TÀI LIỆU THAM KHẢO TRIẾT học PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật và TRÌNH độ ĐỈNH CAO của PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu - Pdf 38

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT: TRÌNH ĐỘ ĐỈNH CAO CỦA PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1. QUAN NIỆM CỦA MÁC VÀ ĂNGGHEN
Phép biện chứng duy vật là phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi
nhất trong việc hoàn thành công trình khoa học đỉnh cao. Phép biện chứng là gì, và
đó là công cụ để giúp nhà nghiên cứu hoàn thành công trình khoa học như thế nào?
Không có cách nào tốt hơn là trích dẫn dài các luận điểm của các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác-Lênin, sắp xếp thành hệ thống để mỗi người có thể tự rút ra những
điều bổ ích cho chính mình.
Lênin nhận xét: "Marx không để lại cho chúng ta "Lô-gích học" (với chữ L.
viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta lô-gích của "Tư bản", và cần phải tận dụng
đầy đủ nhất lô-gích đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong
"Tư bản", Mác áp dụng lô-gích, phép biện chứng và lý luận nhận thức [không cần
ba từ: đó là cùng một cái duy nhất] của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy
nhất; mà chủ nghĩa duy vật đã lấy ở Hê-ghen tất cả cái gì có giá trị và phát triển
thêm lên" (V. I. Lênin. Toàn tập, Tập 29, nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1981,
trang 359-360).
Chúng ta hãy xem xét "công cụ lao động tốt nhất" và là "vũ khí sắc bén nhất"
của Mác và Ăng-ghen: phép biện chứng duy vật chủ nghĩa.
"ở Hê-ghen, sự phát triển biện chứng biểu hiện trong giới tự nhiên và trong
lịch sử,tức là mối liên hệ nhân quả của sự vận động tiến lên từ thấp đến cao
thông qua tất cả những sự vận động chữ chi và những bước thụt lùi tạm thời,chỉ
là sự sao chép lại sự tự vận động của ý niệm, một sự tự vận động diễn ra vĩnh viễn,
không biết ở đâu, nhưng dù sao cũng độc lập đối với mọi bộ óc đang tư duy của
con người. Sự xuyên tạc mang tính chất tư tưởng ấy là cái cần phải gạt bỏ. Chúng
tôi lại trở về với quan điểm duy vật và thấy rằng những ý niệm trong đầu óc của
chúng ta là những phản ánh của sự vật hiện thực, chứ không xem những sự vật
hiện thực là những phản ánh giai đoạn này hay giai đoạn khác của ý niệm tuyệt
đối. Do đó, phép biện chứng được quy thành khoa học về các quy luật chung của
sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy con người,với hai loại




một khoa học sưu tập, một khoa học về các vật nhất thành bất biến, thì trong thế kỷ
của chúng ta, khoa học tự nhiên, về thực chất, đã trở thành một khoa học hệ thống
hoá, khoa học về các quá trình, về sự phát sinh và sự phát triển của các sự vật đó
và về mối liên hệ gắn bó các quá trình đó của tự nhiên thành một chỉnh thể lớn" (C.
Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 21, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật,
Hà Nội 1995, trang 431-432).
Vào cuối nửa sau thế kỷ mười chín thì các quá trình đã trở thành đối tượng
nghiên cứu của khoa học và khoa học đã phát triển các công cụ, các phương pháp
để có thể nghiên cứu được các quá trình, nghiên cứu mối liên hệ gắn bó của các
quá trình của tự nhiên và điều đó đã cải biến quá trình tư duy của nhân loại khi bao
quát được các quá trình rộng lớn của tự nhiên thành một chỉnh thể lớn. Khoa học
đã tiến triển đến trình độ mới. Khoa học của thế kỷ 20 là khoa học nghiên cứu
đằng sau các quá trình là những cái gì, điều gì đã tạo nên các quá trình, nghiên cứu
về sự hình thành và phát triển của các quá trình. Khoa học thế kỷ hai mốt vạch ra
được các đối tượng hoàn toàn mới của mình là các cái phi vật thể, mà các nhánh
của chúng có sự hình thành các quá trình, sự hình thành nên những đối tượng phi
vật thể mới chưa từng được biết đến.
Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác Lênin không những vạch ra phải làm gì,
mà còn làm như thế nào, và thành quả đạt được phải phù hợp với thực tiễn.
Nghiên cứu là gì? Chúng ta hãy nghiên cứu các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác-Lênin nói về nghiên cứu.
Mác chỉ ra tiến trình nghiên cứu đối tượng phi vật thể như thế nào. Trong thời
của Mác, khi xã hội thừa nhận rằng cái bên trong có vai trò chi phối các tiến trình
thì người ta mới có khả năng phát hiện ra được những cái gì là bên trong, mới có
thể tìm kiếm những thứ mà thực chất là các cái phi vật thể, nhận diện chúng, làm
rõ chúng, và công nhận rằng đó là việc làm có ý nghĩa, có giá trị. Trình độ phát
triển của văn minh đã đưa đến những kết luận như vậy. Mác đã thể hiện các phát
hiện của ông trong những tác phẩm thiên tài bạt ngàn lý luận, ở đấy ông đã đưa ra

để một nghiên cứu thành công hay thất bại. Cả bộ Tư bản của Mác làm điều đó mà
điều trung tâm là sự phát hiện ra giá trị thặng dư. Bằng việc làm cụ thể Mác đã thị
phạm cho người đọc thấy được phải làm gì để đạt được các kết quả đó, nhưng đây


lại là điều quá khó khăn để có thể theo được Mác. Bertrand Russell đã nói trong tác
phẩm "Power" (Quyền lực): "Hiểu Mác là điều vô cùng khó khăn" (Bertrand
Russell, Quyền lực, người dịch: Nguyễn Vương Chấn, Đàm Xuân Cận, nhà xuất
bản Hiện đại, Sài Gòn 1972, trang 159). Hiểu được bộ Tư bản của Mác là một điều
không dễ dàng, thậm chí là điều cực kỳ khó khăn. Lênin đã nói làm thế nào để hiểu
được bộ Tư bản của Mác: "Cách ngôn: không thể hoàn toàn hiểu được "Tư bản"
của Mác và đặc biệt là chương I của sách đó, nếu chưa nghiên cứu kỹ và chưa hiểu
toàn bộ lôgich của Hê-ghen. Vậy là sau Mác 1/2 thế kỷ, không một người Mácxít
nào đã hiểu Mác!!" (V. I. Lênin, Toàn tập, Tập 29, Bút ký triết học, Nhà xuất bản
Tiến bộ, Mat-xcơ-va, năm 1981, trang 190).
Câu nói này của Lênin có ý nghĩa triết học to lớn, thể hiện những điều tiềm ẩn
của sự phát triển lý luận. Làm thế nào để mô tả sự vận động thực tế? Khi làm được
những việc trên thì thấy được động thái phát triển của vận động thực tế. Chỉ sau
khi hoàn thành công việc đó rồi mới có thể mô tả sự vận động thực tế một cách
thích đáng được, tức là lúc này mới có thể trình bày đối tượng được. Sự trình bày
đối tượng không phải là duy nhất mà tuỳ theo trình độ nhận thức đã đạt được.
Một khi đã làm được như thế và khi đời sống của vật liệu đã được phản ánh
trong ý niệm rồi, thì người ta có thể tưởng đó là một kết cấu tiên nghiệm. Tức là
khi đó đã có một bước nhảy vọt trong tư duy về đối tượng. Đó là sự đột phá trong
nhận thức: một cái hoàn toàn mới xuất hiện, là sự phát hiện ra được cái hoàn toàn
mới, và hơn nữa đây là một tiến trình tự động của tư duy.
Đặc biệt trong tác phẩm Tư bản, Mác đã sử dụng phương pháp phân tích mà
chưa dùng trong lĩnh vực kinh tế.
"Phương pháp phân tích mà tôi đã dùng và chưa bao giờ được áp dụng vào
các vấn đề kinh tế, sẽ làm cho việc đọc các chương đầu khá khó khăn, và tôi sợ

thì người đọc cần phải có mong muốn học hỏi một cái gì mới và có suy nghĩ độc
lập, tức là có khả năng nhận biết được cái cũ, phân biệt cái mới đối với cái cũ, và
tự mình tạo nên suy nghĩ của riêng mình. Người đọc cần có những phẩm chất cá


nhân nào đó thì mới thấy những nội dung trong sách, ngoài phần nói về hình thái
giá trị, nhưng để hiểu được hình thái giá trị, người ta phải có trí tuệ khác thường.
"Trừ phần nói về hình thái giá trị, quyển sách này không có gì là khó hiểu cả.
Tất nhiên, ở đây tôi muốn nói đến những bạn đọc nào mong muốn học hỏi một cái
gì mới, và do đó, mong muốn độc lập suy nghĩ" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn
tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 16).
Chúng ta xem Mác đã làm được những gì. Công cụ để nắm bắt được cái phi
vật thể là gì? Là chính năng lực đặc biệt của tư duy con người là sức trừu tượng
hoá. Mác đã lưu ý vai trò của những cái thoạt tưởng là nhỏ nhặt nhưng lại đặt nền
tảng cơ sở cho toà nhà khoa học của lĩnh vực đó, chứ không phải là những điều to
tát. Thấy được ý nghĩa của cái nhỏ nhặt là biểu hiện của trí tuệ lớn.
"Vì nghiên cứu một cơ thể đã phát triển thì dễ hơn là nghiên cứu tế bào của cơ
thể đó. Ngoài ra khi phân tích những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng
kính hiển vi hay những chất phản ứng hoá học được. Sức trừu tượng hoá phải thay
thế cho cả hai cái đó. Nhưng hình thái hàng hoá của sản phẩm hay hình thái giá trị
của hàng hoá lại là hình thái tế bào kinh tế của xã hội tư sản. Đối với người không
am hiểu thì việc phân tích hình thái đó hình như chỉ là một sự suy luận hão xoay
quanh những điều nhỏ nhặt. Và đó quả thật là những điều nhỏ nhặt, nhưng lại là
những điều nhỏ nhặt, thuộc loại mà khoa vi giải phẫu, chẳng hạn, phải đụng đến"
(C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội 1993, trang 16).
Hình thái đơn giản lại hàm chứa tất cả các bí mật của sự phát triển về sau và
rất khó khăn để phân tích cái đơn giản đó.
"Bí mật của mọi hình thái giá trị đều nằm ở trong hình thái đơn giản đó của
giá trị. Cho nên điều khó khăn chính là việc phân tích hình thái này" (C. Mác và

coi khinh Hê-ghen  giống như gã Mô-de-xơ Men-đen-xôn thời Lét-xinh có lúc
coi khinh Xpi-nô-da  là "đồ chó chết". Vì thế, tôi đã công khai tự nhận là học trò
của nhà tư tưởng vĩ đại ấy, và thậm chí trong chương nói về học thuyết giá trị, đôi
khi tôi còn làm duyên làm dáng học đòi cái lối diễn đạt đặc biệt của Hê-ghen nữa.
Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hê-ghen tuyệt nhiên
không ngăn cản Hê-ghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và


có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy. Ở Hê-ghen,
phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện
được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí" (C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993,
trang 35).
Bản chất của phép biện chứng là sự sáng tạo. Trong tác phẩm "Khoa học lôgích", một tác phẩm vô song về phép biện chứng, Hê-ghen nói rằng "Học thuyết về
tồn tại" và "Học thuyết về bản chất" chưa có các công trình trước đấy, nhưng "Học
thuyết về khái niệm" đã có những công trình trước đấy mà đó là những vật liệu khô
cứng, cần phải làm cho sinh động.
Có những việc mà người ta chưa bao giờ thử làm cả, vì thế không thấy được
thực chất của nó là gì, mà cũng không dễ làm những công việc đó khi người ta
không có quan điểm và tầm nhìn đủ sâu xa để làm việc đó. Làm được như vậy sẽ
làm sáng rõ điều bí ẩn, phát hiện ra được cái mới, và cần đến tính hợp lý trong các
công cụ. Mác đặt ra những vấn đề hoàn toàn mới, làm những việc mà chưa ai từng
làm.
"Bây giờ, chúng ta cần phải làm một việc mà ngay cả khoa kinh tế chính trị
học tư sản cũng chưa bao giờ thử làm cả, cụ thể là chỉ rõ sự phát sinh của hình thái
tiền đó, nghĩa là theo dõi sự phát triển của biểu hiện giá trị nằm ở trong mối quan
hệ giá trị của các hàng hoá, từ hình thái đơn giản nhất và ít thấy rõ nhất của nó cho
đến hình thái tiền chói lọi. Làm được như thế thì cái tính chất bí ẩn của tiền cũng
sẽ mất đi" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 80-81).
Vấn đề chủ yếu là phải thấy được cái thực chất, chứ không phải là trình độ

tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người: cái sự thật đơn giản đã bị những
tầng tầng lớp lớp tư tưởng phủ kín cho đến ngày nay là: con người trước hết cần
phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật,
tôn giáo và v.v. được; vì vậy việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực
tiếp và chính, mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay
một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước,
các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo
của con người ta, cho nên phải xuất phát từ cơ sở đó mà giải thích những cái này,
chứ không phải ngược lại, như từ trước đến nay người ta đã làm.


"Nhưng không phải chỉ có thế thôi. Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại và của xã hội tư sản do
phương thức đó đẻ ra. Với việc phát hiện ra giá trị thặng dư trong lĩnh vực này thì
lập tức một ánh sáng đã hiện ra trong khi tất cả các công trình nghiên cứu trước
đây của các nhà kinh tế học tư sản cũng như của các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa
vẫn đều mò mẫm trong bóng tối.
"Hai phát minh như vậy đối với một đời người cũng là đủ rồi. Người nào mà
có được một phát minh như vậy thì hẳn là đã hạnh phúc lắm rồi! Nhưng, Mác đã
có những phát minh khác hẳn nhau trong mỗi lĩnh vực mà ông đã nghiên
cứu  thậm chí cả trong lĩnh vực toán học,  ông đã nghiên cứu nhiều lĩnh vực
như thế, nhưng không một lĩnh vực nào ông nghiên cứu hời hợt cả.
"Con người của khoa học là như vậy đó. Nhưng điều đó hoàn toàn không phải
là điều chủ yếu ở Mác. Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực
lượng cách mạng. Mỗi phát minh mới trong bất cứ một khoa học lý luận nào mà
thậm chí, đôi khi việc ứng dụng nó vào thực tế người ta chưa thể nhìn thấy ngay
được thì đã có thể đem lại cho Mác một niềm vui thực sự như thế nào rồinhưng
niềm vui của ông còn hoàn toàn khác nữa, khi đó là một phát minh có ảnh hưởng
cách mạng ngay đến công nghiệp, đến sự phát triển lịch sử nói chung. Chẳng hạn
Mác đã chú ý theo dõi rất kỹ sự phát triển của các phát minh về điện và gần đây

nhìn sáng suốt của Mác thể hiện trong lĩnh vực lý luận, lĩnh vực chiến lược và các
hoạt động thực tiễn.
Mác tìm ra được cái mới đó là vì Mác có những phẩm chất cá nhân đặc biệt.
Các phẩm chất đó làm cho Mác đứng cao hơn, nhìn xa hơn, rộng hơn và nhanh hơn
tất cả mọi người trong thời đại của ông trong các lĩnh vực khoa học mà ông nghiên
cứu, trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn của ông. Mác là một thiên tài.
Để tìm ra được cái mới, phải nâng cao trình độ của sức trừu tượng hoá, phải
tìm ra được phương pháp phân tích mới, và nếu đó là phương pháp mà chưa ai sử
dụng bao giờ thì có nhiều cơ may tìm ra cái mới thành công. Chính vì Mác là
người luôn luôn tìm ra những điều mới, nên Mác đã đạt được phép biện chứng duy
vật.
"Ở Marx, có vô số những điều mới, và Mác chỉ chú ý đến sự vận động tiến
lên từ Hê-ghen và Phơ-bách và vượt qua cả hai người, từ phép biện chứng duy


tâm đến phép biện chứng duy vật" (V. I. Lênin. Toàn tập, Tập 29, nhà xuất bản
Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1981, trang 363).
Mác viết bộ Tư bản trong cảnh khốn quẫn, nếu không có sự trợ giúp tài chính
của Ăngghen thì ông sẽ không còn tiền để thuê nhà, không còn phương tiện để sinh
sống.
Bộ Tư bản là bộ sách không thể đọc nhanh được, và người ta phải đọc đi đọc
lại nhiều lần mới hy vọng hiểu được phần nào. Mỗi thế hệ luôn luôn thấy được
những điểm mới của bộ Tư bản. Khi các cái phi vật thể trở thành mối quan tâm
chung của xã hội hiện đại thì người ta thấy bộ Tư bản lại mở ra những chân trời
mới. Mỗi khi đạt được trình độ nhận thức mới về tự nhiên và xã hội, đọc lại bộ Tư
bản thì lại thấy được những điều mới mẻ. Đó là điều cần thiết nhất mà một tác
phẩm thiên tài luôn luôn đem lại sức sống mới cho sự phát triển của trí tuệ. Tác
phẩm thiên tài trang bị cho người ta vô số tri thức, hơn thế nữa, trang bị cho người
ta cách tạo ra được những tri thức mới.
Khi Mác nhận xét: "Hàng hoá trước hết là vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ

cụ thể.
"Thoạt mới nhìn thì hàng hoá có vẻ là một vật rất đơn giản và tầm thường. Sự
phân tích hàng hoá lại cho thấy rằng nó là một vật rất rắc rối, đầy những sự tế nhị
siêu hình và những sự kỳ quái thần học. Là một giá trị sử dụng thì nó chẳng có gì
là bí hiểm cả, dù cho ta có xét nó về mặt là nhờ các thuộc tính của nó, nó thoả mãn
được những nhu cầu của con người, hay là xét về mặt nó có được những thuộc tính
đó chỉ vì nó là sản phẩm lao động của con người. Dĩ nhiên ai cũng hiểu rằng với
hoạt động của mình, con người biến đổi hình thái của các thực thể của tự nhiên
theo cách có ích cho họ. Ví dụ, hình thức của gỗ thay đổi nếu ta lấy gỗ làm một cái
bàn. Nhưng tuy vậy, cái bàn vẫn là gỗ, một vật thông thường mà người ta có thể
biết được thông qua các giác quan. Nhưng một khi nó trở thành hàng hoá, thì nó lại
biến thành một vật vừa có thể biết được nhờ giác quan, lại vừa không thể biết được
qua giác quan. Không những nó đứng trên mặt đất bằng chân, mà còn đứng lộn
ngược đầu xuống đất trước mặt tất cả các hàng hoá khác, và cái đầu gỗ đó của nó
lại đẻ ra những ý kiến kỳ quái, còn lạ lùng hơn là khi nó tự động đứng lên nhảy
múa nữa" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 113-114).
Phải nhận diện đúng cái phi vật thể sinh ra từ đâu.


"Như vậy tính thần bí của hàng hoá không phải do giá trị sử dụng của nó sinh
ra. Tính thần bí đó cũng không phải do nội dung những tính quy định của giá trị
sinh ra" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 114).
"Thế thì tính chất bí ẩn của sản phẩm lao động khi sản phẩm ấy bắt đầu mang
hình thái hàng hoá, do đâu mà có? Rõ ràng là do chính bản thân hình thái ấy. Tính
bình đẳng của các loại lao động khác nhau của con người lại mang hình thái vật có
tính vật thể giống nhau của giá trị của những sản phẩm lao động; thước đo các chi
phí về sức lao động của con người bằng độ dài của các chi phí ấy lại mang hình
thái đại lượng giá trị của các sản phẩm lao động; cuối cùng, những mối quan hệ

nhau về mọi mặt với tư cách là những khâu của sự phân công lao động xã hội tự
phát luôn luôn được quy thành thước đo xã hội của chúng một cách tỷ lệ. Cần phải
có một nền sản xuất hàng hoá hoàn toàn phát triển để cho nhận thức khoa học ấy
xuất hiện, bởi vì trong những quan hệ trao đổi ngẫu nhiên và thường xuyên biến
động giữa các sản phẩm của những lao động ấy, thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất ra các sản phẩm ấy chỉ dùng bạo lực để tự mở đường cho mình với tư
cách là một quy luật tự nhiên có tác dụng điều tiết, cũng giống như quy luật trọng
lực làm cho người ta biết đến nó khi chiếc nhà sụp đổ xuống đầu mình. Vì thế, việc
quy định đại lượng của giá trị bằng thời gian lao động là một điều bí mật ẩn giấu
đằng sau sự vận động có thể thấy được của giá trị tương đối của các hàng hoá.
Việc khám phá ra điều bí mật ấy xoá bỏ được cái ảo ảnh cho rằng hình như đại
lượng của giá trị của sản phẩm lao động được quy định một cách thuần tuý ngẫu
nhiên, nhưng việc ấy tuyệt nhiên không xoá bỏ được cái hình thái vật thể của sự
quy định đại lượng của giá trị" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 119-120).
Muốn thực sự đạt được kết quả thì tiến trình nghiên cứu phải đi từ đâu?
Những khó khăn đặt ra trong tiến trình nghiên cứu khi muốn dựng lại điều thực sự
chi phối:
"Nói chung, sự suy nghĩ về những hình thái của đời sống con người, và do đó,
việc phân tích khoa học những hình thái đó, đi theo một con đường hoàn toàn
ngược lại với sự phát triển thực tế. Việc nghiên cứu đó bắt đầu post festum [sau khi
sự việc đã diễn ra], và vì vậy nó bắt đầu với những kết quả đã có sẵn của quá trình
phát triển. Những hình thái in con dấu hàng hoá lên trên các sản phẩm lao động, và
vì vậy là những tiền đề của lưu thông hàng hoá, đã có tính vững chắc của những


hình thái tự nhiên của đời sống xã hội trước khi con người tìm hiểu  không phải
tính chất lịch sử của những hình thái đó, vì đối với con người thì các hình thái đó
trái lại đã mang một tính chất bất di bất dịch rồi  mà chỉ tìm hiểu nội dung của nó
mà thôi. Như vậy là chỉ có sự phân tích giá cả các hàng hoá mới dẫn đến việc xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status