MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta, giao
thông vận tải giữ một vị trí hết sức quan trọng, là mạch máu nối liền hậu
phương lớn miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Hơn 20 năm đấu tranh
trường kỳ gian khổ, nguồn chi viện sức người, sức của từ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa được vận chuyển chủ yếu theo đường bộ và đường biển, bằng
nhiều phương thức vào chiến trường, giúp cách mạng miền Nam vượt qua
bao khó khăn để giành thắng lợi.
Trên dải đất miền Trung – vị trí hiểm yếu, nơi đây nhiều “túi bom”,
“chảo lửa” đã hình thành; đây cũng chính là nơi có những địa danh ghi dấu
bao kỳ tích anh hùng của quân dân ta trên mặt trận bảo đảm giao thông vận
tải: cầu Hàm Rồng, Truông Bồn, phà Bến Thuỷ, phà Gianh, Ngã ba Đồng
Lộc… Trong đó Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc- Hà Tĩnh) đã trở thành một địa
chỉ đỏ, một dấu son chói ngời không thể nào phai nhạt. Nơi đây, hàng vạn
người đã dốc hết nhiệt tình, sức người, trí tuệ của tuổi trẻ cho “những mạch
máu luôn chảy về tim” (ý thơ Huy Cận). Nơi đây hàng nghìn bộ đội, thanh
niên xung phong, công nhân giao thông, lái xe, dâng lại tuổi thanh xuân của
mình để thông đường, thông xe ra tiền tuyến góp phần đánh thắng giặc Mĩ
xâm lược.
Thế nhưng, sau hơn 30 năm chiến tranh, vẫn chưa có nhiều công trình
nghiên cứu về Đồng Lộc, trong khi đó, khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc
lại được nhân dân và thế hệ trẻ cả nước và quốc tế biết đến. Rất nhiều đoàn
khách từ mọi miền Tổ quốc, từ nước ngoài đã đến đây để thắp hương, dâng
hoa cho các anh hùng liệt sĩ và đọc lại trang sử đau thương nhưng hào hùng
của quá khứ để có thêm sức mạnh xây dựng cuộc sống mới.
Vì thế, việc lựa chọn “Ngã ba Đồng Lộc trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ cứu nước thời kỳ 1965-1968” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn:
Về khoa học
+ Tái hiện lại một cách cụ thể, sinh động bức tranh toàn cảnh về cuộc
tầm quan trọng của nó trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
của dân tộc cuốn sách hầu như chưa đề cập đến.
+ Cuốn “Lịch sử Hà Tĩnh” do Phan Đình Bưởi chủ biên năm 2000 của
Nhà xuất bản Giáo dục lại chủ yếu viết về vai trò của Ngã ba Đồng Lộc
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thời điểm từ tháng 4 đến tháng
10 năm 1968. Còn cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của hàng nghìn bộ
đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, lái xe, dâng lại tuổi thanh
xuân của mình để thông đường, thông xe ra tiền tuyến góp phần đánh thắng
giặc Mĩ xâm lược lại chưa được phản ánh một cách cụ thể, sinh động.
+ Cuốn “Ngã ba Đồng Lộc- Ngã ba anh hùng” Sở văn hoá thông tin tỉnh
Hà Tĩnh xuất bản năm 2004 cũng đã đề cập đến Ngã ba Đồng Lộc; thuy
nhiên sự phản ánh này lại chủ yếu viết về các hạng mục di tích, chiến công
và huyền thoại tại Ngã ba Đồng Lộc. Cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất
“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của hàng vạn cán bộ chiến sĩ, dân công,
thanh niên xung phong tại vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng này lại chưa
được phản ánh một cách sinh động, chưa làm rõ được chủ nghĩa anh hùng
cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước.
+ Cuốn “Lịch sử Hà Tĩnh” của Đặng Duy Báu, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia năm 2001 cũng đã phản ánh về Ngã ba Đồng Lộc; tuy nhiên sự
phản ánh này lại rất chung chung; nhiều sự kiện lịch sử, nhiều tấm gương
tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam trong
cuộc chiến đấu ở đây vẫn chưa được nói tới…
+ Cuốn “Lịch sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975) của Quân
khu IV” của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân năm 1994, cũng có đề cập
đến Ngã ba Đồng Lộc; thế nhưng sự phản ánh này mang tính chất khái quát
đề cập đến tất cả các địa danh, tuyến đường, nhân vật lịch sử… Riêng về
Ngã ba Đồng Lộc cuốn sách chỉ dề cập đến những nét tổng thể, nhiều sự
kiện và nhân vật lịch sử vẫn chưa được làm rõ…
+ Cuốn “Lịch sử vận tải Quân đội nhân dân Việt Nam” do Tổng cục Hậu
Từ những nghiên cứu đạt được, đề tài sẽ mang lại nhiều ý nghĩa, đóng
góp quan trọng: giúp chúng ta có kiến thức sâu hơn, kĩ hơn về Ngã ba Đồng
Lộc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước; bên cạnh đó còn giáo dục
cho những thế hệ trẻ sau này tinh thần yêu nước, lòng biết ơn sâu sắc, giữ
gìn, bảo vệ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của cha ông đi trước.
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1. Cơ sở tư liệu.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở các nguồn tài liệu sau:
+ Các tài liệu: sách, báo, tạp chí đã công bố liên quan tới việc nghiên cứu
khoá luận lưu tại Trung ương và địa phương.
+ Tài liệu điền dã thực tế tại Ngã ba Đồng Lộc và các địa phương của Hà
Tĩnh…
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở, nề tảng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đề tài được thực hiện chủ yếu bằn hai phương pháp: lịch sử và lô gic;
ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích tổng
hợp, điền dã…
5. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
gồm ba chương:
Chương 1. Tầm chiến lược của Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc-Hà Tĩnh)
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975
Chương 2. Chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ bảo đảm
giao thông thông suốt ở Ngã ba Đồng Lộc (1965-1968).
Chương 3. Đóng góp của Ngã ba Đồng Lộc đối với cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước của dân tộc (thời kỳ 1965-1968).
CHƯƠNG 1
TẦM CHIẾN LƯỢC CỦA NGÃ BA ĐỒNG LỘC (CAN LỘC- HÀ
TĨNH) TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC
đai, tạo nên một nguồn lợi về kinh tế và góp phần thuận lợi cho tuyến giao
thông đường thủy trong địa bàn.
Nếu như đặc điểm kiến tạo địa hình của Hà Tĩnh với núi rừng là chủ yếu
(chiếm ¾), đất đai không mấy màu mỡ thì những điều kiện khí hậu cũng là
một thử thách dữ dằn với người dân nơi đây. Nằm trên dải đất miền Trung
nắng lắm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng, ở
Hà Tĩnh có hai mùa rõ rệt : mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung
bình 34-35
0
C, có ngày lên tới 40-42
0
C, khi có gió Tây Nam thổi qua dãy
Trường Sơn mang theo khí hậu khô nóng, cát bụi đầy trời làm cho cây cối
khô héo, ruộng vườn nứt nẻ. Sau mỗi đợt như thế chừng 5-10 ngày thời tiết
sẽ dễ chịu hơn khi có những cơn mưa giông. Hàng năm, từ tháng 7 đến
tháng 9, người dân Can Lộc và Hà Tĩnh nói chung còn phải chống chọi với
bão tố từ biển vào. Bão biển đôi khi kèm theo những cơn lốc xoáy gây nên
mưa to, làm ngập lụt nhà cửa, ruộng vườn, đắm thuyền bè của ngư dân…
Trong cơn bão tố nhà nhà nương tựa gần nhau hơn, sẻ chia với nhau từng củ
khoai, hạt gạo. Và cũng phải chăng vì vậy trong cái khốn khó, khắc nghiệt
của thiên nhiên tính cố kết cộng đồng của người Hà Tĩnh càng trở nên keo
sơn, bền chặt hơn. Mùa lạnh ở Hà Tĩnh thường kéo dài từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau. Gió mùa đông bắc tràn xuống khi vào đây gặp các dãy núi
cao ở phía Nam và Tây Nam đã gây nên những đợt mưa dầm dai dẳng. Ở
vùng núi Can Lộc về mùa này thường kèm theo lượng mưa nhiều hơn vùng
đồng bằng, gây ra ngập úng cục bộ và tạo nên những vùng sình lầy làm cho
giao thông trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn…
1.2. Vài nét về kinh tế xã hội.
+ Kinh tế: Nhìn một cách tổng quát rằng Can Lộc trước đây và ngày nay
có nền kinh tế đặc trưng đó là nền nông nghiệp truyền thống. Cư dân ở đây
Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đặc biệt là
từ thế kỉ X với công cuộc khai phá và mở rộng vùng đất Can Lộc thì thời
nào cũng có những bậc anh hùng đứng lên lãnh đạo nhân dân giữ yên bờ cõi.
Đó là Cao Minh Hựu quê ở Thiên Lộc đã giúp tướng quân Lê Hoàn đánh
giặc Tống trên sông Bạch Đằng, đó là Đặng Tất (người làng Tả Hạ, xã Tả
Thiên Lộc nay là Tùng Lộc - Can Lộc) một trong hai nhân vật chủ chốt, xuất
sắc của nghĩa quân Trần Ngỗi đã nổi dậy chống bọn quan lại nhà Minh
cuồng bạo đầu thế kỉ XV, tấm gương trung liệt của hai cha con Đặng Tất,
Đặng Dung - hai người con anh hùng của mảnh đất Can Lộc đã được vua Lê
Thánh Tông ban tặng câu đối:
“Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng”.
Nổi lên trong phong trào kháng chiến chống giặc Minh còn có cuộc
khởi nghĩa của Nguyễn Biên quê ở xã Phù Lưu nay là xã Hồng Lộc-Can
Lộc. Về sau dưới cờ khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, lực
lượng nghĩa quân từ các cuộc khởi nghĩa và nhân dân trong vùng đã hưởng
ứng và tham gia đông đảo, đóng góp sức người, sức của, góp phần làm nên
những chiến công vang dội, đánh đuổi giặc Minh xâm lược giành lại quyền
độc lập, tự chủ.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta và từng bước thiết
lập nền cai trị. Vùng đất Hà Tĩnh là một trong những nơi đầu tiên bùng lên
ngọn lửa đấu tranh chống lại phong kiến tay sai và thế lực thực dân cướp
nước. Trong phong trào Cần Vương, hai anh em người làng Gia Hanh( nay
là xã Gia Hanh- Can Lộc) là Nguyễn Duy Chanh( Đề Chanh) và Nguyễn
Duy Trạch( Đề Trạch) đã sớm chiêu tập trai tráng trong vùng, ngày đêm bí
mật luyện tập võ nghệ và tích trữ lương thực để đánh giặc. Được sự ủng hộ,
góp sức của nhân dân, nghĩa quân Đề Chanh và Đề Trạch lấy vùng núi hiểm
trở giữa Can Lộc và Đức Thọ làm căn cứ, hoạt động trên một vùng rộng lớn,
tiến hành phục kích tiêu diệt địch. Sau đó, hợp với nghĩa quân của Lê Ninh
đánh thành Hà Tĩnh. Khi Phan Đình Phùng ở ngoài Bắc về năm 1889 thống
Nha ( Đại Lộc)… và đến cuối tháng 3-1930 được sự ủy nhiệm của Xứ ủy
Trung Kỳ, đồng chí Trần Hữu Thiều( tức Lai, tức Nguyễn Trung Thiên) vào
Hà Tĩnh bắt liên lạc với các tổ chức cơ sở Đảng ở Hà Tĩnh tổ chức hội nghị
thành lập Đảng bộ lâm thời Hà Tĩnh tại một địa điểm gần bến đò Thượng
Trụ( xã Thiên Lộc- Can Lộc). Từ đây, các tổ chức của Đông Dương cộng
sản Đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn hợp nhất, lấy tên là các chi bộ
Đảng Cộng sản Việt Nam và chính thức lãnh đạo nhân dân Hà Tĩnh đấu
tranh không mệt mỏi để giành tự do, độc lập.
Cũng từ đó, trải qua biết bao gian khổ, hi sinh trong cao trào cách mạng
1930-1931 và Xô viết Nghệ- Tĩnh, đấu tranh chống khủng bố và phong trào
Mặt trận Dân chủ tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Tháng
Tám năm 1945, nhân dân Can Lộc- Hà Tĩnh đã cùng nhân dân cả nước nhất
tề đứng dậy lật nhào ách thống trị hơn 80 năm của thực dân và phong kiến,
giải phóng quê hương mình.
Lịch sử là một dòng chảy vĩnh hằng nối tiếp quá khứ - hiện tại và hướng
đến tương lai. Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm bất khuất của cha
ông là nguồn lực tinh thần mạnh mẽ giúp người dân Hà Tĩnh, người dân Can
Lộc vững vàng đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. Bước vào thời kỳ
đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc với hai cuộc kháng chiến trường kỳ
chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, nhân dân Can Lộc đã đóng góp cho đất
nước những con người anh dũng, quả cảm và làm tròn nghĩa vụ của hậu
phương với tiền tuyến. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
kéo dài 21 năm, trên “vùng cán xoong” Khu IV, người dân Can Lộc- Hà
Tĩnh không những đã làm tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến lớn miền Nam mà
còn anh dũng chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ của tuyến đầu, là tiền tuyến
của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Mặt trận giao thông vận tải
trên địa bàn Khu IV và Hà Tĩnh là nơi thể hiện đầy đủ và sâu sắc nhất cuộc
chiến đấu nhiều cam go, thử thách, ác liệt, hi sinh nhưng cũng anh hùng nhất
của cuộc chiến đấu ấy. Và cũng chính tại nơi đây, trên mảnh đất Can Lộc
kiên cường này có một địa danh đã ghi dấu những kỳ tích oai hung, những
tuyến miền Nam và cách mạng Đông Dương. Cho nên, cuộc chiến đấu ở đây
diễn ra gay go quyết liệt “ta quyết giữ, địch quyết phá”. Đây cũng chính là lí
do để giải thích vì sao trong thời kỳ Chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của
giặc Mĩ (1965-1968), giặc Mĩ đã coi Ngã ba Đồng Lộc là “chảo lửa” hay
còn gọi là “túi bom”.
CHƯƠNG 2
CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA GIẶC MĨ
BẢO ĐẢM GIAO THÔNG THÔNG SUỐT Ở NGÃ BA ĐỒNG LỘC
(1965-1968)
2.1. Sự hình thành quyết chiến điểm giao thông và vị trí chiến lược
của Ngã ba Đồng Lộc.
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ngoài vị trí quan trọng là
vùng trọng điểm trồng lúa, trên địa bàn huyện Can Lộc còn có nhiều tuyến
đường giao thông huyết mạch: quốc lộ 1A chạy qua các xã Vượng Lộc,
Khánh Lộc, Tiến Lộc; đường 15A chạy song song với đường số 1A qua các
địa hình đồi núi xen kẽ rừng già trên dải Trường Sơn. Đây là hai con đường
huyết mạch vận chuyển sức người, sức của từ hậu phương miền Bắc chi viện
cho chiến trường miền Nam qua địa bàn Khu IV. Đường số 1A và 15A cách
nhau không xa, chỗ gần nhất chưa đầy 5km theo đường chim bay và cả hai
tuyến đường đều có những điểm yếu cơ bản là: trên quốc lộ 1A đoạn từ Hạ
Vàng đến cầu Già chỉ hơn 7km nhưng có tới hai phà vượt sông là Nghèn và
Già. Đoạn này nền đường yếu vì chạy qua đồng ruộng trũng, mùa mưa nước
ngấp nghé mặt đường dài hàng trăm mét. Khi bị đánh phá việc khắc phục vô
cùng khó khăn. Đường 15A đoạn qua Đồng Lộc chỉ dài 6km nhưng mới
được rải đá cấp phối có hai ngã ba là Khiêm Ích, Trường Thành (tức Ngã ba
Đồng Lộc ngày nay) cách nhau 2km, phía Bắc có cầu Tùng Cóc, ở giữa là
cầu Tối. Ngã ba Đồng Lộc là một vùng đất hẹp, nơi giao điểm giữa đường
15A và các tỉnh lộ: Lạc Thiện-Đồng Lộc, Khe Giao-Đồng Lộc, Ba Giang-
Đồng Lộc. Từ đây có thể mở rộng ra các hướng, đáp ứng nhu cầu giao thông
vận tải khi các tuyến giao thông ở đồng bằng bị cắt đứt. Do vị trí xung yếu
khăn, lúng túng, bị động trong thực hiện nhiệm vụ, dẫn đến tổn thất về
người, phương tiện, hàng hóa; lưu lượng thông xe qua địa bàn đạt thấp.
Nhưng từ đầu năm 1966 về sau, với sự chỉ đạo nhạy bén, kiên quyết của
Trung ương và Tỉnh ủy, sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng bộ và nhân dân Can
Lộc, phong trào “Toàn dân làm giao thông vận tải” với nhiều hình thức và
biện pháp phong phú, đa dạng đã được thực hiện. Trong những năm chống
chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, công tác bảo đảm giao thông vận tải của
huyện Can Lộc đã đạt được kết quả nổi bật trên các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng và các biện pháp tổ
chức lực lượng.
Trong suốt quá trình làm công tác bảo đảm giao thông vận tải, Huyện ủy
Can Lộc đã có nhiều cuộc họp, ra nhiều nghi quyết, chỉ thị trong đó xác định
nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải thông suốt trên địa bàn là nhiệm vụ
hàng đầu; từ đó xây dựng ý chí quyết tâm, thống nhất cao từ các cấp lãnh
đạo đến từng chiến sĩ, từng người dân. Để làm nòng cốt cho phong trào
“Toàn dân làm giao thông vận tải” ngoài việc thành lập ban đảm bảo giao
thông ở huyện và xã do đồng chí chủ tịch huyện và xã làm trưởng ban, cán
bộ cấp trưởng huyện đội, phòng giao thông làm phó ban; các ngành công an,
bưu điện, lương thực, thương nghiệp, y tế làm ủy viên, huyện ủy đã chỉ đạo
cơ quan huyện đội và các xã đội, ban chỉ huy tự vệ cơ quan tổ chức lực
lương dân quân tự vệ thành các đội chuyên trách. Trong đó bao gồm:
Đội dân quân tự vệ làm nhiệm vụ rà phá bom, than gia làm đường tránh,
đường xế.
Đội chủ lực công nhân giao thông làm nhiệm vụ ứng cứu kịp thời ở các
trọng điểm. Đội được thành lập giữa năm 1966 với 200 đội viên, đầu năm
1968 tăng lên 300 đội viên.
Bên cạnh đó là các tổ gác đèn ban đêm ở các ngã ba, bến phà của dân
quân tự vệ phà Nghèn, Già, các xã Sơn Lộc, Mỹ Lộc, Đại Lộc, Minh Lộc,
Đồng Lộc…
Thứ hai, ta chủ động mở đường tránh, đường xế, đường giao liên và giao
Thân đã giáng đòn quyết định vào ý đồ xâm lược của giới chính trị và quân
sự Mỹ, buộc chúng phải có những thay đổi trong tiến hành chiến tranh xâm
lược Việt Nam. Ngày 31-03-1968, Tổng Thống Mỹ Giônxơn tuyên bố rằng:
Mỹ đơn phương chấm dứt ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ vĩ
tuyến 20 trở ra, sẵn sàng cử đại diện đi đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng
Hòa, không tiếp tục ra tranh cử Tổng Thống nhiệm kỳ mới. Đây là một biểu
hiện thừa nhận sự thất bại hoàn toàn trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở
Việt Nam ở giới cầm quyền Mĩ. Thế nhưng trên thực tế, Mĩ vẫn duy trì cuộc
chiến tranh phá hoại miền Bắc từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20, vẫn duy trì
các chuyến bay trinh sát đường không trên vùng trời, vùng biển miền Bắc và
vẫn giành quyền ném bom trở lại toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa khi cần.
Sau thắng lợi vang dội của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân,
cách mạng miền Nam cũng phải trải qua những thử thách to lớn. Mĩ - Ngụy
tập trung lực lượng mở các cuộc hành quân giải tỏa, hành quân lấn chiếm,
tranh giành quyết liệt địa bàn nông thôn với ta. Trong khi đó, lực lượng ta bị
hao tổn nhiều chưa kịp bổ sung, công tác bảo đảm hậu cần cũng gặp nhiều
khó khăn do sự càn quét; đánh phá ác liệt của địch. Hậu cứ, hậu phương tại
chỗ của các chiến trường , các mặt trận đều bị thu hẹp. Trong tình thế đó,
hậu phương miền Bắc càng tỏ rõ vai trò to lớn, quyết định của mình đối với
tiền tuyến miền Nam. Từ hậu phương miền Bắc, nhiều đơn vị chủ lực được
lệnh hành quân cùng với lượng hàng hóa, vũ khí lớn bổ sung cho chiến
trường miền Nam.
Đối với miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mĩ tiến hành cái gọi là “ném bom
hạn chế” nhưng thực chất là tập trung bom đạn rải xuống dải đất nhỏ hẹp
Khu IV nhằm chặn đứng sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, hòng
cứu quân đội Mĩ - Ngụy trên chiến trường đang bị thiệt hại và choáng váng
sau đợt một cuộc Tổng tiến công Mậu Thân của quân và dân ta.Thủ đoạn
“ném bom hạn chế” miền Bắc thực chất là một kế hoạch được “đẻ ra” trong
sự “sa lầy” thảm hại của cuộc chiến tranh xâm lược mà Mĩ đang tiến hành ở
tỏa vào chiến trường phía Nam và sang Lào, Cămpuchia.
Thứ hai, đối phương nắm được thế hiểm yếu của địa hình nơi đây hẹp
chiều ngang, lắm núi nhiều sông, trên các tuyến đường giao thông quan
trọng như đương 1A, đường 15A đoạn qua Hà Tĩnh có nhiều cầu cống lớn,
có nhiều đoạn chạy qua vùng chiêm trũng kéo dài hàng chục km, đường nhỏ
chạy ven sườn núi. Với địa hình đó đã tạo nên những điểm “nút” cực kỳ
quan trọng, giữ vị trí sống còn trên mặt trận bảo đảm giao thông vận tải. Ngã
ba Đồng Lộc chính là một điểm nút đó.
Thứ ba, đế quốc Mĩ hy vọng rằng, đánh phá các đầu mối giao thông quan
trọng, triệt hạ nguồn tiếp tế từ vĩ tuyến 20 trở vào là biện pháp có hiệu lực
nhất đẻ gỡ thế thất bại trên chiến trường miền Nam và Đông Dương. Trong
hồi ký của mình, Giônxơn viết: “Hoạt động không quân có hiệu lực, đòi hỏi
gây sức ép chống lại toàn bộ hệ thống hậu cần của Bắc Việt Nam, trong bất
kỳ trường hợp nào mà các cuộc oanh tạc đến vĩ tuyến 20 là tuyệt đối cần
thiết”. Với ý đồ ấy, đế quốc Mĩ nhằm thực hiện âm mưu: tiêu hao, quấy rối
và ngăn chặn nhằm cắt đứt các đường giao thông [11,tr.27].
Để thực hiện âm mưu trên đây, thủ đoạn đánh phá của không quân, hải
quân Mĩ thời kỳ này là:
-Chọn 6 điểm trên đường bộ hình thành 3 cặp song song đẻ tập trung đánh
dứt điểm, chốt chặn là Linh Cảm- Bến Thủy, Đồng Lộc- Thượng Gia, Cầu
Họ- Ngã ba Thình Lình. Trên đường thủy là 4 cửa biển: Cửa Hội, Cửa Sót,
Cửa Nhượng, Cửa Khẩu và các ngã ba sông ở Đức Quang- Linh Cảm- Cửa
Rào, Ngã ba Sơn.
-Dùng bom từ trường chốt chặn các điểm trên đây và các điểm xung yếu
khác.
-Đánh vào các điểm tắc, đồng thời khống chế toàn tuyến, đưa cường độ
đánh phá của máy bay, tàu chiến lên đỉnh cao nhất trong chiến tranh phá
hoại. Đánh tắc hai đầu,đánh vào phương tiện, hàng hóa còn dồn lại ở giữa
gây thiệt hại lớn cho ta.
Do hoạt động đánh phá quyết liệt của máy bay địch vào tuyến giao thông
Dưới sự lãnh đạo thống nhất, kịp thời của Trung ương, Bộ Giao thông
vận tải, Bộ Tư lệnh Quân khu IV và Ty giao thông vận tải, ở Hà Tĩnh, công
tác bảo đảm giao thông vận tải trong 2 năm 1966- 1967 đã có nhiều thành
tích và một số kinh nghiệm. Tuy vậy, giao thông vận tải ở Hà Tĩnh chưa
phải đã vững chắc, vật tư dự phòng còn rất mỏng; mặt khác do lãnh đạo, chỉ
huy nắm và phán đoán âm mưu, thủ đoạn đich chưa chính xác, sự chuyển
hướng cả về tư tưởng, tổ chức và hành động không kịp với tình hình, kế
hoạch đối phó ban đầu chưa tích cực và toàn diện cả về đánh địch, phòng
tránh và bảo đảm giao thông vận tải; sự chi viện hỏa lực phòng không của
Quân khu và Bộ chưa kịp thời. Do đó, Hà Tĩnh đã lúng túng, bị động đối
phó với thủ đoạn mới của địch trong những ngày đầu địch “ném bom hạn
chế”.
Nằm trên tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam qua địa bàn Hà Tĩnh,
Ngã ba Đồng Lộc trở thành một trọng điểm bị đánh phá ác liệt trong chiến
dịch “ném bom hạn chế” của không quân Mĩ.
Khu vực Ngã ba Đồng Lộc rộng chừng 0.6 km vuông, thuộc phạm vi
bốn xã Trung Lộc, Đồng Lộc, Mỹ Lộc, Thượng Lộc ( huyện Can Lộc). Nơi
đây là giao điểm của hai ngã ba chính là Ngã ba Kiêm Ích và Ngã ba Đồng
Lộc trên tuyến đường 15A tỏa đi các hướng vào Nam, ra Bắc và sang Trung-
Hạ Lào. Ngã ba Đồng Lộc nằm trên vùng có địa thế hiểm trở, núi cao bao
bọc xung quanh: phía đông có núi Mòi; phía đông nam có núi Mũi Mác,
phía tây namlà núi Trọ Voi. Nơi đây còn là một khu đồi hẹp, khó mở các
đường tránh và khó bố trí các trận địa pháo vì một bên là núi trọc, một bên là
đồng trũng. Tuyến đường qua Ngã ba là tuyến đường độc đạo bám theo sườn
núi thoai thoải, mặt đường như lòng máng. Bom Mỹ ném xuống bên nào
cũng có thể lăn xuống mặt đường gây cản trở, ách tắc giao thông. Về mùa
khô đoạn đường này đầy bụi đỏ, mùa mưa nước đọng, đường lầy ngập bùn
nước. Trên tuyến lại có nhiều ngầm và cầu cống nhỏ: từ Cống 19( xã Trung
Lộc) đến Khe Út, đường 15A đi Hương Khê có 11 cầu, trong đó có hai cầu
tương đối lớn là cầu Cơn Bạng dài 45 mét và cầu Tùng Cóc dài 40 mét, có