XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỀ CHÍNH TRỊ
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Mục lục
Chương 1.
1.1.
1.2.
Chương 2.
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.
Mở đầu
Đặc điểm, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ và quá
trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị
Đặc điểm, tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ
Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về
chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Những bài học kinh nghiệm xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Bài học thứ nhất: Thường xuyên
Bài học thứ hai: Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt
đối, trực tiếp, toàn diện của đảng đối với quân đội
Bài học thứ ba: Thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ
cán bộ quân đội, đội ngũ chính ủy, chính trị viên
Bài học thứ tư: Phát huy vai trò của hệ thống chính trị,
của nhân dân cả nước căm lo xây dựng quân đội về
chính trị
Bài học thứ năm: Thực hiện tốt công tác chính sách đối
mạng được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện.
Nghiên cứu tổng kết xây dựng quân đội về chính trị trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào xây dựng quân
đội vững mạnh về chính trị trong điều kiện mới, nhất là trong thời điểm đang
triển khai thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về
việc hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy
gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt
Nam” mang tính cấp thiết. Vì vậy, đề tài “Tổng kết xây dựng quân đội nhân dân
Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” có ý nghĩa thiết thực
về lý luận và thực tiễn, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công
bố.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kể từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến nay đã có
nhiều công trình nghiên cứu, cuốn sách viết về cuộc kháng chiến thần thánh của
dân tộc, về Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc
Mỹ xâm lược. Một số sách, công trình nghiên cứu trong số đó: Tổng kết công tác
đảng, công tác chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975,
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 1990; Tổng kết cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học kinh nghiệm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1995; Đảng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quân đội về chính trị trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Biên niên sự kiện, Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, Hà Nội 1999; Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong
Quân đội nhân dân Việt Nam 1944–2000, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà
Nội 2000; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác chính trị trong quân đội,
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 1997; Tác
động của những biến đổi kinh tế - xã hội ở nước ta đến xây dựng Quân đội nhân
dân Việt Nam về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới, Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân, Hà Nội 2000; Tổng kết 60 năm xây dựng bản chất giai cấp công nhân,
về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Phạm vi nghiên cứu. Những quan điểm, nội dung, hình thức, biện pháp
xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, từ năm 1954 đến năm 1975.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về chiến tranh và quân đội; tư tưởng quân
sự Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến
tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân
dân.
Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ được phản ánh trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng;
các bài viết của các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các tướng lĩnh của
quân đội và các công trình nghiên cứu, các tổng kết và các sách, tài liệu lưu trữ đã
được công bố.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Phân tích – tổng hợp, lịch sử - lôgíc, thống kê,
tổng kết thực tiễn, phân tích tài liệu và số liệu.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn kết quả nghiên cứu của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, khái quát
những bài học kinh nghiệm xây dựng quân đội về chính trị trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, làm cơ sở để vận dụng vào xây dựng quân đội vững
mạnh về chính trị trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu khoa học, giảng dạy các bộ môn khoa học xã hội nhân văn quân sự ở
các học viện, nhà trường quân đội; tài liệu tham khảo cho cán bộ ở đơn vị cơ sở
trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, vững mạnh
Bảo Đại ở miền Nam. Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Tổng
thống Mỹ aixenhao công khai tuyên bố: Hoa Kỳ không bị các điều khoản của
Hiệp định Giơnevơ ràng buộc. Ngày 8-8-1954, Hộị đồng An ninh quốc gia Mỹ
(NSC) do Aixenhao chủ trì đã quyết định gạt bỏ thực dân Pháp, xâm lược Việt
Nam bằng Quyết định NSC số 5429/2, khẳng định Mỹ trực tiếp viện trợ cho
Ngụy quyền Sài Gòn, không qua tay Pháp; Pháp chỉ được viện trợ 100 triệu đô
la trong tổng số 400 triệu viện trợ của Mỹ cho miền Nam và phải rút hết quân ở
miền Nam; loại bỏ Bảo Đại, ủng hộ Ngô Đình Diệm. Ngày 8-9-1954, Mỹ lôi
kéo các nước Pháp, Anh, ôxtrâylia, NiuDilân, Philippin, Thái lan và Pakixtan
lập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam á”(SEATO) và ngang nhiên đặt miền
Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Tháng 9-1954, Chính phủ Mỹ
quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Ngày 19-12-1954, Pháp ký
hiệp ước trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm. Sau
khi đã tiêu diệt, loại bỏ các lực lượng đối lập thân Pháp, dựa vào sự ủng hộ của
Mỹ, ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” để
phế truất Bảo Đại, lên làm Tổng thống. Ngày 4-3-1956, Ngô Đình Diệm tiến
hành bầu cử “quốc hội” riêng rẽ ở miền Nam, ngày 26-10-1956 công bố “Hiến
pháp Việt Nam Cộng hoà” công khai vi phạm Hiệp định Giơnevơ. Thông qua hệ
thống cố vấn và viện trợ, đế quốc Mỹ nuôi dưỡng chính quyền Ngô Đình Diệm,
ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp khốc liệt phong trào yêu nước của
nhân dân miền Nam.
Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là tiêu diệt
bằng được phong trào yêu nước và phong trào cách mạng, thôn tính miền Nam,
chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ
quân sự của Mỹ; lập một phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan tràn
xuống Đông Nam á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao
vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam trở thành một nơi thử thách
sức mạnh và uy tín của đế quốc Mỹ như chính giới cầm quyền của Mỹ đã thừa
thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai
Ngô Đình Diệm. Phong trào “Đồng Khởi” đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt
của cách mạng miền Nam chuyển từ giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
Giai đoạn 1961- 1965
Đế quốc Mỹ tiến hành “chiến tranh đặc biệt” nhằm đàn áp phong trào nổi
dậy đã phát triển rộng khắp thành chiến tranh du kích ở miền Nam. Thi hành
chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ sử dụng quân đội ngụy quyền Sài Gòn
làm lực lượng chủ yếu trên chiến trường, cung cấp vũ khí trang bị, kỹ thuật quân
sự, cung cấp tài chính và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn từ trung ương đến tỉnh,
đặc khu, các sư đoàn và tiểu đoàn.
Biện pháp của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là hành quân càn quét, gom
dân lập ấp chiến lược nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, từ giữa năm
1961 đến hết năm 1962 (kế hoạch Stalây - Taylo) và sau đó là kế hoạch bình định
miền Nam trong 2 năm 1964, 1965 (kế hoạch của Giônxơn - Mắc Namara). Chúng
xác định mục tiêu sẽ lập 16 nghìn trong tổng số 17 nghìn ấp chiến lược trên toàn
miền Nam.
Chiến lược “chiến tranh đặc biệt ” được Mỹ - Diệm xác định đồng thời thực
hiện ba mục tiêu chiến lược cơ bản đó là: tìm diệt bộ đội chủ lực và cơ sở cách
mạng; bình định để nắm dân; phá hoại miền Bắc bằng biệt kích và phong toả biên
giới, vùng biển để ngăn chặn chi viện của miền Bắc. Trong đó, bình định để nắm
dân được coi là là mục tiêu chủ yếu, biện pháp chiến lược trung tâm, xuyên suốt,
tìm diệt là biện pháp hỗ trợ cho bình định đạt hiệu quả.
Thực hiện chiến lược trên, Mỹ đã viện trợ ồ ạt cho chính quyền Ngô Đình
Diệm, đưa vào miền Nam lực lượng cố vấn quân sự và lực lượng hỗ trợ chiến
đấu. Chính quyền Diệm ra sức bắt lính, làm cho lực lượng quân ngụy tăng
nhanh từ 170.000 tên (giữa năm 1961) lên 560.000 tên (cuối năm 1964). Quân
ngụy được trang bị vũ khí hiện đại của Mỹ và thực hiện chiến thuật mới: “trực
thăng vận”, “thiết xa vận”; được sự hỗ trợ chiến đấu và chỉ huy của cố vấn Mỹ,
biệt”, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh và chư hầu cùng với vũ khí, trang bị,
phương tiện chiến tranh vào miền Nam, chủ trương chuyển sang chiến lược “chiến
tranh cục bộ” ở miền Nam nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, đồng thời tiến
hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Tính
đến cuối năm 1965 số quân Mỹ và chư hầu được đưa vào miền Nam lên tới 20 vạn,
trong những năm sau đó lúc cao nhất quân số xấp xỉ nửa triệu tên.
Trong “chiến tranh cục bộ”, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “hai gọng kìm”:
“tìm diệt” quân chủ lực cách mạng và “bình định” nhằm trước hết giành lại nông
thôn, ổn định hậu phương, tranh thủ quần chúng nhất là nông dân. Thực hiện chiến
lược “hai gọng kìm” chúng đã liên tiếp mở các cuộc tiến công chiến lược mùa khô
1965-1966 và mùa khô 1966- 967. Với những cuộc hành quân lớn chúng hy vọng
sẽ tiêu diệt lực lượng cách mạng, xé nát căn cứ kháng chiến, xoay chuyển tình thế
trên chiến trường trong một thời gian ngắn.
Ngày 5-8-1964 đế quốc Mỹ dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, lấy cớ tiến
hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc, nhằm
ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam, phá hoại công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, lay chuyển quyết tâm chống Mỹ
của nhân dân hai miền Nam, Bắc nước ta.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân hai miền Nam, Bắc đã giáng cho
địch những đòn thất bại nặng nề. ở miền Nam, với quyết tâm “quyết chiến,
quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” quân và dân Miền Nam đã anh dũng đánh quân
Mỹ. Với chiến thắng trận Núi Thành (Quảng Đà, 5–1965); trận Vạn Tường
(Quảng Ngãi, 8–1965) đã chứng tỏ khả năng đánh thắng quân Mỹ của quân và
dân ta và mở đầu cho cao trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trong hai
mùa khô 1965–1966, 1966-1967 quân và dân ta đã đập tan các cuộc phản công
chiến lược của Mỹ ở khu V và miền Đông Nam Bộ, tiến hành Tổng tiến công và
nổi dậy mùa Xuân 1968 trên toàn miền Nam, ngay tại sào huyệt của chúng ở Sài
Gòn. Với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã
tranh phá hoại miền Bắc.
Ngày 6-6-1969 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt
Nam được thành lập. Vừa mới ra đời Chính phủ cách Mạng Lâm thời Cộng hoà
miền Nam Việt Nam đã được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan
hệ ngoại giao.
Trong 2 năm 1970, 1971 quân và dân và dân ba nước Đông Dương đã đoàn
kết đánh bại các cuộc hành quân xâm lược Campuchia và Lào của Mỹ. Khắp
miền Nam phong trào đấu tranh phát triển rầm rộ. Đến đầu năm 1971 cách mạng
giành quyền làm chủ thêm 3.600 ấp, với 3 triệu dân. Tháng 3-1972 quân và dân
ta mở các chiến dịch khắp chiến trường miền Nam. Sau 3 tháng đã loại khỏi
vòng chiến đấu hơn 20 vạn quân ngụy, giải phóng những vùng đất đai rộng lớn
với hơn 1 triệu dân.
Trước thất bại ở miền Nam, tháng 5-1972 Nixon ra lệnh thả mìn phong toả
bờ biển và các sông, ngòi ở miền Bắc. Quân và dân miền Bắc đã anh dũng chiến
đấu, từ tháng 4 đến tháng 9-1972 đã bắn rơi hơn 500 máy bay Mỹ, bắt sống
nhiều giặc lái. Trong đợt tập kích chiến lược 12 ngày đêm bằng B52 của chúng
vào Hà nội và Hải Phòng (12-1972) quân và dân Miền Bắc đã bắn hạ 81 máy
bay, trong đó có 34 máy bay B52, 5 F111, lập nên chiến công “Điện Biên Phủ”
trên không.
Với thắng lợi trên cả 2 miền Nam, Bắc ngày 27-1-1973 Mỹ buộc phải ký
Hiệp định Pari, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân về nước trong vòng 2 tháng, cam kết không
dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ vủa Việt Nam. Thắng lợi
của Hiệp định Pari là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài và anh dũng của
quân và dân ta, mở ra một thời kỳ mới, tạo điều kiện xây dựng lực lượng về mọi
mặt để tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.
Giai đoạn 1973 - 1975
Mặc dù buộc phải ký Hiệp định Pari và phải rút quân về nước, nhưng đế quốc
Mỹ vẫn cố bám lấy miền Nam, tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến
thống xã hội chủ nghĩa đã có bước phát triển vượt bậc cả về thế và lực, trở thành
hệ thống thế giới hùng mạnh, là thành trì của hoà bình thế giới tạo ra so sánh
tương quan lực lượng có lợi cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong
trào công nhân, phong trào cách mạng thế giới.
Năm 1955 Liên Xô đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ năm xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Năm 1957 Liên Xô sản xuất được tên lửa vượt đại châu và
phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên, mở ra kỷ nguyên loài người chinh
phục vũ trụ. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu hoàn thành công cuộc hợp
tác hoá nông nghiệp. Trung Quốc tiến hành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Và trong những năm tiếp theo Liên Xô, Trung Quốc, các
nước xã hội chủ nghĩa đã có sự phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, làm cho sự so sánh lực
lượng trên thế giới đã có sự thay đổi rất căn bản. Liên Xô, Trung quốc và các
nước xã hội chủ nghĩa đã tham gia tích cực có hiệu lực to lớn trong giải quyết
các vấn đề quốc tế. Tháng 5 -1955 tổ chức Hiệp ước Vácsava được thành lập
khẳng định sức mạnh quân sự to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa - một tổ
chức quân sự hùng mạnh đối trọng với khối quân sự Bắc Đại Tây Dương
(NATO). Tháng 11-1957, Hội nghị quốc tế của 64 Đảng Cộng sản và Đảng công
nhân đã họp ở Matxcơva (Liên Xô) ra tuyên bố hoà bình, khẳng định sự lớn
mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của hệ thống xã hội chủ
nghĩa thế giới.
Sự lớn mạnh về kinh tế, quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là
Liên Xô, Trung Quốc là niềm tự hào, nguồn động viên, cổ vũ rất lớn đối với cán
bộ, chiến sĩ quân đội vững tin vào tương lai tươi sáng của chủ nghĩa xã hội, củng
cố mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện ước mơ bao
đời của nhân dân ta.
Các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành “hậu phương lớn” của Việt Nam
luận quốc tế mà ngay cả cuộc đấu tranh phản đối chiến tranh ngay trong lòng nước
Mỹ. Đây là nguồn động viên to lớn về tinh thần đối với nhân dân ta, quyết tâm
đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược dù chiến tranh có thể kéo dài, gặp nhiều khó
khăn ác liệt.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nhân dân ta còn nhận được sự hậu
thuẫn, ủng hộ to lớn của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang phát triển
mạnh ở cả châu á, châu Phi, châu Mỹ la tinh, chĩa mũi nhọn vào chống Mỹ, từng
bước đẩy chủ nghĩa thực dân mới vào cuộc khủng hoảng. Tháng 4-1955 Hội
nghị á - Phi gồm 29 nước họp ở Băngđung (Inđônêxia) ra bản tuyên bố 10
nguyên tắc hoà bình, trung lập là một đóng góp quan trọng vào phong trào
chống chủ nghĩa thực dân, củng cố nền độc lập của các nước á - Phi và bảo vệ
hoà bình thế giới. Phong trào độc lập dân tộc thế giới vừa có sức cổ vũ cho cách
mạng miền Nam, phân tán lực lượng của chủ nghĩa đế quốc, hỗ trợ tích cực cho
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt những năm nhân dân ta tiến hành cuộc
kháng chiến chống Mỹ, phong trào giải phóng dân tộc đã ủng hộ mạnh mẽ đối
với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta; đã trở thành một
trong ba “dòng thác cách mạng” của thời đại cùng chung mục tiêu đánh đổ chủ
nghĩa thực dân kiểu mới, góp phần không nhỏ trong thắng lợi của quân và dân ta
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có xây dựng Quân đội
nhân dân Việt Nam về chính trị.
Ba là, Đông Dương là một chiến trường, liên minh chiến đấu giữa Việt
Nam, Lào, Campuchia ngày càng được củng cố vững chắc.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là một bộ phận không tách rời
của cuộc kháng chiến chống Mỹ của ba nước Đông Dương. Liên minh chiến đấu
giữa ba nước Đông Dương là nhân tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vào thắng
lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ của mỗi nước.
Sự đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương đã tạo thuận lợi cho Việt
Nam vận chuyển lương thực, vũ khí, chuyển quân từ miền Bắc chi viện cho
nghĩa, của nhân dân thế giới để chuyển vào miền Nam đánh Mỹ.
Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta có điều kiện huấn luyện,
xây dựng quân đội chính quy vừa để bảo vệ miền Bắc, vừa cung cấp lực lượng
cho miền Nam thành lập các đơn vị bộ đội chủ lực, vừa làm nhiệm vụ quốc tế ở
Lào, Campuchia. Đây là điều kiện rất thuận lợi để thúc đẩy công cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi và xây dựng Quân đội nhân dân Việt
Nam vững mạnh về chính trị, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng.
Mặt khác, chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng ở miền Bắc trở thành
mục tiêu, lý tưởng, niềm tin động viên cán bộ chiến sĩ, nhân dân miền Nam anh
dũng chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ, củng cố niềm tin vào hậu phương
miền Bắc, vào sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Quân uỷ Trung ương, lòng tin tuyệt đối vào lãnh tụ Hồ Chí Minh, tin vào tương
lai tươi sáng của đất nước. Tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa đã
được phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhân dân miền Bắc đã
thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không
thiếu một cân, quân không thiếu một người”, thanh niên “Ba sẵn sàng sàng”,
phụ nữ “Ba đảm đang”, “Tay cày tay súng”, “Tay búa tay súng”, lớp lớp thanh
niên tình nguyện nhập ngũ vào miền Nam chiến đấu, tham gia lực lượng thanh
niên xung phong, dân công hoả tuyến để được phục vụ chiến đấu. Nhân dân sẵn
sàng dỡ nhà mình để lát đường cho xe chở bộ đội, vũ khí, lương thực tiếp tế cho
miền Nam. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và
dân ta, tạo nên sức mạnh vật chất, sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, tạo nên
chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta .
Năm là, hệ thống chính trị của đất nước: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, các tổ chức quần chúng và đoàn thể cách
mạng được xây dựng và củng cố vững chắc.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hệ thống chính trị bao
lãnh đạo, tổ chức, đoàn kết quân và dân miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến
chống Mỹ thắng lợi.
Quân đội ta là quân đội nhân dân, quân đội cách mạng được Đảng Cộng
sản Việt Nam, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục,
rèn luyện, vì vậy cùng với sự chăm lo xây dựng Đảng, Nhà nước, các đoàn thể
chính trị- xã hội vững mạnh quân đội ta được Đảng, Nhà nước các đoàn thể
nhân dân chăm lo xây dựng về mọi mặt, trước hết vững mạnh về chính trị. Do
đó, trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh quân đội ta đã thể hiện rõ vai trò nòng
cốt trong chiến tranh nhân dân, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình,
xứng đáng với sự tin cậy, công lao chăm lo xây dựng của Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta.
Sáu là, quân đội ta có sự phát triển cả về quy mô, lực lượng, trang bị vũ
khí kỹ thuật quân sự, về chất lượng chính trị và sức mạnh chiến đấu.
Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, để đáp ứng đòi hỏi khách quan của
cách mạng, Trung ương Đảng, Chính phủ và Tổng Quân uỷ đã quyết tâm sớm tổ
chức các quân, binh chủng kỹ thuật hiện đại cùng với lục quân đủ sức bảo vệ
miền Bắc và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam.
Thực hiện quyết tâm đó, từ tháng 8-1954 đến năm 1959 Tổng Quân uỷ, Bộ
Tổng tư lệnh liên tiếp ra các quyết định thành lập các đơn vị mới và các trường đào
tạo cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật trong toàn quân; tiến hành huấn
luyện bộ đội, rèn luyện kỷ luật theo yêu cầu chính quy, tác chiến hiệp đồng quân,
binh chủng quy mô lớn. Về xây dựng lực lượng, từ tháng 8-1954 đến đầu tháng 101959 Tổng quân uỷ đã quyết định thành lập các đơn vị và các trường nâng quy mô
tổ chức và đổi tên các đơn vị sau đây:
- Ngày 17-8-1954 thành lập Phòng công binh trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu,
đến ngày 3-11-1954 thành lập Cục công binh. Khi Mỹ chuẩn bị gây chiến tranh
đánh phá miền Bắc chuyển thành Bộ Tư lệnh Binh chủng công binh. Ngày 7-51955 Thành lập Cục phòng thủ bờ biển thuộc Bộ Tổng tư lệnh và các đơn vị sẵn
sàng chiến đấu. Cuối tháng 1-1959 thành lập Cục Hải quân thuộc Bộ Tổng tham
mưu; đó là những đơn vị và cơ quan làm cơ sở để thành lập Quân chủng Hải quân
trong xây dựng hoà bình và chỉ đạo, chỉ huy tác chiến trên một hướng chiến lược
khi xảy ra chiến tranh.
- Ngày 3-3-1959 thành lập Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội biên
phòng).
Trong giai đoạn từ tháng 11- 1954 đến tháng 9-1959 Bộ Quốc phòng đã
quyết định thành lập 14 trường bổ túc cán bộ và đào tạo sĩ quan dài hạn về quân
sự, chính trị, hậu cần, chuyên môn kỹ thuật và gửi đi đào tạo ở các nước bạn.
Các trường quân sự ở trong nước đã hình thành hệ thống các cấp học tương đối
hoàn chỉnh từ sơ cấp, trung cấp, cao cấp, có lục quân, phòng không, hải quân,
đặc biệt là thành lập Trường văn hoá quân đội (18-5- 1955) do Tổng cục Chính
trị quản lý.
ở miền Nam, sau khi mở đường 559, với các đơn vị chủ lực ở miền Bắc
được bổ sung, tăng cường cho chiến trường đã thành lập các sư đoàn bộ binh,
các trung đoàn, tiểu đoàn độc lập, các đơn vị bộ đội địa phương.
Trong kháng chiến chống Mỹ trình độ văn hoá phổ thông của cán bộ, chiến sĩ
đã tăng lên đáng kể so với trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Hầu hết bộ đội
nhập ngũ ở miền Bắc đều có trình độ văn hoá cấp 2, một bộ phận văn hoá cấp 3,
phần đông cán bộ chiến sĩ ở các quân, binh chủng kỹ thuật có trình độ văn hóa cấp
3. Với hệ thống nhà trường quân đội ngày càng mở rộng và mối quan hệ hợp tác
giữa Việt Nam với Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng
phát triển nên số cán bộ quân đội được đào tạo ngày càng nhiều, nhất là cán bộ ở
các quân, binh chủng kỹ thuật. Cùng với sự nâng lên về trình độ văn hoá phổ
thông, chất lượng chính trị, trình độ giác ngộ chính trị, giác ngộ cách mạng của cán
bộ, chiến sĩ quân đội cũng được nâng lên. Những lớp cán bộ, chiến sĩ trong giai
đoạn cuối của cuộc chiến tranh được sinh ra, đào tạo, giáo dục trong chế độ xã hội
chủ nghĩa nên phẩm chất, năng lực, đạo đức cách mạng được nâng cao. Cán bộ,
chiến sĩ ở các đơn vị thuộc chiến trường miền Nam được tôi luyện trong đấu tranh
cách mạng, có bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm chiến đấu ngoan cường, được
tình mà nhân dân ta dành cho quân đội. Mối quan hệ, đoàn kết quân dân trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã trở thành hình mẫu, biểu tượng sáng
ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Chính những tình cảm đó là nguồn động viên to lớn đối với mọi thế hệ cán
bộ, chiến sĩ quân đội sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, vì thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xứng đáng là quân đội cách mạng của
dân, do dân vì dân. Đây thực sự là một động lực chính trị, tinh thần to lớn để
quân đội ta đã chiến đấu và chiến thắng đội quân nhà nghề của đế quốc Mỹ và
quân đội chư hầu, góp phần cùng toàn dân giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc.
Những đặc điểm cơ bản trên đây đã tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp cách
mạng Việt Nam, nhất là trong xây dựng quân đội ta vững mạnh chính trị. Nhận
thức rõ các đặc điểm trên, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai thác, phát huy
tốt sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, giải quyết thành công những vấn đề
mới nảy sinh trong suốt 20 năm đánh Mỹ, đưa cách mạng đến toàn thắng bằng
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
1.2. Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
1.2.1. Giai đoạn 1954 – 1960
Tình hình, nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ của quân đội
Sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc bắt tay
vào khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã
hội. ở miền Nam, nhân dân miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị đòi Mỹ,
Diệm thi hành Hiệp định Giơnevơ, đồng thời tìm phương thức thích hợp để vừa
hạn chế được tổn thất, thúc đẩy cách mạng ở miền Nam, vừa bảo vệ miền Bắc.
Tháng 7-1954, tại Việt Bắc đã diễn ra Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương (khóa II). Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản báo
cáo quan trọng. Báo cáo nhận định: Đế quốc Mỹ âm mưu kéo dài chiến tranh
tranh chính trị dưới các hình thức khác nhau. Trước những hành động hung ác
của kẻ thù, đồng bào miền Nam đã không chỉ có đấu tranh chính trị mà đã tiến
hành các cuộc đấu tranh vũ trang mang tính bạo lực của quần chúng với những
mức độ khác nhau, bằng nhiều hình thức phong phú và sáng tạo, đặc biệt là các
cuộc đồng khởi của nhân dân các tỉnh miền Trung Nam Bộ và miền Đông Nam
Bộ. Đến giữa năm 1959, cách mạng miền Nam đã ở trong quá trình khởi nghĩa
từng phần. Cao trào Đồng Khởi trên toàn miền Nam đã làm cho Mỹ, Diệm đứng
ngồi không yên, đồng thời khôi phục được các tổ chức cách mạng, lực lượng ba
thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp được hình thành, căn cứ địa được
củng cố và mở rộng. 20-12-1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt
Nam được thành lập. Tháng 1 năm 1961 Trung ương cục miền Nam được thành
lập. Tháng 2 năm 1961, thành lập quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Vào
đầu năm 1960, cách mạng miền Nam chuyển hẳn sang thế tiến công.
Giai đoạn 1954–1960, quân đội có những nhiệm vụ chủ yếu: Xây dựng
quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước đến chính quy hóa, hiện đại
hóa; tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế trên miền Bắc. ở
miền Nam, các lực lượng vũ trang tìm mọi phương thức để bảo tồn và phát triển