Luận văn: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapo vào Việt Nam - thực trạng và giải pháp potx - Pdf 12


1
Luận văn

Đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Singapo vào
Việt Nam - thực trạng và
giải pháp

2
LỜI MỞ ĐẦU
Xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra với tốc độ nhanh
chóng và sâu sắc.Việt Nam với chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá
quan hệ quốc tế đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế - thương mại và
toàn cầu : là thành viên của ASEAN, APEC, ASEM, đã ký hiệp định
thương mại Việt-Mỹ và đang xin gia nhập tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) Các nước đánh giá cao vai trò và vị trí của Việt Nam ở khu vực
và thế giới , đồng thời đánh giá cao tiềm năng phát triển của Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình hoạt động kinh tế
quốc tế ra, đời và phát triển có tính tất yếu, lâu dài cùng với xu thế toàn cầu
về kinh tế. FDI có vai trò vị trí quan trọng, tích cực đối với cả nước tiếp
nhận FDI lẫn nước đi đầu tư. Công nghiệp hoá-hiện đại hoá là nhiệm vụ
của Đảng và Nhà nước ta trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên CNXH . Trong
suốt quá trình này, chúng ta cần nhiều vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản
lý. Nên việc thu hút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài , nhất là các nước
trong cùng khu vực có nhiều điểm tương đồng về kinh tế, văn hoá, xã hội
là rất quan trọng. Một trong những nhà đầu tư nước ngoài có số vốn đầu tư
lớn vào Việt Nam phải kể đến Singapo. Đầu tư trực tiếp nước ngoài của

Mạnh Tiến - Giám đốc Công ty TNHH CONCETTI đã tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Nhưng do khuôn khổ có hạn và trình độ còn nhiều hạn chế, chuyên đề
này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong được
sự đóng góp ý kiến của tất cả các thầy cô và các bạn.
4
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
I/KHÁI NIỆM VÀ NGUỒN GỐC CỦA FDI :
1.Khái niệm .
Đầu tư theo nghĩa chung nhất là việc bỏ ra hay hy sinh một nguồn
lực ở hiện tại nhằm thu được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong
tương lai.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện từ thời kỳ tiền tư
bản và đã có nhiều lý thuyết đề cập về nó. Tuy không có nhiều tranh cãi
nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về đầu tư trực tiếp
nước ngoài được thừa nhận rộng rãi .
Nói một cách khái quát đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động
có những đặc điểm sau:
- Có sự thiết lập quyền sỡ hữu về vốn và tài sản của người nước này
ở một nước khác .
- Chủ đầu tư chịu hoàn toàn trách nhiệm về quản lý dự án và hiệu
quả của vốn đầu tư .
- Thường do các cá nhân hay các công ty đặc biệt là các công ty
xuyên quốc gia tiến hành thông qua việc thành lập mới mở rộng các cơ sở
sản xuất hiện có nhằm mở rộng thị trường.

nhiều, do đó làm tăng hiệu quả vốn đầu tư. Nước nhận vốn bên cạnh đó còn
tiếp nhận được cả phương thức sản xuất mới hoà nhập vào thị trường quốc

6
tế. Một lợi thế nữa là đầu tư trực tiếp nước ngoài không đưa những nước
nhận vốn đến gánh nặng nợ nần, không bị các ràng buộc về kinh tế và
chính trị bất lợi cho đất nước.Tuy nhiên, hạn chế của nguồn vốn đầu tư trực
tiếp là nếu các nước nhận vốn không có định hướng rõ ràng, không quản lý
tốt thì sẽ dẫn đến sự phát triển kinh tế không cân đối tạo ra một cơ cấu đầu
tư, cũng như cơ cấu kinh tế không phù hợp.
2. Nguồn gốc và bản chất của FDI.
Theo định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trên ta thấy đặc
điểm cơ bản nhất của nó là việc người nước ngoài đưa vốn vào một nước
khác để mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh mở rộng thị trường. Việc sản
xuất hàng hoá tại nước mình rồi xuất sang nước khác như vậy làm cho chi
phí vận chuyển tăng lên. Thay vào đó, chủ đầu tư đưa vốn sang nước khác
để sản xuất và bán ngay tại thị trường nước sở tại thì họ không những giảm
được chi phí vận chuyển mà còn tránh được thuế nhập khẩu hàng hoá vốn
do các nước đặt ra để bảo vệ nền kinh tế của họ. Điều này lý giải tại sao lại
có dòng vốn đầu tư cùng chảy vào và chảy ra tại cùng một nước, tại sao
đầu tư vốn mà không nhập khẩu hàng hoá.
Theo học thuyết của D.Ricardo, mỗi nước có lợi thế riêng về các yếu
tố sản xuất mà ông gọi đó là lợi thế so sánh, ở các nước phát triển đó là lợi
thế về vốn, công nghệ, kinh nghiệm sản xuất còn ở các nước đang phát
triển đó là lao động rẻ, tài nguyên tại chỗ phong phú, thị trường sơ khai. Do
vậy, khi chi phí sản xuất ở một nước (thường là nước phát triển) cao họ tìm
cách đưa vốn sang nước khác để tận dụng hết lợi thế so sánh của mỗi nước
bằng cách đó họ đã nâng cao được tỷ lệ lợi nhuận biên/chi phí biên.
Mọi nhà kinh doanh đều có xu hướng đa dạng hoá danh mục đầu tư.
Thiết lập nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh ở các nước khác, tức là họ đã

8
II. CÁC HÌNH THỨC CHỦ YẾU CỦA FDI :
Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam đầu tư trực tiếp
nước ngoài bao gồm các hình thức chủ yếu sau :

1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh .
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa hai bên
hay nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh
doanh ở Việt Nam trên cơ sở qui định trách nhiệm và phân chia kết quả
kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập một pháp nhân mới .
Như vậy, hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức liên kết kinh
doanh giữa chủ đầu tư trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài theo
từng trường hợp cụ thể, trong đó các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân
riêng chứ không tạo nên bất cứ một pháp nhân mới nào. Ởđây cũng không
chỉ góp vốn và các phương tiện sản xuất mà còn thoả thuận về nghĩa vụ và
quyền hạn của mỗi bên bằng hợp đồng trong việc tiến hành một công việc
sản xuất kinh doanh và những quyền lợi mà họ được hưởng. Hình thức này
rất đa dạng và phù hợp với những dự án có qui mô nhỏ thời hạn hoạt động
ngắn.
2. Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư trong đó bên nước
ngoài và Việt Nam cùng góp vốn thành lập liên doanh theo một tỷ lệ đã
thỏa thuận. Theo luật định doanh nghiệp liên doanh được thành lập tại Việt
Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký hoặc là doanh nghiệp do doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc
do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở
hợp đồng liên doanh.

9
Doanh nghiệp liên doanh đươc thành lập theo hình thức công ty trách

không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước sở tại.
Hình thức BOT ra đời nhằm tạo ra loại hình công việc có chất lượng
ở các nước chậm và đang phát triển khi các nước này không có đủ vốn. Đặc
điểm chung của hình thức này là nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ vốn nhiều,
thời gian thu hồi vốn chậm .
Các công ty ký hợp đồng BOT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, được nhà nước bảo lãnh để tránh rủi ro…
Hình thức hợp đồng BOT là hình thức đầu tư mới xuất hiện ở Việt Nam,
song nó có vai trò to lớn làm thay đổi bộ mặt mặt nền kinh tế. Nhờ nó chất
lượng kết cấu hạ tầng được nâng cao một cách rõ rệt, tạo đà thu hút hơn
nữa các nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng như đáp ứng tốt hơn nhu cầu
tăng lên của nhân dân.
* Hình thức đầu tư BTO.
BTO ( Built-Transfer-Operate) hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh
doanh là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư nước ngoài để xây dựng công trình, sau khi đã xây dựng xong nhà đầu tư
nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước sở tại và được dành quyền
kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận hợp lý.
* Hình thức đầu tư BT.
BT (Built-Transfer) hợp đồng xây dựng chuyển giao là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây
dựng công trình, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
công trình đó cho nước chủ nhà và tạo điều kiện thực hiện dự án khác nhằm
thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.

11

động sản xuất ở những nơi có chi phí sản xuất thấp nhằm hạ giá thành sản
phẩm. Đầu tư ra nước ngoài có thể giúp các nhà đầu tư hạ thấp chi phí sản
xuất do khai thác được nguồn lao động dồi dào với giá rẻ ở nước sở tại.
Đồng thời, khi đầu tư sản xuất ở nước sở tại, nhà đầu tư có thể sử dụng
nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất của mình ở chính nước này.
Việc này giảm bớt được chi phí vận tải cho việc nhập nguyên nhiên liệu,
nhất là khi các nhà đầu tư muốn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng ở nước ngoài.
Đối với việc thiết lập nhà máy sản xuất ở các nước Tư bản phát triển
các nhà đầu tư có thể học tập công nghệ tiên tiến của các nước đó. Và
những công nghệ này có thể sẽ được áp dụng ở nhiều nhà máy hay chi
nhánh của công ty ở các nước khác. Những công nghệ hiện đại sẽ góp phần
nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí sản xuất để đưa đến mục
đích cuối cùng của nhà đầu tư là lợi nhuận cao.
Cuối cùng, đó là tránh được các hàng rào thương mại. Xu thế bảo hộ
mâu dịch trên Thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các nước công
nghiệp phát triển. Đầu tư ra nước ngoài là biện pháp hữu hiệu để xâm nhập
chiếm lĩnh thị trường và tránh được các hàng rào bảo hội mậu dịch giúp các
chủ đầu tư giảm bớt chi phí sản xuất nhằm tránh được các trướng ngại cho
việc tiêu thụ hàng hoá hay dịch vụ của mình như tránh được thuế nhập
khẩu, hạn ngạch.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, tích cực trên đây, FDI cũng có thể
chứa đựng những thách thức đối với nước có đầu tư ra nước ngoài. Đó là
các vấn đề quản lý vốn, công nghệ, sự ổn định của đồng tiền, cán cân thanh
toán quốc tế, vấn đề việc làm của lao động trong nước .
- Có khả năng làm lộ các bí quyết kinh doanh: Do CGCN nên nhà
ĐTNN thường phải hướng dẫn, truyền đạt một số kinh nghiệm của mình

13

cho đối tác bên nước sở tại để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh cho cả


chuyển giao đó mà các nước đang phát triển có điều kiện tốt hơn để khai
thác các thế mạnh sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, tăng sản xuất, sản
lượng và khả năng cạnh tranh với các nước khác trên thị trường Thế giới
nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Thứ ba : Việc thiết lập các cơ sở sản xuất ở nước sở tại, chủ đầu tư
cần sử dụng lao động ở chính nơi đây. Sự xuất hiện hàng loạt các nhà máy
mới, nông trại mới đã thu hút được nhiều lao động vào làm việc. Hơn thế
nữa, các nhà đầu tư nước ngoài còn phải đào tạo những người lao động
thành những công nhân lành nghề cho doanh nghiệp của mình. Điều này
góp phần tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao chất lượng lao động cho
nhân dân nước sở tại, do đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở những nước này.
Thứ tư : FDI đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về
ngoại tệ của nước nhận. Điều này có nghĩa là việc thiếu hụt thương mại có
thể được bổ xung bằng nguồn vốn FDI.
Khi FDI chảy vào một nước nó có thể làm giảm thâm hụt cán cân
vãng lai. Nó cũng có thể làm triệt tiêu khoản thâm hụt đó qua thời gian khi
các công ty nước ngoài thu được những khoản xuất khẩu ròng.Thêm nữa
khi những lợi thế của nền sản xuất nước ngoài được đưa vào nước chủ nhà
như công nghệ, kỹ năng sản xuất chúng cũng làm nâng cao sức cạnh
tranh quốc tế của các hãng trong nước do đó có thể làm tăng xuất khẩu góp
phần tạo ra ngoại tệ cải thiện cán cân thương mại .
Thứ năm : Tác động giữa FDI và công nghệ được coi như một trong
những nội dung quan trọng trong việc xem xét đầu tư nước ngoài cả cho
nước nhận đầu tư và nước đi đầu tư. Lý do của điều này là công nghệ mang
lại những lợi ích cho cả hai đặc biệt là nước nhận đầu tư .Đầu tiên người ta
hy vọng FDI đem đến những công nghệ tiên tiến cho nước sở tại. FDI có
thể mang đến cho nước chủ nhà các bí quyết sản xuất và công nghệ tiên

15


- Đầu tư trực tiếp nước ngoài gây sự rối ren, mất ổn định cho nền
kinh tế nước sở tại.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp do chủ đầu tư quản lý trực tiếp và sử
dụng theo những mục tiêu của họ.
- Những công nghệ chuyển giao sang các nước đang phát triển
thường không phải là những công nghệ tiên tiến nhất mà là những công
nghệ không còn được sử dụng ở các nước tư bản phát triển vì đã quá thời
hạn sử dụng hoặc không còn đáp ứng được những yêu cầu mới về chất
lượng và gây ô nhiễm môi trường. Trên thực tế đã diễn ra nhiều hiện tượng
chuyển giao công nghệ nhỏ giọt, từng phần và mất nhiều thời gian.
- Nếu không định hướng và quản lý tốt FDI, nợ quốc gia sẽ tích tụ, tăng
dần , ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thanh toán quôc tế và sự ổn định của
đồng tiền.
- Nếu nước sở tại không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học ,
dễ dẫn tới đầu tư tràn lan kém hiệu quả tài nguyên thiên nhiên bị bóc lột
quá mức.
- Nước sở tại phải đương đầu với chủ đầu tư giầu kinh nghiệm, sành sỏi
trong kinh doanh. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng những sở hở
trong luật pháp sở tại để trốn thuế, xâm phạm lợi ích của nước sở tại.

17

Mặc dù vậy, những hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài không
thể phủ nhận được vai trò tích cực của nó đối với cả nước chủ đầu tư và
nước nhận đầu tư. Vấn đề là ở chỗ các nước tiếp nhận đầu tư phải kiểm
soát đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách hữu hiệu để phát huy mặt tích
cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
IV. XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA FDI TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TRONG KHU VỰC :

cạnh tranh với các công ty của Mỹ. Thị trường FDI ngày nay không còn là
thị trường riêng của các công ty Mỹ và ngược lại có sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt giữa các công ty của nhiều nước khác nhau có đầu tư ra nước
ngoài. Cùng với sự vươn lên của Tây Âu, Nhật Bản và các nước NIC, nhất
là NIC Châu Á , tính “đa biên” , “đa cực” đã xuất hiện và hoàn toàn thay
thế tính đa cực của FDI .
Từ cuối những năm 70s , đầu những năm 80s trở lại đây, đã xuất
hiện hiện tượng “hai chiều” hay “lưỡng tính” trong FDI ; đó là hiện tượng
một nước vừa tiếp nhận FDI vừa đầu tư ra nước ngoài. Mỹ là nước điển
hình nhất về hiện tượng này, vừa là nước đầu tư ra nước ngoài lớn nhất,
chiếm khoảng 17% FDI ra thế giới, nhưng cũng là nước thu hút FDI lớn
nhất, chiếm khoảng 30% FDI toàn cầu. Tổng FDI đầu tư ra nước ngoài của
các nước G7 chiếm khoảng 80% tổng FDI toàn cầu, nhưng chính họ lại thu
hút khoảng 70% FDI của thế giới vào nước mình. Tình hình tương tự cũng
diễn ra ở hầu hết các nước công nghiệp phát triển thuộc nhóm OECD và
các nước NIC. Nhiều nước đang phát triển, trong đó có các nước trong khu
vực, đồng thời với việc chú trọng thu hút FDI, vẫn tiến hành các hoạt động
xuất khẩu FDI.
Hiện nay, các TNC đang chi phối, kiểm soát phần lớn sản xuất, kinh
doanh vào FDI trên thế giới. Kết quả nghiên cứu 100 TNC lớn nhất trên thế

19

giới cho thấy, các TNC này chiếm tới một phần ba FDI toàn thế giới và
tổng tài sản ở nước ngoài của chúng lên tới 1400 tỷ USD, sử dụng tới 72
triệu lao động trong đó có 12 triệu lao động nước ngoài. Thời kỳ 1990 -
1995, tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư của các TNC
Mỹ là 42% ; của các TNC Nhật Bản là 48% ; và của các TNC Châu Âu là
59%. Thời kỳ 1996 - 2000, các TNC tiếp tục đẩy mạnh đầu tư ra nước
ngoài. Tỷ trọng đầu tư ra nước ngoài trong tổng vốn đầu tư của các TNC

đang tiếp tục nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi cho FDI thông qua các hiệp
định song phương và những chính sách ưu đãi đầu tư trong phạm vi khu
vực và từng bước để tạo đà đi lên. Các thoả thuận về hợp tác đầu tư, ở mức
độ khác nhau đều đề cập đến vấn đề mở cửa thị trường và tiến tới tự do hoá
đầu tư .
Trong năm 1997, đã có 151 thay đổi trong qui định về FDI ở 76
nước, 89% những thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi hơn cho FDI. Nhiều
ngành trước đây được xem như bị đóng cửa đối với FDI như viễn thông
bảo hiểm năng lượng đã được mở ra cho FDI và tự do hoá hơn, Trung
Quốc là nước thu hút FDI thành công nhất trong nước đang phát triển. Năm
1998, FDI vào Trung Quốc chiếm 80% tổng FDI vào Châu á và 35% của
toàn bộ FDI vào các nước đang phát triển. Ấn Độ, Hàn Quốc mới chuyển
hướng, chú trọng hơn vào FDI và đang trở thành đối thủ cạnh tranh đáng
gờm của các nước thu hút FDI Châu Á, nhất là trong bối cảnh do tác động
của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trong khu vực, nguồn cung cấp
FDI từ Châu Á, nhất là từ Nhật Bản, Hàn Quốc giảm đi rõ rệt ( của Nhật ,
giảm từ mức trung bình 33 tỷ USD/năm xuống mức 25 tỷ USD/năm)
21

V. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI .
Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng hoà các yêu tố đối nội,
đối ngoại, chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hoá và xã hội Có liên quan
đến các hoạt động của các nhà đầu tư. Qua thực tiễn của nhiều nước trên
thế giới cho thấy, một môi trường được coi là hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài phải đảm bảo các yếu tố cơ bản sau:
1.Sự ổn định về chính trị-xã hội.

của ASEAN, tham gia APEC, ASEM đang đàm phán gia nhập WTO, đã
ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, cùng với các chính sách đối ngoại
mềm dẻo trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ đã tạo ra lợi thế so sánh đáng kể của Việt Nam
trong quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
2.Sự phát triển về kinh tế.
Sự phát triển kinh tế ở đây được hiểu là sự phát triển đồng bộ về các
mặt: tăng trưởng kinh tế, thu nhập GDP tính trên đầu người, kim ngạch
xuất nhập khẩu, hệ thống giao thông, bưu chính viễn thông, dịch vụ các
loại. Thực tế cho thấy ở các nước phát triển, tốc độ thu hút vốn đầu tư nước
ngoài bao giờ cũng cao hơn các nước đang phát triển. Ở nước ta sự phát
triển về kinh tế chưa được coi là hấp dẫn đối với các nhà đầu tư vì hệ thống
giao thông tuy có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn lộn xộn, hệ thống bưu
chính viễn thông có nhiều tiến bộ nhưng giá cước phí vẫn được xếp vào
hạng nhất nhì thế giới về đắt đỏ, hệ thống ngân hàng và các hoạt động dịch
vụ khác còn nhiều bất cập, chưa thuận lợi đối với các nhà đầu tư. Nhìn vào
phân bố địa bàn đầu tư ở nước ta, chúng ta nhận ra ngay rằng chỉ ở các
thành phố lớn như Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng. Bà Rịa Vũng Tàu mới có
nhiều dự án hoặc ở các địa phương có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với
các nhà đầu tư như Bình Dương, Đồng Nai mới thu hút được nhiều dự án

23

đầu tư. Còn ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa như Lào Cai, Yên Bái,
Hà Giang, Ban Mê Thuật, Đắc Lắc, Kiên Giang, An Giang Có rất ít thậm
chí không có dự án nào đầu tư vì cơ sở hạ tầng yếu kém, may ít rủi nhiều.
3.Hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài.
Đây là một yếu tố không thể thiếu được của môi trường đầu tư. Hệ
thống pháp luật về đầu tư ở đây được hiểu là Luật quốc gia điều chỉnh hoạt
động đầu tư như Luật đầu tư, các Luật khác có liên quan đến hoạt động đầu

nhiều danh lam thắng cảnh thì số dự án đầu tư tăng lên nhiều hơn so với
các quốc gia chỉ có ba yếu tố cơ bản kể trên. Ở Việt Nam mặc dù chúng ta
có lợi thế về văn hoá, du lịch nhưng thực tế chưa khai thác hết thế mạnh
này, ngoài ra chưa kể đến có những lúc thái độ đối với các nhà đầu tư nước
ngoài còn thiếu thiện chí, chưa đánh giá đúng về vai trò của đầu tư nước
ngoài đối với đất nước mình
Để có được môi trường hấp dẫn, thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài
cần phải tiếp tục cải thiện các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư như đã
phân tích ở trên, đồng thời phải đặc biệt chú ý cải thiện môi trường pháp lý,
môi trường kinh doanh, tiến tới áp dụng một mặt bằng pháp lý và điều kiện
kinh doanh cho tất cả các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư trong nước.
Thêm vào đó cần chú trọng cải cách thủ tục hành chính, đào tạo đội ngũ
cán bộ và quan tâm đúng mức đến hoạt động xúc tiến đầu tư để cho mọi
người quan tâm đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có được ấn tướng tốt
đẹp về môi trường đầu tư ở Việt Nam.
25CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CỦA SINGAPO TẠI VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1988-2000.
I.TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT
NAM, GIAI ĐOẠN 1988-2000:
1. Quy mô vốn và tình hình thực hiện dự án đầu tư .

1998
1999
2000
37
68
108
151
197
269
343
370
325 Dù ¸n
345
275
278
332
Ngu
ồn:
Niên giám th
ống k
ê 1998, NXB Th
ống K
ê, Hà N
ội 2000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status