Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU vào Việt Nam - Pdf 12

Lời Cảm Ơn
Em xin chân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kinh Tế Quốc
Tế cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường, đặc biệt là thầy giáo
hướng dẫn GS.TS. Đỗ Đức Bình đã tận tình chỉ dậy cho em những kiến
thức cần thết để em có thể hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp của
mình.
Tuy đã được sự các thầy cô hết lòng hướng dẫn, chỉ dậy cùng vớI
sự nỗ lực hết mình của bản thân nhưng bài viết cũng không thể tránh
khỏI những sai sót. Mong có sự góp ý của các thầy cô và các bạn để bài
viết này có thể hoàn thiện hợn nữa.
Một lần nữa em xin chân trọng cảm ơn!
Tác giả
1
Lời Cam Đoan
Em xin cam đoan chuyên đề thực tập tốt nghiệp “Giải pháp thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ EU vào Việt Nam gia nhập WTO ”, là
công trình do tự bản thân em thực hiện, không sao chép của bất kỳ một
chuyên đề, tác phẩm nào khác.
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả
(ký tên)
2
Lời Nói Đầu
1. Tính tất yếu khách quan của đề tài nghiên cứu
Trong thời đại ngày nay, khi mà sự phát triển như vũ bão của khoa
học công nghệ và công nghệ thông tin, nó đã và đang tạo ra những thuận
lợi khó khăn vô cùng lớn cho các quốc gia trên thế giới. Quá trình
chuyên môn hoá sản xuất diễn ra trên toàn thế giới, một sản phẩm không
phải do một quốc gia sản xuất ra mà có thể do 2 hay nhiều quốc gia sản
xuất ra. Đồng thời, trên thế giới còn xuất hiện nhiều vấn đề mà vượt quá
khả năng của một quốc gia. Tất cả các điều kiện đó là xu hướng tất yếu

giới.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng ĐTTTNN từ EU vào Việt Nam
qua các giai đoạn từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao khả năng
thu hút và sử dụng nguồn vốn này vào trong nước trong điều kiện Việt
Nam là thành viên của WTO phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của Đảng và nhà nước đã đề ra.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng FDI của EU
vào Việt Nam.
4
- Đánh giá thực trạng của hoạt động FDI của EU trên góc độ thời
gian, không gian, tác động của nó tới quá trình phát triển kinh tế xã hội
của nước ta từ 1987 – 2006.
- Triển vọng đầu tư của EU vào Việt Nam khi Việt Nam là thành
viên của WTO.
-Một số nhân tố tác động đến FDI của Eu tại Việt Nam và một số
giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dược nghiên cứu chủ yếu bằng phương pháp hệ thống,
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh,
phương pháp chuyên gia, phương pháp thực nghiệm, …
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài cho ta những lý luận chung về thu hút FDI
- Quá trình hình thành và phát triển của EU.
- Đề tài đã cho ta thấy được thực trạng FDI của EU vào Việt Nam
từ 1988 đến nay. Đặc biệt có sự phân giai đoạn tước và sau khi EU mở
rộng từ EU – 15 đến EU – 27. Từ đó, cho thấy rõ tác động của việc các
nước Trung và Đông Âu gia nhập đến FDI của EU vào Việt Nam như
thế nào.

ĐCSVN Đảng cộng sản Việt Nam
ĐTTTNN Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI Foreign Direct
Investment
Đầu tư nước ngoài trực tiếp (từ
nước ngoài vào trong nươ)
EU Eropean Union Liên minh Châu Âu
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
HN Hà NộI
NSNN Ngân sách nhà nước
NXB Nhà xuất bản
M&A Mua lạI và sáp nhập
ODA Official Development
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
TH Thực hiện
UNESCO The United Nations
Educational Scientific
Cultural Organization
Tổ chức văn hoá, giáo dục và
khoa học của Liên hop quốc
USD The United State of
Dollars
Đồng Đô la Mỹ
VĐK Vốn đăng ký
VPĐ Vốn pháp định
VTH Vốn thực hiện
WTO The World Trade Tổ chức thương mạ thế giới
7
Organization

Thực tế quan niệm này liên tục được sửa đổi, bổ sung để phù hợp
với tình hình thực tế của đất nước trong từng thời kì, đồng thời phù hợp
với các cam kết quốc tế. Luật đầu tư năm 2005 quy định (khoản 3) đầu
tư là việc các nhà đầu tư bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để
hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật
này và các quy định của pháp luật có liên quan. Đầu tư trực tiếp là hình
thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động
đầu tư.
Dự án FDI là các dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở
nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở
nước tiếp nhận đầu tư (nước sở tại) bỏ vốn đầu tư, trực tiếp quản lý và
điều hành để thu lợi trong kinh doanh.
Các đặc trưng cơ bản của dự án FDI:
- Các dự án FDI là một dự án đầu tư, nên nó cũng mang đầy đủ các
đặc trưng cơ bản của một dự án đầu tư nói chung. Đó là:
+ Đầu tư là hoạt động bỏ vốn, nên quyết định đầu tư thường là
quyết định tài chính.
+ Đầu tư là hoạt động lâu dài (chiến lược).
+ Đầu tư luôn luôn có chi phí và kết quả.
+ Đầu tư là hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi ích trước
mắt và lợi ích lâu dài.
+ Đầu tư là hoạt động mang nặng rủi ro.
- Ngoài các đặc trưng trên, các dự án FDI còn có các đăc trưng
riêng có. Đó là:
10
+ Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý,
điều hành đối tượng bỏ vốn.
+ Các bên tham gia vào dự án FDI có quốc tịch khác nhau, đồng
thời thường sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau.
+ Dự án chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật.

dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian
nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) là hình thức được ký kết
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao
công trình đó cho nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà
đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư hoặc thanh toán cho
nha đầu tư nước ngoài theo thoả thuận của hợp đồng BT.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng và tác động của thu hút đầu tư trực
tiếp đến nước nhận đầu tư
1.2.1 Các tác động của FDI
1.2.1.1Tác động tích cực
Thứ nhất: Việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp
tiếp nhận công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.Các nước
đang phát triển thường thiếu và yếu về công nghệ hiện đại. Quá trình di
chuyển vốn đầu tư của các công ty xuyên quốc gia cũng như của các nhà
12
đầu tư nước ngoài được chuyển giao vào trong nước. Các loại công nghệ
nguồn và công nghệ trung gian được chuyển giao vào các nước đang
phát triển bao gồm: công nghệ khai thác tài nguyên, công nghệ lắp ráp,
công nghệ chế biến thực phẩm, công nghệ cung cấp dịch vụ về ngân
hàng, … Cùng với công nghệ hiện đại là kinh nghiệm quản lý tiên tiến
như các kỹ năng quan trọng như kỹ năng quản trị marketing, tài chính,
nhân sự, kỹ năng điều hành sản xuất, kỹ năng hoạch định chiến lược, …
Thứ hai: Tăng cường nguồn vốn nước ngoài và cải thiện cán cân
thanh toán. Nguồn vốn này giúp tăng lượng giá trị trong nền kinh tế, góp
phần cải thiện cán cân thanh toán. Đồng thời, nó giúp cho việc khai thác
và sử dụng các nguồn lực trong nước một cách có hiệu quả hơn.
Thứ ba: Tạo công ăn việc làm cho người lao động giúp giảm bớt nạn thất
nghiệp trong nước. Cùng với việc di chuyển các nguồn vốn vào trong

triển thấp song điều này không phải bao giờ cũng được các nhà đầu tư
chấp thuận. Trong nhiều trường hợp công nghệ chuyển giao là những
công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường.
Thứ ba: Gây ra những ảnh hưởng không tốt về mặt xã hội. Các nhà
đầu tư đến đem theo cả lối sống và phong cách của nước họ đến nước
tiếp nhận đầu tư và điều này có thể gây ra những tác động xấu đến văn
hoá dân tộc, phá vỡ câc chuẩn mực xã hội trước đây…Trong nhiều
trường hợp các nhà đầu tư còn có những tác động nhất định trong việc
hình thành tác phong công nghiệp và phát triển cộng đồng. Mặt khác, nó
còn có thể tạo ra các sung đột giữa các nhà đầu tư, giữa công nhân và
ngườI chủ,… gây ra những bất ổn về mặt xã hội.
14
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng
1.2.2.1 Những nhân tố thuộc về phía Việt Nam
Việt Nam luôn coi EU là một đối tác chiến lược của mình, là một
đối tác quan trọng để thu hút công nghệ nguồn, tiếp thu kinh nghiệm
quản lý tiên tiến,… góp phần nâng cao hiệu ứng đầu tư trực tiếp nước
ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện, đại hoá đất nước. Trong
thời gian qua chúng ta đã có nhiều biện pháp và chính sách nhằm thu hút
nguồn vốn từ đối tác này, như việc ban hành luật đầu tư luật doanh
nghiệp thống nhất có hiệu lực ngày 1/7/2006, hệ thống chính sách đầu tư
không ngừng được cải thiện theo hướng minh bạch hoá, thông thoáng và
thuận lợi cho nhà đầu tư…
Đảng và nhà nước ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với việc
tham gia vào AFTA, ASEAN, APEC, đặc biệt là thành viên thứ 150 của
tổ chức thương mạI thế giớI WTO… đã và đang tạo hành lang để thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài của tất cả các nước trên thế giới.
Trong đó, Việt Nam luôn coi EU là một đối tác quan trọng hàng đầu của
mình. Do vậy, các nguồn vốn từ EU vào Việt Nam luôn được hưởng
những chế độ ưu tiên ưu đãi và tạo điều kiện để dự án được triển khai và

Tiềm năng đầu tư của EU vào Việt Nam là rất lớn nhưng tỷ trọng
đầu tư thực tế vào Việt Nam lại rất thấp. Năm 2001 chiếm 39% tổng số
vốn đầu tư vào Việt Nam, năm 2002 là 3%; 2004 là 2,23%; năm 2005 là
13,8% . Điều này do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do nền kinh tế của các nước EU trong giai đoạn 2001 -
2003 có xu hướng giảm sút và duy trì tăng trưởng ở mức rất thấp. Trong
2 năm 2004 và 2005, mức tăng trưởng mặc dù đã cao hơn trước nhưng
chưa thực sự cho thấy dấu hiệu phục hồi mạnh mẽ. Theo các chuyên gia,
16
nền kinh tế các nước EU thời gian qua phải đối mặt với nhiều khó khăn,
trong đó có một số khó khăn chủ yếu là: thị trường chứng khoán châu
Âu vỡ bong bóng, giảm giá khoảng 50%; các khoản phúc lợi xã hội cao;
đồng EURO tăng giá mạnh so với các ngoại tệ khác đã làm hạn chế khả
năng kinh doanh và góp phần làm cho thị trường thất nghiệp tăng. Mặc
dù EU đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp nhưng kết quả mới
chỉ là bước đầu. Do kế hoạch mở rộng EU đòi hỏi các khoản chi rất lớn
để giúp các thành viên mới gia nhập đạt mức tăng trưởng phù hợp với
yêu cầu của EU. Điều này tác động mạnh đến lượng FDI của các nước
EU.
Thứ hai, do chính sách mở rộng của liên minh châu Âu EU phải
dành 70 tỷ EURO trong giai đoạn 2002 - 2006 để hỗ trợ cho các chương
trình trước và sau hội nhập.
Thứ ba, EU là đối tác làm ăn có kinh nghiệm và thận trọng phần
nào họ đang theo dõi tiến trình đàm phán để gia nhập WTO và những
thay đổi trong các biện pháp và chính sách của Việt Nam. Và cuốI năm
2006, đầu năm 2007 các nhà đầu tư của EU đã đầu tư mạnh mẽ vào Việt
Nam, với những dự án quy mô lớn hơn, nó đã thể hiện hiệu quả cao. Đó
chính là nguyên nhân kéo nguồn vốn FDI chảy mạnh vào Việt Nam, nơi
có tỷ suất đầu tư lợi nhuận cao.
Môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng được cải thiện, chính

tạo ra một cơ sở hạ tầng hiện đại, phần nào đáp ứng được yêu cầu của
nhà đầu tư nước ngoài nhưng do các nhà đầu tư EU quan tâm nhiều hơn
vào thị trường nội địa nên họ chưa thực sự quan tâm đến khu công
nghiệp khu chế xuất của Việt Nam. Vấn đề tham nhũng cũng là một vấn
đề gần đây của Việt Nam cần được giải quyết triệt để vì nó gây ra tâm lý
18
không tin tưởng vào sự ổn định chính trị lâu dài của chính trị và an ninh
quốc gia của các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và của EU nói riêng.
Về mặt các chính sách của chính phủ thì rõ ràng và ổn định trong
các giai đoạn dài nhưng các chính sách ngắn hạn của Việt Nam thì
thường xuyên thay đổi đã gây ra tâm lý dè chừng, đứng ngoài quan sát,
đầu tư thăm dò của các nhà đầu tư EU. Tuy nhiên, điều này đang được
Chính phủ hết sức quan tâm.
Ngoài ra, Việt Nam có vị trí thuận lợi trong khu vực Đông Nam
Á, tài nguyên thiên nhiên phong phú… cũng là một điểm hấp dẫn các
nhà đầu tư nước ngoài.
1.2.2.3 Những nhân tố trên thế giới tác động đến đầu tư trực tiếp
(FDI) từ EU vào Việt Nam
Thứ nhất, là phải kể đến sự tăng trưởng kinh tế chung của thế giới,
nếu tốc độ tăng trưởng ổn định sẽ tác động làm cho nguồn vốn FDI tăng
lên và ngược lại với tốc độ tăng trưởng thấp không ổn định sẽ làm hạn
chế nguồn vốn FDI. Đặc biệt là sự tăng trưởng của ba trụ cột kinh tế thế
giới Mỹ, EU, Nhật. Nó sẽ tạo ra động lực cho kinh tế thế giới tăng
trưởng nếu nó có sự tăng trưởng tốt. Ví dụ: trong giai đoạn 2001 - 2003
do vốn FDI sụt giảm là do kinh tế thế giới tăng trưởng thấp đến năm
2003 dần lấy lại đà tăng trưởng nhưng chưa thực sự mạnh mẽ trong giai
đoạn này cả ba nền kinh tế trụ cột của thế giới đều gặp phải hàng loạt các
vấn đề nên đều trải qua thời kỳ phát triển không vững chắc và không tạo
đựơc đà thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển.
Thứ hai, là do tình hình an ninh chính trị trên thế giới: nếu vấn đề

20
trò quan trọng bổ sung và thúc đẩy kinh tế phát triển. Sau gần 20 năm cải
cách và mở cửa tính đến cuối năm 2001, Trung Quốc đã cấp phép cho
hơn 411.495 dự án có vốn FDI, với tổng số vốn cam kết là 807,6 tỷ USD
và số vốn giải ngân là 429,64 tỷ USD (theo con số thống kê của
MOFTEC) Trung Quốc luôn nhận được nguồn vốn FDI lớn nhất trong số
các nước đang phát triển kể từ năm 1993. Theo các chuyên gia Trung
Quốc kể từ khi bắt đầu cải cách mở cửa FDI của Trung Quốc tính theo
tài sản cố định trong tổng vốn đầu tư chiếm khoảng 7%. Trong giai đoạn
từ năm 1979 - 2003, tổng đầu tư tính theo tài sản cố định đã đóng góp
hơn 40% cho tăng trưởng kinh tế, trong đó hơn 5% là đóng góp trực tiếp
của đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Thành công về thu hút FDI của Trung Quốc là do quan điểm nhất
quán rõ ràng kiên quyết thực hiện các chính sách thông thoáng về cải
cách, mở cửa và chủ động sử dụng vốn nước ngoài một cách hợp lý hiệu
quả. Đặc biệt, sau chuyến “ công du” của Đặng Tiểu Bình năm 1992 đã
tạo ra một bức ngoặt lớn cho nguồn vốn FDI chảy vào Trung Quốc. Năm
2002 Trung Quốc đã vượt qua Mỹ trở thành nước nhận FDI nhiều nhất
trên thế giới. Trung Quốc luôn chú trọng đúng mức vào các nguồn vốn
đến từ những nước có công nghệ nguồn như EU, Mỹ, Nhật. Chỉ tính
riêng Quần đảo Virgin thuộc Anh, Anh, Đức, Pháp đã có 12356 dự án
(chiếm 8,08% ), vốn thực hiện đạt hơn 4 tỷ USD (chiếm10,02%) (theo số
liệu của MOFTEC) trong năm 2001.
Trung Quốc đã chia thành 3 giai đoạn để thực hiện mục tiêu thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Giai đoạn 1: Từ 1979 - 1991 là giai đoạn thử nghiệm các nguồn
đầu tư nước ngoài chỉ đóng vai trò bổ sung cho hình thức vay nước
ngoài cho việc cung cấp ngoại tệ cho nhu cầu phát triển đất nước.
21
Giai đoạn 2: Từ năm 1992 - 2000 là giai đoạn tiếp nhận đầu tư

cân đối giữa các vùng miền ở Việt Nam tập trung ở thành phố Hồ Chí
Minh, Hà Nội và các vùng phụ cận. Giống nhau về nguồn vốn, cả hai
nước đều có danh sách 10 nước đầu tư lớn nhất nhưng khác nhau về thứ
tự.
Bảng 1: Thứ tự 10 nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam và Trung
Quốc
STT Việt Nam Trung Quốc
1 Singapore Hồng Kông
2 Đài Loan Mỹ
3 Nhật Bản Nhật
4 Hàn Quốc Đài Loan
5 Hồng Kông Singapore
6 Pháp Đảo Virgin
7 Đảo Virgin (thuộc Anh) Hàn Quốc
8 Anh Anh
9 Nga Đức
10 Mỹ Pháp
Theo bảng trên ta thấy đặc điểm của Việt Nam và Trung Quốc rất
tương đồng về mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của
các nhà đầu tư nước ngoài.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu ở Trung Quốc
là liên doanh, 100% vốn nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh
(BOT). Vào thời kỳ đầu Trung Quốc hạn chế ở hình thức 100% vốn nước
ngoài và yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài muốn gia nhập thị trường phải
thành lập liên doanh với các nhà doanh nghiệp Trung Quốc. Nhưng đến
23
năm 1990, Trung Quốc đã cho phép thành lập các doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài, ngoài ra Trung Quốc còn cho phép đầu tư gián
tiếp khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia quá trình cải cách
doanh nghiệp nhà nước, cho phép họ trở thành cổ đông của những doanh

nghề đầu tư thành 4 loại: khuyến khích, được phép, hạn chế, cấm; Chính
phủ ban hành hướng dẫn đầu tư nước ngoài trong đó bao gồm nhiều dự
án khuyến khích liên quan đến tự do hoá lĩnh vực dịch vụ, bao gồm hoạt
động ngân hàng bảo hiểm, thương mại, ngoại thương, du lịch, truyền
thông, vận tải, các dịch vụ về kế toán là lĩnh vực trước đây bị hạn chế;
khuyến khích đầu tư vào các vùng khó khăn được hưởng chính sách thuế
ưu đãi hơn trong 10 năm sau khi bắt đầu dự án đầu tư; khuyến khích nhà
đầu tư tham gia vào quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước bằng cách
chính phủ dự định sẽ bán một phần cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà
nước trong vòng 5 năm tới để đẩy mạnh việc tái cơ cấu các doanh nghiệp
nhà nước…
Với các chinh sách như thế Trung Quốc đã thu hút và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn này, các dự án đầu tư FDI đi vào hoạt động đã thu
hút 23 triệu lao động chiếm 10% lực lượng lao động thành thị. Hàng
năm đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, năm 2001 thu hút từ
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001 tăng với tốc độ
30,04% so với năm 2002 và luôn luôn cao hơn 1,5 đến 2 lần tốc độ tăng
thu ngân sách của cả nước. Tổng thu ngân sách từ các doang nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài từ chỗ chỉ chiếm 4,25% tổng thu ngân sách năm
1992 đã tăng lên 19,01% tổng thu ngân sách của cả nước năm 2001.
Tổng giá trị xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cũng liên tục tăng trong thời gian qua. Năm 2001, giá trị xuất nhập khẩu
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 259,098 tỷ USD, với
25

Trích đoạn Đánh giá chung về thu hút FDI vào Việt Nam Triển vọng đầu tư của EU vào Việt Nam khi Việt Nam là thành viên của WTO Quan điểm về thu hút FDI của Đảng và Nhà nước Giải pháp từ phía Nhà nước Giải pháp từ phía doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status