TÀI LIỆU THAM KHẢO CHIẾN lược DIỄN BIẾN hòa BÌNH của CNĐQ ở LIÊN xô và ĐÔNG âu NHỮNG KHẢ NĂNG và điều KIỆN của NHÂN dân VIỆT NAM đấu TRANH CHỐNG DBHB bảo vệ sự NGHIỆP xây DỰNG CHỦ NGHĨA xã hội - Pdf 40

Chương I.
DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH LÀ CHIẾN LƯỢC CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG.
Tiết 1. Quá trình ra đời và hình thành chiến lược "diễn biến hoà bình"
Lịch sử xã hội loài người đã ghi nhận từ năm 1848, “Chủ nghĩa xã hội đã được
tất cả các thế lực ở Châu Âu thừa nhận là một thế lực”. Từ khi ra đời nó được coi là
một bóng ma đang ám ảnh bầu trời Châu Âu” và giai cấp tư sản thế giới đã Đông hợp
lại thành một Đông minh thần thánh để trừ khử bóng ma đó” ( 1 Tr 539).
Gần 150 năm qua, giai cấp tư sản cầm quyền luôn tiến hành cuộc đấu tranh nhằm
tiêu diệt tư tưởng XHCN, tiêu diệt chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm xoá bỏ các Đảng
cộng sản đại biểu cho giai cấp công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa và các
Đảng Cộng sản cầm quyền.
Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp tư sản trước sau vẫn khẳng định chủ nghĩa tư
bản là chế độ xã hội cao nhất của nền văn minh nhân loại để bảo vệ quyền lợi của giai
cấp tư sản.
Chủ nghĩa Mác- Lênin cùng với thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng xây dựng
chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở nhiều nước trên thế
giới đã chứng minh chủ nghĩa tư bản chỉ là một hình thái kinh tế- xã hội trong lịch sử
phát triển của xã hội loài người.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga đã mở ra kỷ nguyên mới. Chủ
nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực. Sau thế giới chiến tranh lần thứ hai, một loạt nước
xã hội chủ nghĩa và hướng CNXH đã ra đời.
Hai con đường phát triển của nhân loại cùng tồn tại một thời gian trong lịch sử
xã hội hiện đại : chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Trong bước phát triển của nền
văn minh, loài người lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội là xu thế chung tiến bộ
theo hướng lịch sử tiến hoá.
Giai cấp tư sản cầm quyền và các tầng lớp tư sản mất quyền thống trị ở nhiều
nước, đã ra sức hoạt động để bảo vệ các hệ thống giá trị, hệ thống lợi ích của giai cấp
tư sản, nhằm kéo dài sự thống trị xã hội của mình.
ở các nước phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mà loài người đã
đạt được, có xu hướng mở rộng quốc tế hoá lực lượng sản xuất, cho năng suất lao

Cần làm cho mọi công dân Việt nam thấy rõ ý đồ chiến lược và những mưu toan
của các thế lực đế quốc và phản động về thực hiện diễn biến hoà bình đối với Việt
nam nói riêng.
Nắm vứng “diễn biến hoà bình” về mặt thực tiễn giúp ta nhận rõ được phương
thức hoạt động và các thủ đoạn cụ thể trong giai đoạn đấu tranh hiện nay để “biết
địch, biết ta- trăm trận, trăm thắng” mà ông cha ta đã tổng kết.
Thời cơ và thử thách lớn đang cùng đến trên đất nước ta trong lúc nhân dân ta
đang ra sức phát triển công nghiệp, công nghệ hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước và giai cấp công nhân trong giai đoạn mới.
Từ năm 1949 “diễn biến hoà bình” đã được Đin A-ki-xơn (Đ.achexon) ngoại
trưởng Mỹ lúc đó, dùng trong thư gửi Tổng thống Mỹ Tơ-ru-man (Truman) chỉ sự
việc làm chuyển hoá các nước xã hội chủ nghĩa thành tư bản chủ nghĩa, thay chế độ
xã hội chủ nghĩa bằng chế độ tư bản chủ nghĩa vốn có trong lịch sử.
Ngay sau đó, vào những năm 50 các nước xã hội chủ nghĩa đã đề cập đến âm
mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động.
Các nước xã hội củ nghĩa đã coi đấu tranh “diễn biến hoà bình” là một nội dung quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội.
Các chiến lược gia tư sản, đại biểu là Giooc-ken-nan – nhà Xô viết học hàng đầu
của Mỹ, nguyên đại sứ Mỹ tại Đông - xô năm 1952. A-dôn-phơ Đa-lét (A. Dulles)
ngoại trưởng Mỹ những năm 1953-1959 và A-ki-Xơn. Ba nhà chiến lược Mỹ đã căn
cứ từ sự tác động qua lại giữa 2 hệ thống xã hội đối lập nhau về bản chất giai cấp; giai
cấp tư sản với giai cấp vô sản- trong quá trình quan hệ tác động lẫn nhau hai hệ thống
xã hội sẽ để lại dấu ấn của mỗi bên trong phía bên kia, sẽ xuất hiện quá trình thẩm
thấu lẫn nhau, khi đó bên nào không giữ được bản sắc hệ thống xã hội của mình thì tất
yếu sẽ bị chuyển hoá theo đối phương.
Dựa vào quan hệ tác động tất yếu này, các chiến lược gia tư sản dù đoán rằng
chủ nghĩa tư bản sẽ thắng chủ nghĩa xã hội. Bởi vì theo họ, chủ nghĩa tư bản có


những ưu thế hơn so với chủ nghĩa xã hội. Xét về lịch sử, chủ nghĩa xã hội còn rất

lượng lãnh đạo tối cao, lực lượng bên trong xã hội đó. Các chiến lược gia đế quốc cho
rằng phương thức này có ưu điểm hơn phương thức chiến tranh súng đạn ở chỗ nó
không những không làm thức tỉnh sự cảnh giác đối phó của đối phương mà bản thân
phương thức này ru ngủ ý chí quốc gia dân tộc, ý chí đấu tranh dân tộc, ý chí đấu
tranh bảo vệ quyền lợi lâu dài về chủ quyền độc lập, tự do dân chủ của họ.
Điều kiện cần thiết để có thể thực hiện “diễn biến hoà bình” là mở rộng tiếp xúc,
giao lưu, quan hệ giữa hai hệ thống xã hội trong hoà bình xây dựng đời sống vật chất
và tinh thần của các cộng đồng quốc gia dân tộc.
Với thủ đoạn đấu tranh giai cấp của giai cấp tư sản hiện đại đối với giai cấp vô
sản mà Đảng cộng sản cầm quyền, phương thức thôn tính, chi phối thẩm thấu dần dần
đối phương bằng “diễn biến hoà bình”, các thế lực đế quốc và phản động đã sử dụng
hơn 40 năm qua. Tiến hành tác động vào bên trong, thực hiện cuộc vận động phản


cách mạng từ trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa, bằng âm mưu và tổ chức tạo
dựng trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa những nhân tố, những lực lượng chống
chủ nghĩa xã hội, chống các đảng cộng sản và công nhân như là lực lượng “cách
mạng”, “hợp thời đại”- chống lại sự lạc hậu trì trệ của xã hội chống lại hệ thống lãnh
đạo quan liêu, “chuyên quyền” sự “mục ruỗng tất yếu” của chủ nghĩa xã hội không
“dân chủ”, không “công bằng” không phải là một xã hội đại biểu cho xu thế lý tưởng
xã hội văn minh! (...)
CNĐQ và các thế lực phản động tiến hành phá hoại bằng mọi cách êm dịu, dấu
kín sự tác động trực tiếp nham hiểm của chúng; khoét sâu mâu thuẫn qua những
khiếm khiết của cán bộ đảng viên trong việc không quán triệt đúng chính sách của
ĐCS vào thực tiễn cuộc sống để gây ra sự hoài nghi ngờ trong lòng các nước xã hội
chủ nghiã, tự nó làm suy yếu, tự huỷ hoại đi đến bị tiêu diệt bởi ý đồ và sự tác động
DBHB trong các nước XHCNN của các thế lực đế quốc.
Từ năm 1947 đến những năm 80, chủ nghĩa đế quốc sử dụng “diễn biến hoà
bình” trong chiến lược toàn cầu, kiềm chế, răn đe, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội bằng
lực lượng quân sự và thủ đoạn chiến tranh cục bộ.

là: phá vì hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tiến hành xâm nhập bằng lối sống phương
Tây.
Thực hiện phá vì hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, các thế lực đế quốc hết sức chú ý
tập trung gieo rắc những lộn xộn về tư tưởng trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, đặc
biệt trong những người lãnh đạo chủ chốt của các Đảng cộng sản cầm quyền.
Thực hiện xâm nhập bằng lối sống phương Tây thực chất là truyền bá lối sống
đòi hỏi hưởng thụ vật chất, đòi hỏi cá nhân của mình không đếm xỉa gì đến tự do cá
nhân của người khác; cố tạo ra một lối sống chỉ biết xoay sở chụp giật lợi ích cụ thể
hàng ngày, lấy chủ nghĩa thực dụng làm lẽ sống thuần tuý.
Xét đến cùng, biện pháp truyền bá lối sống trên đây là một bộ phận của cuộc
truyền bá thế giới quan tư sản, làm sa đoạ nhân sinh quan để đưa quần chúng các
nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là lôi kéo thanh thiếu nhi dấn sâu vào lối sống nhục
dục tầm thường, bỏ quên những hoài bão, tưởng cuộc sống văn hoá, văn minh của dân
tộc.
Phá vì hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, các thế lực đế quốc và phản động hàng ngày
thông qua hệ thống truyền thông với kỹ thuật hiện đại tổ chức đồ sộ nhằm xuyên tạc,
bóp méo tình hình mọi mặt ở các nước xã hội chủ nghĩa; tuyên truyền ca ngợi và phổ
biến hệ tư tưởng tư sản, các giá trị của chủ nghĩa tư bản, lối sống phương Tây.
Mặt khác, các thế lực đế quốc và phản động tiến hành nhiều hoạt động bí mật và
công khai, thông qua cá nhân có uy tín và các tổ chức quần chúng, phi chính phủ, các
tổ chức văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, thể thao, báo chí, y tế, du lịch... để móc
nối, gây dựng và trợ giúp về mọi mặt cho các nhân tố chống Đảng Cộng sản, chống
đối chế độ xã hội chủ nghĩa.
Các thế lực đế quốc và phản động sử dụng các loại viện trợ kinh tế viện trợ nhân
đạo, tín dụng có điều kiện để tác động vào đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại; sử
dụng chuyên gia, nhất là chuyên gia về tư pháp để tác động vào luật pháp các nước xã
hội chủ nghĩa có lợi cho hoạt động chống đối về chính trị v.v.
Trên tất cả những hoạt động về tư tưởng, tinh thần, hoạt động xã hội và kinh tế
của chúng ta, bằng cách này hay cách khác, ở mức độ này hay mức độ khác các thế
lực đế quốc và phản động đều lợi dụng nhằm tới mục tiêu chính trị làm suy yếu nền

hoạt động bản tính của con người... vào các nước xã hội chủ nghĩa thông qua con
đường giao lưu văn hoá giữa các quốc gia dân tộc.
Các thế lực đế quốc và phản động ra sức tuyên truyền lối sống phương Tây “tốt
đẹp”, “văn minh” thực dụng, tự do, ích kỷ cá nhân; ca ngợi tự do cá nhân, ca ngợi giá
trị dân chủ và sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Xuyên tạc tình hình các nước xã hội
chủ nghĩa; kích động tâm lý bất mãn trong một bộ phận nhân dân, xúi dục, nhen
nhóm, tập hợp lực lượng chống Đảng Cộng sản, chống chính quyền của nhân dân.
Các thế lực đế quốc và phản động quốc tế đặc biệt chú trọng dựng lên ở các nước
láng giềng gần các nước xã hội chủ nghĩa những thị xã, thành phố, “tủ kính” trưng
bày sự phồn vinh tư bản. Triệt để lợi dụng giọng lưỡi số kiều dân phản động và bọn
phản bội Tổ quốc, đào nhiệm để bôi xấu chế độ xã hội chủ nghĩa.
Những kẻ phản bội, đào nhiệm được nước ngoài tô vẽ đóng vai “nhân chứng” về
sự xấu xa của chủ nghĩa cộng sản” và được tôn thành những anh hùng của “thế giới tự
do”.
Trong những năm 50- 60, thực trạng kinh tế- xã hội ở một số nước xã hội chủ
nghĩa bộc lộ những suy yếu, các thế lực đế quốc và phản động thực hiện “diễn biến
hoà bình” bằng kích động tâm lý dân tộc, phát động chủ nghĩa “bài Xô” tiếp tay cho
bọn phản động ở các nước này tiến hành bạo loạn.
Những năm 70, các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu gặp khó khăn về kinh tế xã
hội ; một bộ phận nhân dân biểu lộ tâm trạng bất bình. “diễn biến hoà bình” được thực
hiện bằng các cuộc tiến công đòi “nhân quyền”. “Vấn đề nhân quyền” được các thế
lực đế quốc và phản động dùng làm chìa khoá để mở cửa tấn công các nước xã hội
chủ nghĩa và Liên- xô
Đối phương đã lợi dụng nhân quyền khuyến khích và giúp đỡ các lực lượng có
khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc, tự do dân chủ theo kiểu tư sản phương Tây, trở


thành các lực lượng chính trị đối lập tranh quyền với Đảng Cộng sản và công nhân
đang cầm quyền.
Cục diện tình hình diễn biến đã được ý đồ chủ quan của chủ nghĩa đế quốc tạo

nghiệp phát triển chỉ chiếm 25% dân số thế giới nhưng lại đang hưởng thụ hơn 80%
thu nhập của toàn thế giới. Các nước này sử dụng 70% sản lượng năng lượng, 75%
kim loại, 85% gỗ, 60% lương thực của toàn thế giới. (22; Tr 25)
Đến nửa cuối những năm 80, môi trường sống của trái đất đang bị huỷ hoại đến
mức báo động.
Nền an ninh và độc lập dân tộc của nhiều dân tộc trên thế giới vẫn bị đe doạ boỉ
các cuộc chiến tranh cục bộ. Nguy cơ bị huỷ diệt bởi bom đạn hạt nhân đã uy hiếp
trực tiếp nhân loại. Hàng ngàn tỷ đô-la đang ném vào cuộc chạy đua vũ trang, trong
khi chỉ cần vài tỷ cũng đủ cứu hàng triệu người khỏi bị chết đói. v.v...


Tình hình thực tế trên đây đặt ra nhu cầu phải thúc đẩy sự nghiệp giải phóng con
người về mặt xã hội. Xoá bỏ bóc lột, áp bức, bất công... để ngang tầm năng lực nhận
thức, sử dụng thiên nhiên của nhân loại mà cuộc cách mạng công nghệ đã đạt được.
Chủ nghĩa xã hội ở Đông Xô và các nước khác đến những năm 80 đều đã tự
nhận thấy sự trì trệ về kinh tế- xã hội.
Yêu cầu sống còn của chủ nghĩa xã hội đòi hỏi cải tổ là tất yếu để bước vào thời
kỳ phát triển mới, đổi mới mô hình tổ chức nhằm khắc phục nhược điểm và các mặt
yếu kém để đi nhanh vào khoa học công nghệ hiện đại.
Các nhà chiến lược của chủ nghĩa đế quốc đã đánh giá rằng triển vọng thành
công của công cuộc caỉ tổ, cải cách, đổi mới ở Đông Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
là nguy cơ thách thức, đe doạ vị trí lịch sử của chủ nghĩa đế quốc.
Ních xơn nhận xét: “Đông Xô tìm cách thắng lợi không có chiến tranh”. (40;
Tr.18) “Nếu những cải cách mãnh liệt trong nước của Gooc-ba-chốp thành công thì
trong thế kỷ XXI chúng ta sẽ vấp phải một Đông bang Xô- viết phồn vinh hơn và có
hiệu quả hơn. Lúc ấy, nước này sẽ trở thành một đối thủ dữ dội hơn (chứ không kém)
ngày nay” (40 ; tr.19).
Cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đã đi vào giai đoạn quyết định, so sánh
twong quan lực lượng báo hiệu rằng tính chất, phạm vi cuộc đấu tranh sẽ trở nên
quyết lliệt và gay gắt hơn.

nhiều người, ở nhiều lĩnh vực hoạt động chính trị – kinh tế- xã hội vẫn cho là chủ
nghĩa đế quốc vẫn không tiến hành “diễn biến hoà bình” ! Thậm chí không ít người
chỉ thấy quyền lợi kinh tế trước mắt mà quên đi chủ quyền quốc gia dân tộc để xây
dựng CNXH trên đất nước mình. Trong lúc đó, Ních-xơn- nhà chiến lược Mỹ đã chủ
trương “Chúng ta phải tìm cách tạo nên những luật giao chiến hoà bình cho cuộc xung
đột của chúng ta và luật lệ đó sẽ tồn tại tới năm 1999 và sẽ tồn tại cho đến thế kỷ sau”
! (40; tr.35)
Tình hình trên đây cho thấy tương quan lực lượng đã tạo ra toàn bộ kết qủa cuộc
đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội mà các thế lực đế quốc và phản động quốc tế đã
nhìn thấy một thời cơ lịch sử để thực hiện “diễn biến hoà bình” khi các nước xã hội
chủ nghĩa tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới.
Các thế lực đế quốc và phản động quốc tế đã nắm được thời cơ để thực hiện
“diễn biến hoà bình”, bằng các biện pháp hoà bình, chiến thắng chủ nghĩa xã hội
không cần có chiến tranh đế quốc để xoá bỏ Đông Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu.
Trong cuốn sách xây dựng luận cứ và đề xuất chiến lược “diễn biến hoà bình”,
Ních- xơn đánh giá:
“Dù chưa chắc, nhưng có thể những cải cách của Goóc-ba-chốp sẽ có tác dụng
phản lại và sẽ dẫn đến một sự thay đổi thực sự bên trong chế độ... Sự thay đổi ở Đông
Xô không những có thể dẫn đến một thế giới tự do hơn mà còn tới một thế giới tự do
hơn mà còn tới một thế giới nguy hiểm. Sự thay đổi đó đến mức nào, thuộc kiểu gì và
diễn biến nhanh ra sao dưới thời Goóc-ba-chốp là những vấn đề phụ thuộc vào ông ta
và vào chúng ta” (40; tr.44).
Tiết 2. "Diễn biến hoà bình" là phương thức hoạt động của chủ nghĩa đế
quốc nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, là một loại chiến tranh không có
tiếng súng
Các nhà chiến lược của chủ nghĩa đế quốc mà đại biểu là Ních- xơn đề xuất
chiến lược “diễn biến hoà bình” đã định sẵn mục tiêu, hướng tiến công chủ yếu,
phương thức và phương châm hành động chiến lược.
Trong cuốn “1999- Chiến trắng không cần chiến tranh”, Ních-xơn viết : “Trong

quốc tìm cách “làm cho tư tưởng tự do, thắng tư tưởng độc tài chuyên chế, một tư
tưởng sẽ phủ nhận tự do” (40; tr.16) (Độc tài chuyên chế ở đây là các chiến lược gia
tư sản gắn cho những người Cộng sản).
Trong chiến lược “diễn biến hoà bình” thế lực đế quốc nhằm vào mục tiêu Đông
xô và các nước xã hội chủ nghĩa là nhằm tiêu diệt hệ tư tưởng Cộng sản.
Ních-xơn viết: “Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp ước, mậu dịch, ngoại viện
và các quan hệ văn hoá sẽ không đi đến đấu nếu chúng ta bị thất bại trên mặt trận tư
tưởng” (37 ; tr.65).
Từ quan điểm này, trong thực hiện chiến lược, chủ nghĩa đế quốc đẩy mạnh tác
động về mặt lý luận và tư tưởng đến quá trình “thiết kế” mô hình mới ở các nước xã
hội chủ nghĩa, hòng dẫn dắt chệch hướng cải tổ, cải cách, đổi mới chủ nghĩa xã hội
ngay từ những bước đặt vấn đề lý luận ban đầu. Chúng ra sức tranh thủ lợi dụng sự
mơ hồ trong nhận thức lý luận khoa học về con đường xã hội chủ nghĩa.
Chúng tuyên truyền mở rộng sự chao đảo về lập trường giai cấp công nhân trong
thực hiện các chính sách cải tổ, cải cách, đổi mới trong cán bộ Đảng viên là lãnh đạo
cao cấp, cán bộ tham mưu chiến lược, cán bộ khoa học. Chúng dùng “chủ nghĩa thực
dụng sẽ mở đường cho quá trình “diễn biến hoà bình” (40; tr.100) và chú trọng đến
việc gieo rắc lối sống , nếp suy nghĩ thực dụng đối với đội ngũ cán bộ có Đông quan
đến việc hoạch định chính sách.
Chúng dùng các hoạt động ngầm để gây dựng “ngọn cờ” chống chủ nghĩa xã hội,
chống Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa. Theo lập luận của chủ
nghĩa đế quốc: “Viện trợ kinh tế hoặc quân sự một cách công khai đôi khi cũng đủ
giúp ta đạt được mục tiêu, nhưng trong trường hợp khác thì chỉ có một cuộc can thiệp
trực tiếp bằng quân sự mới làm được việc đó.


Giữa hai phương thức đó là một không gian bao là mà Mỹ có thể và phải tiến
hành các hoạt động ngầm... Thông thường, các hoạt động thường bao gồm việc trợ
giúp tiền nong cho các cá nhân hoặc các nhóm nào ủng hộ các mục tiêu của Mỹ” (40;
tr.71).

quyền và toàn vẹn lãnh thổ không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau. Mọi quốc gia dân tộc đều bình đẳng, cùng có lợi. cùng tồn tại trong
hoà bình. Tôn trong lịch sử phát sinh và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc, tôn trọng
quyền tự quyết của nhân dân tất cả các nước; nhân dân tất cả các nước tự chọn cho
mình con đường phát triển, xây dựng phương thức sản xuất và chế độ xã hội, những
quan niệm giá trị phù hợp hoàn cảnh đất nước mình và tiến bộ văn minh của xã hội
loài người.


Trên quan điểm ấy, nhìn lại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực đế
quốc và phản động quốc tế, cho chúng ta cách đánh giá đúng thực chất chiến lược
này:
Một là, chiến lược “diễn biến hoà bình” ra đời từ ý chí xâm lược của chủ nghĩa
đế quốc và phản động quốc tế, quyết tâm trong những năm cuối thế kỷ XX tiêu diệt
chủ nghĩa xã hội với tư cách là một hệ tư tưởng, một con đường phát triển của xã hội
loài người.
Chủ nghĩa đế quốc đánh giá rằng cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống xẫ hội đối
lập- giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản- trên phạm vi thế giới đã chuyển sang
giai đoạn có ý nghĩa quyết định một mất một còn.
Vấn đề ai thắng ai- mà chủ nghĩa tư bản sẽ thắng- theo đánh giá của các chiến
lược gia đế quốc- đã trở thành vấn đề thời sự trực tiếp, không còn là vấn đề triển vọng
lịch sử lâu dài như quan điểm chủ nghĩa đế quốc quan niệm trước đây.
Hai là, thực chất của chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc là
thực hiện tạo lập, gây dựng lực lượng chống đối chủ nghĩa cộng sản trong từng nước;
Căn cứ vào diễn biến tình hình ở mỗi nước xã hội chủ nghĩa; dựa vào các nhân tố
chống đối ở trong nước đó mà tấn công, tác động một cách thích hợp trên mọi lĩnh
vực đời sống xã hội; thực hiện cuộc vận động phản cách mạng nhằm chuyển hoá các
quá trình kinh tế, xã hội, tư tưởng, chính trị đang diễn ra ở mỗi nước sang con đường
tư bản chủ nghĩa. Cuối cùng đánh đổ các Đảng Cộng sản và công nhân đang cầm
quyền, đưa các lực lượng mong muốn phục hồi chủ nghĩa tư bản ra nắm chính quyền,

chiến lược. Nó tiến công vào nội bộ đối phương, tạo dựng lực lượng phản cách mạng,
đối lập, chống ĐCS; lợi dụng vấn dề dân tộc, tôn giáo, “nhân quyền”, “dân chủ” để
làm ngòi nổ, kết hợp với sự tác động của các lực lượng thù địch từ bên ngoài tạo ra sự
vận động từ trong lòng mỗi nước XHCN, mà mục tiêu chủ yếu là nắm được những
người có chức vô trọng trách cao trong Đảng Cộng sản và Nhà nước XHCN, để
chuyển dần mọi hoạt động của Nhà nước sang hướng Nhà nước tư sản, xoá bỏ sự lãnh
đạo của ĐCS, thủ tiêu chế độ XHCN.
Tìm hiểu thực chất và khái niệm chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa
đế quốc giúp chúng ta nhận thức đúng và chỉ đạo hành động đấu tranh chống “diễn
biến hoà bình” một cách bình tĩnh sáng suốt, tự tin ở lực lượng quần chúng nhân dân
cách mạng bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Quyền chủ động trong
cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc là thuộc về chủ
nghĩa xã hội, thuộc về Đảng cộng sản cầm quyền và Nhà nước XHCN dưới sự lãnh
đạo của Trung ương Đảng mà hạt nhân là Bộ Chính trị.
Chương II
HOạT ĐộNG “DIễN BIếN HOà BìNH” CủA CHủ NGHĩA Đế QUốC Và
CáC THế LựC PHảN ĐộNG ở ĐÔNG ÂU Và ĐÔNG XÔ (Cũ).
Tiết 1. Tình hình ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) với diễn biến
hoà bình.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng sự hình thành các
nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lệ thuộc Đông Xô để tiến hành “diễn biến hoà bình”.
Những vấn đề thuộc về các nước XHCN Đông Âu (cũ) dù thuộc về chính sách
đối nội hoặc đối ngoại đều phải xem xét gắn liền chính sách đối nội và đối ngoại của
Liên Xô (cũ). Bởi vì thế giới công nhận Liên Xô XHCN là một siêu cường kinh tế,
quân sự, khoa học kỹ thuật, là một đối trọng với đế quốc Mỹ siêu cường tư bản chủ
nghĩa; có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các nước XHCN Đông Âu.
Bờn cạnh cuộc khủng hoảng triền miờn của chủ nghĩa tư bản, từ những năm 80,
cuộc khủng hoảng ở các nước XHCN đó trở thành mâu thuẫn xã hội đòi hỏi phải giải
quyết. Bắt đầu diễn ra từ các cuộc biểu tình của công nhân Ba lan. Nhưng sự kiện đó
đe doạ nghiêm trọng đến chế độ XHCN không chỉ trong nước Ba lan mà còn làm

cộng v.v...
Những bức bỏch về mặt quân sự của Mỹ và Tây Âu đối với Đông Âu là yêu cầu
thực tế về mặt quân sự đòi hỏi Liên - Xô bảo vệ các nước Đông- Âu để bảo vệ ngay
bản thõn Liên - Xô và cũng trở thành yêu cầu đòi hỏi của các nước XHCN Đông- Âu
với Liên Xô trong hoàn cảnh bấy giờ.
Về mặt kinh tế, Hội đồng tương trợ kinh tế (COMECON) ra đời (25/1/1949)
chống lại âm mưu của Mỹ muốn lụi cuốn các nước Đông - Âu vào kế hoạch
Marschall. Thế lực đế quốc và phản động luôn lợi dụng những quan hệ kinh tế giỏ cả
không công bằng giữa các nước, các hiệp định kinh tế tay đụi, và những nguyờn tắc
chúng của khối COMECON để chống phỏ Liên Xô và Đông- Âu XHCN, kể cả việc
phõn công lao động quốc tế chuyờn sản xuất những mặt hàng truyền thống với hàng
công nghệ hiện đại. Với sự phõn công quốc tế XHCN sản xuất hàng hoỏ ấy cho phộp
Liên Xô kiểm sút được gần 90% hàng nhập của Hung-ga-ri; 93% của Ba-lan; 91%
ngoại thương của Ru-ma-ni v.v... Trong khi kinh tế của các nước Đông Âu cựng hoạt
động trong khối tương trợ kinh tế với Liên Xô thỡ ở các nước Đông Âu việc trao đổi
buốn bỏn với nhau giảm đi 50%. Chỉ khi trong khối không có nhữg mặt hàng cần
thiết, hoặc trong khối tương trợ kinh tế cần kỹ thuật phương Tây trong một ngành nào
đó thỡ các nước Đông Âu mới được quyền giao tiếp với phương Tây v.v...
Sở dĩ có tình hỡnh kinh tế bị lệ thuộc lẫn nhau là do từ khi thành lập, các nước
Đông Âu XHCN đó có một số khú khăn hạn chế về kinh tế:


Không có vốn ngoại tệ, đất nước do chiến tranh tàn phỏ, không thể mua vật tư,
nguyờn liệu, kỹ thuật của các nước tư bản. Các nước này lại bị Mỹ và Tây Âu cấm
vận. Có quân đội Liên - Xô thắng phát xít đúng quân trên đất nước, phải nhờ vào sự
giỳp đỡ của Liên - Xô về mọi mặt.
CNĐQ và các thế lực phản động lợi dụng tình hỡnh trên đõy đó tiến hành phản
tuyờn truyền, khoột sõu những sự việc vấp vỏp bỡnh thường bằng ngày trở thành mâu
thuẫn giữa Liên - Xô (cũ) với các nước Đông- Âu.
Để nhận thức rõ hơn tình hình đế quốc Mỹ can thiệp vào Đông- Âu, chúng ta cần

trình diễn biến hoà bỡnh”. (40; tr99-100).
Từ đỏnh giỏ trên đõy, Mỹ đó thỳc đẩy tiến trình biến đổi một cách nhanh chúng
làm cho các nước Đông Âu đi theo hướng Mỹ mong muốn.
Thực chất là Mỹ ra sức xây dựng các nhà nước “độc lập” với xã hội “cởi mở”
đối với nhân dân trong các nước Đông Âu- nhưng “không đe doạ Liên Xô ”.


Mục tiờu của Mỹ : “Phần lan hoỏ Đông Âu” là khuyến khớch nhân dân các
nước Đông Âu đấu tranh để từng bước phát huy “tự do cá nhân ” của nhân dõn,
khuyến khớch nhân dân các nước này đấu tranh để từng bước độc lập với Liên Xô .
Sự mở rộng tự do giao tiếp của nhân dân các nước Đông Âu sẽ là điều kiện để
họ giao tiếp với nền dân chủ tự do tư sản- lụi kộo họ hoà vào chủ nghĩa tư bản.
Túm lại: Mỹ đó tạo ra được theo ý đồ của đế quốc Mỹ các yếu tố cần thiết là:
Giảm bớt sự căng thẳng giữa Mỹ và Đông Xô bằng hoà hoãn, được ảnh hưởng
rất lớn uy tín của Mỹ đối với các nước Đông Âu.
Mỹ đó tiếp xỳc được với nhân dân các nước Đông Âu đến mức đa bằng các
chương trình mậu dịch và văn hoỏ.
Liên Xô đó phải giảm bớt lực lượng thụng thường ở Đông Âu, do đỳng ý đồ của
Mỹ là làm cho sự kiềm chế của Liên Xô ở khu vực này giảm xuống.
Mỹ cũng đó công tỏc được với một số lónh tụ Đảng Cộng sản ở Đông Âu khi họ
muốn cải cách thực thế xã hội, muốn xa lỏnh Liên Xô muốn tự do dân chủ tư sản
trên cơ sở chủ nghĩa thực dụng.
Thời kỳ R.Bush làm tổng thống Mỹ thỡ chính sách “Phần lan Đông Âu” được bổ
sung hoàn chỉnh theo 5 điểm:
1.Thỳc ộp Liên Xô “tụn trọng quyền tự quyết” để cho Mỹ rảnh tay thao tỳng
khu vực Đông Âu.
2.Kớch Đông nhân dân các nước Đông Âu đấu tranh cho “tự do hoàn toàn” cho
“Độc lập”, tỏch khỏi cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, cổ vũ các thế lực phỏi
hữu, kớch động làn súng chống Cộng, chống chủ nghĩa xã hội.
3.Thỳc giục các nước Đông Âu thực hiện chủ nghĩa đa nguyờn về chính trị và đa

dõn.
Mở rộng quan hệ quốc tế cựng với việc nhanh chúng nõng cao trình độ kỹ thuật
khoa học, tranh thủ sự đầu tư kinh doanh cựng có lợi để tự lực tự cường hoà nhập kịp
thời đại.
Tiết 2 ; Sự sụp đổ của Đông Xô (cũ) nguyên nhân và bài học chống "diễn
biến hoà bình".
1. Quỏ trình diễn biến trong nội bộ Đảng cộng sản Liên Xô
ở Đông Xô năm 1965, nhu cầu cải cách trong lĩnh vực kinh tế đã được triển khai
theo ba hướng:
Một là thay đổi cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo lãnh thổ chuyển sang nguyên
tắc quản lý theo ngành.
Hai là điều chỉnh hệ thống kế hoạch hoá, chuyển dịch hướng từ chỉ tiêu tổng sản
phẩm sang chỉ tiêu giá trị sản phẩm thực hiện.
Ba là hoàn thiện chế độ kích thích vật chất.
Phương hướng cải cách kinh tế đã được nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XXIII
tháng 3 năm 1966 khẳng định, chuyển việc quản lý bằng phương pháp hành chính
sang quản lý bằng phương pháp kinh tế, cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển theo
chiều rộng được bắt đầu phát triển theo chiều sâu.
Thực tiễn đến đầu những năm 70 cho thấy, nền kinh tế xã hội chưa xác lập được
quan hệ trách nhiệm giữa cơ quan ra quyết định và đơn vị thực hiện quyết định. Đơn
vị sản xuất kinh doanh ngày càng bị trói buộc bởi những chỉ tiêu hạn ngạch ban hành
do yêu cầu thoả mãn lợi ích cả nứoc. Hoạt động ở Trung ương, Bộ, Ngành không
đồng bộ ăn khớp với cơ chế quản lý ở các xí nghiệp. Người lao động còn bị tách rời
khỏi kết qủa lao động của mình, chế độ tiền lương chưa được cải cách...
Về xã hội, vào những năm 60 đã xuất hiện trong giới sáng tác, trí thức, khoa học
các nhóm bất đồng chính kiến, tién hành đấu tranh công khai bảo vệ quyền tự do cá
nhân. Hình thức thư phản đối, lời kêu gọi được gửi lên lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
(Đã có 700 người gửi đơn khiếu nại). Hình thức “tự xuất bản” đồng thời xuất hiện.
“Tài liệu bất đồng chính kiến” được truyền bá trao tay và một số được truyền ra nước
ngoài, được các nước phương Tây xuất bản.

Đảng và nhà nước Đông Xô coi trọng tâm công tác là củng cố kỷ luật, lập lại trật
tự và đã đem lại một số kết qủa nhất định, nhịp độ phát triển kinh tế năm 1982 đạt
4,2%, so với 3,1% của năm 1981.
Ngày 11/3/1985 hội nghị bất thường Trung ương Đảng Cộng sản Đông Xô bầu
M.X.Gooc-ba-chốp làm tổng bí thư của Đảng. Theo truyền thống mọi sự thay đổi
trong đời sống xã hội- với cách quen nhìn của người dân Đông Xô- đều gắn với sự
thay đổi lãnh tụ.
Phương Tây coi ngày 11/3/1985 là ngày mở đầu của cuộc cách mạng Nga lần
thứ hai” ! Vì ở Đông Xô đã xuất hiện một lãnh tụ mới- người mà cùng với thời gian
sau này đã được Phương Tây tặng cho rất nhiều danh hiệu : “Nhà cách tân dũng cảm”,
“Kiến trúc sư của cải tổ”, “Người giải phóng Đông Âu” !...
Sự khở đầu cải tổ được gắn với hội nghị toàn thể Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng
sản Đông Xô tháng Tư năm 1985. Bản báo cáo của Tổng bí thư khẳng định sự kế
thừa đường lối chiến lược của đại hội 26- đường lối hoàn thiện chủ nghĩa xã hội phát
triển”, và đánh giá rằng trong một thời gian lịch sử ngắn ngủi nhưng đất nước đã đạt
tới “những đỉnh cao của sự phát triển xã hội và kinh tế”.
Nhưng trên thực tế sản xuất vẫn đình trệ, sa sút. Theo đánh giá của nhóm chuyên
gia ở uỷ ban thống kê nhà nước Đông Xô trong những năm 80 tổng sản phẩm quốc
nội tính theo đầu người chỉ bằng 37% của Mỹ !


Theo một nhóm nhà lịch sử đánh giá lúc này về thực chất thì đất nước mới chỉ
đạt được một đỉnh cao là thế cân bằng chiến lược quân sự với Mỹ.
Tìm nguyên nhân của sự khó khăn xã hội, báo cáo của Gooc-ba-chốp nhấn mạnh
“... điều đặc biệt quan trọng là đã không kiên trì đề xuất và thực hiện các biện pháp
lớn trong lĩnh vực kinh tế.” “Nguyên nhân chủ yếu của mọi vấn đề là sự bất lực và
không kiên quyết của ban lãnh đạo chính trị trước đây của Đông Xô. Không mạnh dạn
tiến hành cải cách kinh tế”.
Báo cáo của Gooc-ba-chốp nêu tiếp : “Sử dụng rộng rãi các thành tựu của cách
mạng khoa học kỹ thuật, làm cho hình thức kinh doanh XHCN phù hợp với các nhu

- Tính thờ ơ với sinh mạng con người: 18%
- Tính cách kiên quyết: 7%
- Có thể nhìn xa trông rộng: 4% (28; Tr.55)


Nhóm giáo sư lịch sử như X.V.Ku-le-shop, O.V.Vô-lô-bu-ép; E.I.Pi-vô-var;
Ju.N. Apha-na-xép; V.N. Shô-xta-kop-xki... đã đánh giá Goo-ba-chốp thể hiện là
người có tính cách hai mặt, có khả năng duy trì đồng thời hai ý kién đối lập nhau, kết
qủa là cuối năm 1988 đầu 1989 M.X.Goor-ba-chốp Tổng bí thư uỷ ban trung ương
Đảng Cộng sản Đông Xô, kết luận tình hình đất nước “không thể tiếp tục sống như
cũ”, phải cải tổ và đưa đất nước ra khỏi tình trạng trì trệ.
Trên thực tế cho đến năm 1987 chiến lược “tăng tốc” sử dụng rộng rãi các thành
tựu khoa học kỹ thuật... đề ra từ tháng 7/1985 đã không vào được cuộc sống, không
tạo ra được bước ngoặt tích cực trong nền kinh tế như Đảng Cộng sản Đông Xô dù
tính. Theo số liệu chính thức do Đông Xô công bố, thời kỳ 10 năm trước cải tổ, tốc độ
tăng trưởng của Đông Xô là 3,3%-3,6% năm. Trong hai năm 1985-1986 nhích lên
được 4,1% sang năm 1987 lại tụt xuống chỉ còn có 2,3% năm.
Nhưng mất cân đối trong quan hệ hàng- tiền ngày càng trầm trọng. Các “cơn
sốt” khan hiếm hàng tiêu dùng thiết yếu Đông tiếp phát sinh. Những biện pháp nhằm
phát huy đầy đủ yếu tố con người cũng không tạo ra được cao trào nhiệt tình lao động
trong quần chúng nhân dân.
Tình trạng ấy đặt ra cho Đảng Cộng sản Đông Xô phải đánh giá lại tình hình đất
nước, tìm giải pháp mới. Lúc này xã hội phát sinh hai hiện tượng : ở một số lớn thành
phố của Đông xô xuất hiện các hình thức tập hợp giới trí thức tích cực chính trị dưới
dạng các nhóm nghiên cứu ; các câu lạc bộ; các cuộc thảo luận... để góp phần tích cực
tìm tòi phương hướng cải tổ . Các nhóm này hình thành từ cuối năm 1986, thể hiện
các quan điểm khác nhau, cách nhìn đối với các vấn đề đặt ra trước xã hội xô viết,
trước cải tổ.
Nội bộ Đảng, nhất là ở ban lãnh đạo cấp cao bắt đầu bộ lộ những quan điểm
chính trị khác nhau:

định phải tiến hành cải tổ hệ thống chính trị: “Cuộc cải cách kinh tế của chúng ta, việc
phát triển các quá trình dân chủ hoá và công khai, việc đổi mới lĩnh vực đạo đức tinh
thần, nghĩa là tất cả những gì chúng ta gắn với khái niệm cải tổ mang tính cách mạng
đều là các mắt khâu của một chuỗi xích. Chúng nằm trong mối quan hệ khăng khít và
phụ thuộc lẫn nhau. Chúng đòi hỏi khi đã bắt đầu cải tổ ở một mắt khâu nào đó thì
chúng ta phải tiếp tục cải tổ ở mắt khâu khác. Vì vậy, một cách hoàn toàn tự nhiên và
hợp lôgic, chúng ta giờ đây đã đi đến sự cần thiết phải cải tổ hệ thống chính trị của
chúng ta”. !
Đến tháng 6-7/1988, hội nghị toàn quốc lần thứ 19 Đảng Cộng sản Đông xô
quyết định tiến hành cải cách chính trị. Hội nghị toàn thể UBTWĐCSLX ngày
30/9/1988 tiến hành cải tổ bộ máy của Đảng cùng với việc tiếp tục thay đổi nhân sự:
V.Mét-vê-đép vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng CSLX và thay E-Li-ga-chốp phụ
trách công tác tư tưởng. Ngày 1/10/1988 Goóc-ba-chốp được bầu làm Chủ tịch đoàn
xô viết tối cao Đông Xô, thay A.Grô-mư-cô.
Ngày 26/3/1989, bầu cử 2250 đại biểu nhân dân Đông Xô trên cơ sở dân chủ, có
34 tỉnh uỷ không trúng cử. Nhiều nhân vật “cấp tiến” được bầu vào cơ quan quyền lực
nhà nước tối cao.
Và một sự kiện chưa từng có trong lịch sử, ngày 25/4/1989 hội nghị toàn thể
UBTWĐCSLX cho 110 uỷ viên Trung ương và Ban kiểm tra Trung ương Đảng Cộng
sản Đông Xô nghỉ hưu.
Các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng CSLX do đại hội 27 bầu lên đã bị thay
đổi hẳn.
Hội nghị toàn thể UBTWĐCSLX tháng 2/1990 ra nghị quyết tán thành bỏ điều 6
trong hiến pháp Đông Xô về sự lãnh đạo của Đảng CSLX đối với xã hội. Quyết định
triệu tập sớm Đại hội Đảng lần thứ 28, thông qua dù thảo cương lĩnh mới của Đảngcương lĩnh “Tiến tới CNXH nhân đạo, dân chủ”.
Trong nội bộ Đảng Cộng sản Đông Xô lúc này có hơn 20 dù thảo cương lĩnh của
các phe khác nhau, nổi hơn cả ngoài cương lĩnh “CNXH nhân đạo nhân dân chủ của
UBTWĐCSLX có hai cưỡng lĩnh khác là “cương lĩnh dân chủ” và “cương lĩnh phát
xít”.
Tháng 3/1990- Đại biểu nhân dân Đông Xô lần thứ hai quyết định sửa đổi điều 6

đây thiết tưởng cũng đã đủ để những người Đảng viên Cộng sản tạc dạ, ghi sâu mài
sắc quan điểm giai cấp công nhân, trau dồi lý tưởng xây dựng CNCS của mình, bằng
tài năng trí tuệ, tiềm lực của toàn quốc gia dân tộc, ra sức thu tóm trí thức thời đại; nỗ
lực hết sức của mình bảo vệ độc lập dân tộc, tự do dân chủ thực sự của nhân dân, làm
giàu cho mọi người, công bằng văn minh cho xã hội hôm nay và ngày mai.
Cuộc cách mạng XHCN vô cùng khó khăn không chỉ bởi sự nghiệp xây dựng
một xã hội mới XHCN là vô cùng khó khăn, phức tạp, mà còn bởi vì chủ nghĩa tư
bản, các thế lực đế quốc và phản động quốc tế không lúc nào ngừng chiến lược chống
Cộng chống CNXH. Chúng lợi dụng những khó khăn và đường lối sai lầm của Đông
Xô và các nước XHCN để đẩy mạnh chiến lược “DBHB” cực kỳ thâm độc, nguy
hiểm, can thiệp toàn diện vừa tinh vi vừa trắng trợ vào nội bộ các nước XHCN.
Chúng ta hãy đọc tiếp những dòng của Ních-xơn viết bàn về Gooc-ba-chốp; “ở
Đông Xô Gooc-ba-chốp bắt đầu những cải cách chủ yếu. Ông ta thả lỏng sự kiểm soát
đối với báo chí và gây nên một phong trào phê phán như lũ lụt đối với chế độ Xô viết.
Ông ta cho phép những cuộc bầu cử tự do từng phần, những cuộc bầu cử này đã đưa
đến những thảm bại nhục nhã của Đảng Cộng sản. Ông ta mở rộng một vài điều kiện


thuận lợi có tính chất hạn chế cho hoạt động kinh tế tư nhân, điều này tạo nên niềm hy
vọng về một tương lai phồn vinh hơn. Ông ta chấp nhận những thay đổi trong những
lập trường cổ hữu từ lâu trong chính sách đối ngoại; tại cuộc đàm phán về hiệp ước
tài giảm các vũ khí chiến lược, ông ta đã chấp nhận những sự cắt giảm sâu sắc trong
ưu thế to lớn của Mát-xcơ-va về vũ khí thông thường ở châu Âu và việc kiểm tra tại
chỗ trước đây chưa từng có đối với những kho dù trữ vũ khí chiến lược.
Quan trọng hơn là những thay đổi đó đã mau chóng được các phong trào chính
trị độc lập lấy đó làm xung lực đấu tranh của mình đòi hỏi Gooc-ba-chốp phải làm
sức ép mạnh mẽ hơn nữa đối với các cuộc cải cách” ! (39; Tr.7)
Đối với những người Cộng sản, đây là sự đánh mất những năm tháng lịch sử quý
hiếm của hơn 70 năm Đông bang Cộng hoà XHCN Xô-viết để CNĐQ và thế lực phản
động đã lợi dụng và tạo ra được. Thời giai và không gian đã ủng hộ chúng. Với các cá

hợp- lý luận mới thì chưa định hình, đang trong quá trình tìm tòi.


Lợi dụng thời cơ này thế lực đế quốc và phản động cụ thể hoá thành cuộc đấu
tranh làm cho quá trinhf “thiết kế” lý luận cải tổ và “thiết kế” mô hình mới trở thành
quá trình sao chép, tiếp nhận lý luận và mô hình xã hội của Phương Tây.
Tổng thống Mỹ G. Bush nói công khai vấn đề này rằng phải làm cho Đông Xô đi
cùng nhịp” với Phương Tây để cuối cùng là “chào đón Đông Xô trở lại với trật tự thế
giới tư bản chủ nghĩa” (22; Tr.55)
Các thế lực đế quốc và phản động quốc tế tung ra luận thuyết về sự không tương
dung giữa CNXH với dân chủ và phát triển.
Chúng khẳng định. Với hệ thống giá trị XHCN nền kinh tế bị triệt tiêu mất động
lực phát triển và trở thành “một con thuyền buồm không có gió” “với hệ thống chính
trị một Đảng thì không thể có dân chủ” (22; Tr. 56)
Đồng thời với luận thuyết trên, những kiến nghị được đưa ra đòi hỏi giải quyết
các vấn đề “dân chủ” và “phát triển”.
“Muốn phát triển kinh tế phải có thị trường tự do dựa trên cơ sở tư nhân hoá” chỉ
có cơ sở tư nhân mới tạo lập được lực cho phát triển kinh tế ! Muốn phát triển kinh tế
phải thực hiện dân chủ hoá xã hội ! bảo đảm nhân quyền ! Thực hiện nhà nước pháp
quyền : Muốn dân chủ phải có bầu cử tự do trên cơ sở đa đảng và thực hiện đa nguyên
chính trị”!
Tất cả những kiến nghị các phương án trên đây của chủ nghĩa đế quốc và phản
động quốc tế đối với Đông Xô và các nước XHCN khác, không có gì khác hơn là phải
chuyển các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện theo mô hình các nước Phương Tây- tư
bản chủ nghĩa !
Việc thực hiện chính sách “công khai” (glastnost) chủ yếu đã diễn ra dưới hình
thức phủ nhận quá khứ lịch sử, phủ nhận hệ thống giá trị xã hội của XHCN ở Đông
Xô.
Sự phê phán học thuyết Xta-lin đã nhanh chóng biến thành sự phê phán và phủ
nhận học thuyết Mác- Lênin, phủ nhận con đường XHCN.

thành gồm bộ phận tích cực trong mặt trận nhân dân, hoặc trên cơ sở phục hồi các
Đảng đã có từ trước khi thành lập chính quyền Xô- viết.
Thành viên làm cốt cán, cơ sở xã hội của các Đảng giấy lên hoạt động thời kỳ
này là tầng lớp trí thức và ở các cấp bên dưới- trong cơ cấu tổ chức, đa số thanh niên;
Sộ lượng đảng viên của các Đảng “chỉ khoảng từ 100 đến 1000 người của mỗi Đảng”.
(28; tr.26)
Cùng với việc bầu cử đại biểu nhân dân Đông Xô (26/3/1989) đã thúc đẩy mạnh
mẽ sự hình thành một tình hình chính trị phức tạp ở Đông Xô.
Từ các nước Trung á, kết quả các cuộc bầu cử đã diễn ra như dù diễn ra hàng
chục năm nay còn khắp nơi khác cử tri đi bỏ phiếu cho những nhân vật “có tiếng tăm”
như En-xin. Giơ-đơ-li-an, I-va-nốp, A-pha-na-xép. Trung bình ở mỗi khu vực bầu cử
ở Nga có một đại biểu của mặt trận nhân dân trúng cử.
Năm 1989, các lực lượng chính trị mới ở Nga, về mặt tổ chức chưa thu được
thành tích gì đáng kể mặc dù đã hình thành nhóm đại biểu Đông khu vực. Riêng về
mặt tư tưởng, năm 1989 đã có bước dịch chuyển nhất định từ quan niệm chủ nghĩa xã
hội dân chủ sang các giá trị tự do và dân chủ nói chung. Tầng lớp trí thức là cơ sở xã
hội duy nhất của các Đảng phái và tổ chức chính trị mới.
Cuộc bầu cử đại biểu nhân dân và đại biểu xô viết tối cao các nước cộng hoà
tháng 3/1991 các Đảng dân chủ, dân chủ tự do; dân chủ lập hiến; xã hội chủ nghĩa;
dân chủ- xã hội; dân chủ thiên chúa giáo (hình thành mùa xuân- hè năm 1989) chỉ
dành được 1 đến 2 ghế đại biểu.
Những khối “nước Nga dân chủ” tập hợp xung quanh nhóm đại biểu Đông khu
vực và ứng cử viên En-xin đã dành được 1/4 ghế đại biểu số phiếu đạt khoảng 250 đại
biểu ở Nga.
Trong các cuộc bầu cử Đảng Cộng sản Đông Xô đã thể hiện, bộc lộ là một lực
lượng không thống nhất. Quá trình mục ruỗng từ bên trong Đảng CSLX thực sự đã
bùng lên từ đầu 1990, khi diễn ra hội nghị đầu tiên của cương lĩnh dân chủ tại Matxcơ-va. Ban lãnh đạo của cương lĩnh dân chủ có một số thủ lĩnh của nhóm đại biểu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status