của
người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để
doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường
cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm [52, tr. 9].
Bảo hiểm thương mại có những đặc điểm khác với BHXH ở một số nội dung sau:
- Phạm vi hoạt động của bảo hiểm thương mại rất rộng, có mặt ở tất cả các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội; không chỉ bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ một nước mà
còn trải rộng xuyên quốc gia. Tuy bảo hiểm thương mại có nhiều loại nghiệp vụ bảo hiểm
nhưng xét theo phương thức quản lý có thể chia thành hai nhóm nghiệp vụ bảo hiểm, đó là
đồng – lấy số đông bù cho số ít". Vì vậy, dịch vụ bảo hiểm cần phải có đông người tham
gia mới đạt được mục đích phân tán rủi ro, tổn thất. Số người tham gia bảo hiểm càng
đông thì mức độ tổn thất được phân tán càng rộng, mức độ gánh chịu tổn thất của từng
thành viên càng ít hơn. Hình thành được quỹ bảo hiểm tập trung càng lớn, mức độ an toàn
quỹ bảo hiểm càng cao, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu chi trả càng kịp
thời, đầy đủ hơn cho người được thụ hưởng.
Thứ hai, quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp của những đối tượng tham
gia bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm phải được tính toán một cách khoa học dựa trên quy luật số
lớn để xác định mức đóng góp của đối tượng tham gia và mức hưởng thụ do quỹ phải chi
trả; sao cho quỹ bảo hiểm phải được ổn định, vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn
phải đảm bảo đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các khoản bồi thường, trợ
cấp cho đối tượng được thụ hưởng.
Thứ ba, quỹ bảo hiểm được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính và luật pháp của
nhà nước quy định. Quỹ bảo hiểm tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư
vừa góp phần cung cấp nguồn vốn để phát triển nền kinh tế - xã hội; vừa để bảo toàn và
tăng trưởng quỹ. Khi thực hiện hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo an toàn; hạn chế rủi ro,
thất thoát quỹ đến mức thấp nhất, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo khả năng thanh
toán linh hoạt.
1.1.2. Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội
1.1.2.1. Vai trò của bảo hiểm xã hội
Hoạt động của BHXH là hoạt động sự nghiệp vì lợi ích chung của toàn xã hội,
phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động
BHXH. Do đó, BHXH có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của con người,
được thể hiện trên các mặt sau:
- BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH, đảm bảo an toàn
xã hội. Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi
họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết. Việc thay thế hoặc bù đắp chắc
chắn sẽ xảy ra đối với mọi người lao động tham gia BHXH đến khi họ hết tuổi lao động
được hưởng lương hưu hoặc khi họ chết (được hưởng tiền tuất, mai táng phí). Việc bù đắp
chính trị và xã hội phát triển và an toàn.
- BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Xét về
phương diện tài chính thì BHXH là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập và
sử dụng quỹ tiền tệ tập trung; quỹ được hình thành từ sự đóng góp của người lao động,
người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước; quỹ được sử dụng để chi trả các chế độ
BHXH cho người lao động và gia đình họ, một phần dùng để chi quản lý sự nghiệp
BHXH.
Hầu hết các nước trên thế giới đều thiết kế mô hình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH
theo nguyên tắc tồn tích và có tính chuyển dịch thu nhập giữa mọi người tham gia BHXH
và qua các thế hệ. Một số ít nước thiết kế theo nguyên tắc "tọa thu, tọa chi". Do tính chất
hoạt động của bảo hiểm là các biến cố rủi ro phát sinh không đều về thời gian. Vì vậy,
ngay trong mô hình quỹ được thiết kế theo nguyên tắc "tọa thu, tọa chi" thì trong một
khoảng thời gian nhất định, quỹ BHXH vẫn có số dư tạm thời nhàn rỗi. Đặc biệt là quỹ
BHXH thiết kế theo nguyên tắc tồn tích thì luôn luôn có số dư tạm thời nhàn rỗi rất lớn.
Đây chính là một nguồn vốn trong nước rất quan trọng, được hình thành từ sự đóng góp
của người lao động và người sử dụng lao động, là sự "tiết kiệm tạm thời" trong chi tiêu tạo
ra được một nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế của đất nước. Nguồn vốn này càng trở
nên rất quan trọng đối với những nước đang thiếu nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn
trong nước; mà nguồn vốn là một trong những yếu tố quan trọng của sự tăng trưởng và
phát triển của nền kinh tế.
Điều kiện quan trọng để người lao động được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi về
BHXH, ngoài việc người lao động phải đóng góp thì người sử dụng lao động cũng phải
đóng góp đầy đủ vào quỹ BHXH. Điều đó đã làm cho người lao động gắn bó với người sử
dụng lao động hơn, làm cho quá trình sản xuất được ổn định, bền vững, có năng suất cao
hơn, tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội và tích lũy xã hội cao hơn. Mặt khác, khi chính
sách BHXH được áp dụng đối với mọi người lao động sẽ tạo ra được một sự phân công lao
động xã hội hợp lý, có hiệu quả, tạo ra được một thị trường lao động năng động. Bởi vì
người lao động có thể làm việc ở bất cứ đơn vị nào, thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi loại
hình sở hữu thì họ vẫn được quyền tham gia và hưởng thụ tất cả mọi chế độ về BHXH.
người lao động tham gia BHXH càng đông hơn. Khi thu nhập của họ tăng lên, tất yếu mức
đóng góp vào quỹ BHXH cũng tăng lên, tạo ra nền tảng vững chắc cho quỹ BHXH ổn định
lâu dài, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính phục vụ kịp thời nhu cầu chi trả trở lại cho người
lao động và gia đình của họ khi gặp rủi ro. Đồng thời tạo ra được một quỹ BHXH lớn tạm
thời nhàn rỗi để đầu tư phát triển mở rộng, hiện đại hóa sản xuất. Chính đến lúc này, chính
sách BHXH lại tác động trở lại chính sách lao động và tiền lương là việc mở rộng và hiện
đại hóa sản xuất sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, có năng suất lao động cao
hơn dẫn đến thu nhập của người lao động càng tăng thêm. Đó là sự tác động, hỗ trợ lẫn
nhau giữa chính sách việc làm và thu nhập với chính sách BHXH.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa chính sách BHXH với chính sách bảo đảm xã hội
Đảm bảo xã hội được hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả mọi thành viên
trong xã hội, được thực hiện thông qua một loạt các biện pháp công cộng để trợ giúp sự
giảm sút, hẫng hụt đột ngột về kinh tế - xã hội của con người, do bị suy giảm, mất việc
làm, thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh gây ra.
Con người trong suốt cuộc đời có thể gặp rất nhiều rủi ro bất ngờ do suy giảm hay
mất khả năng lao động, mất việc làm, do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, hậu quả do chiến
tranh để lại … Phạm vi và mục tiêu của bảo đảm xã hội rất rộng lớn, không chỉ đối với
mọi thành viên trong một quốc gia mà còn đối với cả cộng đồng quốc tế. Nguyên tắc hoạt
động của hệ thống bảo đảm xã hội dựa trên cơ sở đảm bảo sự bảo vệ, công bằng, đoàn kết,
hỗ trợ, không chỉ đơn giản là sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập; mà đó là sự chuyển dịch
thu nhập mang tính chất xã hội; để phân phối lại tài chính và dịch vụ có lợi nhất cho những
thành viên gặp những bất hạnh, rủi ro trong cộng đồng xã hội. Nguồn tài chính để thực
hiện quá trình phân phối lại đó được hình thành từ sự tự đóng góp của chính những người
được bảo vệ, của Ngân sách Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân từ thiện, nhân đạo của
quốc gia hoặc quốc tế.
Tùy theo quan niệm và điều kiện lịch sử, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi nước mà hệ thống bảo đảm xã hội được hình thành và có những cơ chế bảo vệ và sự
quản lý điều hành khác nhau. Nhưng có thể hiểu một số cơ chế bảo vệ trong hệ thống bảo
đảm xã hội đó là:
Nhà nước ta đưa ra để giải quyết những mối quan hệ kinh tế - xã hội rất cụ thể. Nó được
điều chỉnh bằng một hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước, quy định rõ vị trí, vai
trò, trách nhiệm và quyền hạn của Nhà nước, của người sử dụng lao động và người lao
động.
Điều lệ Bảo hiểm xã hội đã ghi rõ:
Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội: Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo
hiểm xã hội; xây dựng và trình ban hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; ban hành các văn
bản pháp quy về bảo hiểm xã hội thuộc thẩm quyền, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc
thực hiện bảo hiểm xã hội.
Chính phủ thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội thống nhất để quản lý quỹ
và thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật đối với
người lao động.
Người lao động có quyền:
- Được nhận Sổ bảo hiểm xã hội;
- Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ, thuận tiện khi có đủ điều
kiện hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều lệ này;
- Khiếu nại với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động
hoặc tổ chức bảo hiểm xã hội có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
Người lao động có trách nhiệm:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định;
- Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
- Bảo quản, sử dụng sổ bảo hiểm xã hội và hồ sơ về bảo hiểm xã hội đúng quy
định
Người sử dụng lao động có quyền:
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của Điều lệ bảo hiểm xã
hội;
- Khiếu nại với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan bảo hiểm xã hội
có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.
động đầu tư và tăng trưởng quỹ đem lại; tiền tài trợ và viện trợ của trong và ngoài nước;
các khoản thu khác (nếu có). Trong các nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội nói trên,
nguồn do người lao động và người sử dụng lao động đóng góp là quan trọng, chủ yếu nhất.
Nhưng quá trình quản lý sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động cũng
phức tạp và khó khăn nhất. Vì vậy, trong nội dung này luận văn tập trung nghiên cứu công
tác quản lý sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động vào quỹ bảo hiểm
xã hội (sau đây gọi tắt là công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội).
Công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội chủ yếu tập trung vào ba nội dung, đó là:
1.2.1.1. Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Các đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và phải đóng bảo hiểm xã
hội bao gồm cả người sử dụng lao động và bản thân người lao động (kể cả người lao động
được cử đi học, đi thực tập, công tác và điều dưỡng ở trong và ngoài nước mà vẫn hưởng
tiền lương hoặc tiền công của cơ quan và đơn vị) làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ
chức kinh tế - xã hội dưới đây:
- Các doanh nghiệp nhà nước;
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp; các
cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam (trừ trường hợp Điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định
khác);
- Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ
10 lao động trở lên;
- Các cơ quan hành chính sự nghiệp, các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung ương
đến cấp huyện;
- Các tổ chức kinh doanh, dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan
Đảng, đoàn thể;
- Các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ trong lực lượng vũ trang;
- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đóng cho quân nhân, công an nhân dân thuộc diện
hưởng lương và hưởng sinh hoạt phí theo Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân
nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ban hành
theo các mức đóng khác nhau, cụ thể là:
- Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức đảng, đoàn thể, hội quần
chúng, tiền lương tháng của người lao động và quỹ tiền lương của các đơn vị sử dụng lao
động được xác định theo các quy định tại Nghị quyết số
35 NQ/UBTVQHK9 ngày 17/05/1993 của ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX, Quyết định số
69/QĐTW ngày 17/05/1993 của Ban Bí thư, Nghị định số 25/CP ngày 17/05/1993 của Chính
phủ, Quyết định số 574/TTg ngày 25/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số
06/CP ngày 21/01/1997 của Chính phủ.
- Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, tiền lương tháng của người lao động và
quỹ lương của đơn vị sử dụng lao động được xác định theo các quy định tại Nghị định số
26/CP ngày 23/05/1995 của Chính phủ.
- Các đơn vị sử dụng lao động đã thực hiện ký hợp đồng lao động thì đóng bảo
hiểm xã hội tính trên tổng quỹ tiền lương hàng tháng, bao gồm lương theo hợp đồng đã ký
kết với người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định và lương của người giữ
chức vụ không áp dụng chế độ hợp đồng lao động.
- Riêng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương
của những quân nhân, công an nhân dân hưởng lương; còn quân nhân, công an nhân dân
đóng bằng 5% mức lương tháng. Mức thu BHXH đối với quân nhân, công an nhân dân
thuộc diện hưởng sinh hoạt phí đóng bằng 2% mức lương tối thiểu theo tổng số quân nhân,
công an nhân dân do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đóng.
- Đối với người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, nếu người lao động đã
có quá trình tham gia BHXH ở trong nước thì đóng bằng 15% mức lương tháng đã đóng
BHXH trước khi ra nước ngoài làm việc; người lao động chưa tham gia BHXH ở trong
nước thì mức đóng BHXH hàng tháng bằng 15% của hai lần mức lương tối thiểu của công
nhân viên chức trong nước.
- Mức thu đối với cán bộ xã, phường, thị trấn bằng 15% mức sinh hoạt phí hàng
tháng; trong đó cán bộ xã, phường, thị trấn đóng 5% mức sinh hoạt phí hàng tháng; ủy ban
nhân dân xã phường, thị trấn đóng bằng 10% mức sinh hoạt phí tính trên tổng mức sinh
hoạt phí của những người tham gia BHXH.
1.2.2.2. Phương thức chi trả
Phải áp dụng phương thức quản lý và chi trả cho phù hợp với từng loại đối tượng
và từng loại trợ cấp, sao cho đảm bảo được nguyên tắc chi trả: đúng đối tượng, đúng chế
độ, đầy đủ, kịp thời, chính xác và an toàn.
Một đặc điểm cần quan tâm trong tổ chức chi trả hiện nay đó là hầu hết việc chi trả
các chế độ BHXH cho người được hưởng đều bằng tiền mặt, khối lượng chi trả hàng tháng
rất lớn (toàn quốc năm 2000 là 7.574 tỷ đồng), địa bàn chi trả rộng khắp các miền, vùng
trong cả nước và đối tượng chi trả thường xuyên rất lớn (1.763.485 người), thời gian chi
trả phải tập trung từ
1 đến 5 ngày trong tháng.
Có hai phương thức chi trả, đó là phương thức chi trả trực tiếp và phương thức chi
trả gián tiếp. Phương thức chi trả trực tiếp là việc chi trả cho người được hưởng các chế độ
BHXH được thực hiện trực tiếp do cán bộ, công chức, viên chức của hệ thống Bảo hiểm xã
hội chi trả. Phương thức chi trả gián tiếp là việc chi trả cho người được hưởng các chế độ
BHXH được thực hiện bởi sự ủy quyền của cơ quan BHXH các cấp cho các đơn vị sử
dụng lao động hoặc các đại diện pháp nhân thuộc ủy ban nhân dân các phường, xã chi trả
hộ (các đại lý chi trả).
1.2.2.3. Quản lý kinh phí chi BHXH
Để đạt được mục tiêu chi trả đầy đủ, kịp thời cho các đối tượng hưởng chế độ
BHXH, một yêu cầu cần đặt ra đó là phải đảm bảo đủ nguồn kinh phí và được phân bổ,
điều hành một cách khoa học. Kế hoạch được xây dựng và cấp phát sát với nhu cầu chi
tiêu cho từng đối tượng ở từng địa phương (tỉnh, huyện); vừa đảm bảo được yêu cầu chi trả
các chế độ BHXH cho người được hưởng; đồng thời vừa tránh tồn đọng quá lớn (dư trên
các tài khoản) ở các đơn vị dự toán cấp 2 và cấp 3, sẽ gây lãng phí việc sử dụng vốn. Để có
cơ sở quản lý, điều hành và kiểm soát chặt chẽ nguồn kinh phí này, các đơn vị dự toán cấp
2 và cấp 3 được mở các tài khoản chuyên chi BHXH ở hệ thống Ngân hàng và Kho bạc
của Nhà nước. Các đơn vị chỉ được rút tiền từ các tài khoản trên để chi trả các chế độ
BHXH, không được sử dụng nguồn kinh phí này để chi trả cho bất kỳ một nội dung chi
nào khác. Nhờ đó mà các đơn vị dự toán cấp trên có thể kiểm tra số kinh phí đã sử dụng và