Báo cáo: ngoại giao của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 - 1975 potx - Pdf 20

Đề tài
Ngoại giao can Việt Nam trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước giai đoạn 1954-1975.
Trang 1
MỤC LỤC trang
I.GIỚI THIỆU…………………………………………………… 2
II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI, NGOẠI
GIAO
Bối cảnh lịch sử đầu những năm1954: …………… …….3
Tình hình quốc tế…………………………………… …….4
Chủ trương của Đảng……………………………….………7
Chủ trương của Đảng………………………………….……8
Quá trình hình thành đường lối đối ngoại………… … …8
Ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa anh em………16
III.KẾT LUẬN………………………………………………… ….18
Trang 2
I.GIỚI THIỆU
Việt Nam ta là quốc gia văn hiến có một nền lịch sử ngoại giao lâu đời và
phong phú. Trong đó nổi bật nhất là nền ngoại giao trong giai đoạn nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ CHí Minh lãnh đạo , nay là cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.lịch sử nước ta đã trải qua biết bao nhiêu lần kháng
chiến chống quân xâm, lược ngoại bang, từ chống quân Tống thời Lý Thường
Kiệt, chống quân xâm lược Nguyên Mông thời trần và mới đây chưa đầy nửa
thế kỉ, chúng ta lại phải đương đầu với thế lực phương tây vô cùng hung mạnh,
đặc biệt là Mỹ, một nước đế quốc hùng mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự trên thế
giới. Nhưng chính nghĩa luôn luôn dành thắng lợi, bằng lòng yêu nước truyền
thống từ trước tới nay của ông cha ta, sự dẫn dắt của các nhà lãnh đạo kiệt xuất,
sự đoàn kết một lòng can nhân dân ta, sự ngoại giao tài tình,… đã dần dần đẩy
lùi bước xâm lăng kẻ thù ra khỏi bờ cõi .
Trong nội dung của bài tiểu luận này chúng ta sẽ tìm hiểu về cuộc kháng

Ngày 10-10-1954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội. Cùng ngày, quân ta tiến vào tiếp
quản. Thủ đô Hà Nội. Ngày 1-1-1955, tại quảng trường Ba Đình lịch sử đã diễn
ra cuộc mít tinh trọng thể của hàng chục vạn nhân dân Hà Nội chào mừng
Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thủ đô.
Khi rút quân, Pháp mang theo hoặc trước đó đã phá hỏng nhiều máy
móc, thiết bị, tài sản để gây khó khăn cho ta. Pháp còn cùng với Mỹ và Ngô
Đình Diệm chỉ đạo bọn phản động tiến hành dụ dỗ, cưỡng ép nhiều đồng bào
công giáo vào Nam để thực hiện ý đồ chống phá cách mạng về sau.
Trong khi đó, ở miền Nam, thực dân Pháp cũng có những hành động phá hoại
Hiệp định mới được ký kết.
Quân Pháp rút toàn bộ khỏi miền Nam Việt Nam khi còn nhiều điều khoản Hiệp
định có liên quan đến trách nhiệm của họ chưa được thi hành, trong đó có điều
khoản về việc tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Bắc-Nam Việt Nam.
Pháp trút bỏ trách nhiệm thi hành những điều khoản còn lại của Hiệp định cho
Mỹ-Diệm, người kế tục chúng ở miền Nam.
Đế quốc Mỹ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền
Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương.
Trang 4
Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Pháp, Anh và một số
nước Đông Nam Á lập ra khối "Liên minh quân sự Đông - Nam Á" (SEATO)
và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này.
Đưa được tay sai lên nắm chính quyền ở miền Nam Việt Nam, gạt hết quân
Pháp và tay sai của chúng ra khỏi miền Nam, Mỹ đã thực hiện được bước đầu ý
đồ độc chiếm miền Nam Việt Nam.
Chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mỹ, ra sức
phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất
Việt Nam trong thời hạn hai năm theo điều khoản của Hiệp định.
Đến hạn hai năm, tháng 7-1956, Diệm tuyên bố. "Sẽ không có hiệp thương tổng
tuyển cử, vì chúng ta không ký Hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào

trị, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc về kinh tế. Tháng 4-1955, Hội nghị Băngđung
được triệu tập với sự tham gia của 29 nước Á, Phi. Hội nghị đã đánh dấu việc
các nước Á, Phi quyết định bước lên vũ đài lịch sử, đoàn kết với nhau từ những
phong trào lẻ tẻ, tách rời, liên kết với nhau trong một mặt trận thống nhất của
các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc thực dân. Sau Hội nghị
Băngđung, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ như vũ bão, nhiều
nước Á, Phi, Mỹ Latinh giành độc lập ở mức độ khác nhau.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã gợi lên cho nhân dân, trước hết là các lực
lượng cách mạng ở các nước châu Phi những suy nghĩ mới về đường lối và
phương pháp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Tháng 8-1954, Đảng Cộng
sản Marốc ra tuyên bố đòi chính phủ Pháp phải chấm dứt các hành động đàn áp,
khủng bố những người yêu nước, phải thả tù chính trị. Theo kinh nghiệm của
nhân dân Việt Nam, nhân dân Marốc đã cầm vũ khí, kiên trì cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc. Ở các nước châu Phi khác như: Tuynidi, Angiêri, Mali
phong trào đấu tranh giành độc lập cũng phát triển mạnh mẽ với khí thế sôi nổi.
Điển hình là phong trào giải phóng ở Angiêri. Mặt trận giải phóng dân tộc
Angiêri ra đời được sự hưởng ứng của phần lớn các đảng phái và tổ chức yêu
nước, đại diện cho các giai cấp công nhân, nông dân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản,
và các tầng lớp khác trong xã hội. Cuộc chiến đấu của nhân dân Angiêri bắt đầu
Trang 6
nổ ra ngày 1-11-1954 và được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế
giới Tiếp đó, năm 1956, 3 nước Bắc Phi: Tuynidi, Marốc, Xuđăng giành độc
lập. Tháng 3-1957, nước cộng hoà Gana ra đời, mở đầu thời kỳ vùng dậy của
các nước Tây Phi, để rồi đến năm 1960 - có 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập
và đi vào lịch sử với tên gọi “Năm Châu Phi”.
Châu Á - đối tượng xâm lược của các đế quốc châu Âu và Bắc Mỹ từ
hàng trăm năm, cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc ở đây được tiếp thêm
sức mạnh rõ rệt, đặc biệt là ở Đông Dương, sự đoàn kết gắn bó giữa nhân dân
ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia càng thêm chặt chẽ, để chuẩn bị đối phó
với những thủ đoạn xâm lược kiểu thực dân mới mà đế quốc Mỹ đang triển khai

Chính phủ đề ra cho cách mạng mỗi miền những nhiệm vụ chiến lược phù hợp
với đặc điểm tình hình và yêu cầu của cách mạng từng miền, nhằm chấm dứt
tình trạng đất nước bị chia cắt.
Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân căn bản hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
Trước khi bắt đầu những nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc phải
trải qua giai đoạn đấu tranh đòi phía Pháp thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định
Giơnevơ, tiếp quản vùng mới giải phóng, hoàn thành cải cách ruộng đất, hàn
gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế. Trong quá trình này, Mỹ đã mở
rộng hoạt động ném bom bắn phá, nên miền Bắc phải kết hợp cả với cuộc chiến
đấu chống chiến tranh phá hoại, nhằm bảo vệ miền Bắc và phối hợp với cuộc
chiến đấu giải phóng miền Nam. Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn nhằm xây
dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước và là hậu phương cho
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc.
Ở miền Nam, do vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai,
Đảng chủ trương tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Mở đầu
thời kỳ ta đấu tranh đòi Mỹ-Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ
1954 về Việt Nam. Trong quá trình diễn biến, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng dân
tộc chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, nhằm giải phóng
Trang 8
miền Nam, bảo vệ miền Bắc, phối hợp với cuộc chiến đấu của nhân dân hai
nước Lào và Campuchia
Hai miền đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng
cả nước là đánh Mỹ và bọn tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, bảo vệ
miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước,
thống nhất đất nước, tạo điều kiện để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần
bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Trong việc thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước,

đoạn “từ chiến tranh chuyển sang hoà bình” và “Nam Bắc tạm thời phân làm 2
vùng”. Vì vậy, nhiệm vụ chung của Đảng là “đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu
tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá
hoại Hiệp định đình chiến để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách
ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân
dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của
nhân dân miền Nam, đặng củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành
độc lập dân tộc, dân chủ trong toàn quốc”. Hội nghị xác định nhiệm vụ cụ thể
của cách mạng miền Nam “lãnh đạo nhân dân miền Nam thực hiện Hiệp định
đình chiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ (tự do ngôn luận, tự do
hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại ), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất
và tranh thủ độc lập. Đồng thời, phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống hoạt
động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách
mạng, chống những hoạt động tiến công của địch, nguỵ, giữ lấy quyền lợi quần
chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở những vùng căn cứ
địa và vùng du kích cũ của ta” với phương châm đấu tranh: Kết hợp công tác
hợp pháp và công tác không hợp pháp, lợi dụng các hình thức tổ chức hoạt động
hợp pháp để tập hợp và lãnh đạo quần chúng đấu tranh.
Như vậy, lúc này chúng ta phải chủ trương tạm thời giữ cách mạng miền
Nam ở thế giữ gìn lực lượng. Điều đó có nghĩa là: Trong hoàn cảnh hiện tại cần
phải hết sức bình tĩnh để phân tích tình hình, trên cơ sở những phân tích khoa
học trước yêu cầu của thực tiễn mới có thể có được đối sách thích hợp. Cuộc
Trang 10
đấu tranh ở Việt Nam đến thời điểm đó đã không còn mang ý nghĩa đơn thuần
của một cuộc chiến tranh cục bộ nữa mà ngày càng có ý nghĩa của sự đối đầu
mang tính chất quốc tế. Chính vì vậy mà Việt Nam đã và đang trở thành điểm
nhạy cảm trong quan hệ của các nước, đặc biệt là của các cường quốc. Những
khó khăn trong nước cùng với những điều kiện bất lợi khác của tình hình cách
mạng trên thế giới lúc này chưa thể cho phép Đảng ta phát động một cuộc chiến
tranh mới để thống nhất đất nước. Tuy nhiên, giữ gìn lực lượng không có nghĩa

bình”. Chính phủ Việt Nam nên tìm mọi cách tăng cường tình hữu nghị giữa
nước ta và hai nước Lào, Cao Miên; tăng cường đoàn kết giữa nhân dân Việt
Nam, Lào và Cao Miên. Xây dựng mối quan hệ hoà hoãn với Lào, Cao Miên
cùng với việc tiếp tục phát triển và củng cố tình hữu nghị với Liên Xô, Trung
Quốc và tất cả các nước XHCN trên thế giới là điều kiện quan trọng để củng cố
hoà bình ở Đông Dương và tranh thủ độc lập, thống nhất của nước ta.
Bên cạnh đó, đối với Uỷ ban quốc tế, chủ trương của ta nói chung là
tranh thủ cảm tình, không để xảy ra những việc đáng tiếc, bất lợi cho ta. Đối với
Ba Lan, mặc dù Ba Lan là bạn của ta song trong thái độ giao tiếp, Đảng chủ
trương không nên vồn vã hơn các đại biểu khác, để các đồng chí Ba Lan có thể
giữ địa vị trung lập mà làm việc. Đối với Ấn Độ, chúng ta có thể và cần tranh
thủ cảm tình của Ấn Độ vì Ấn Độ luôn có thái độ tán thành hoà bình ở Đông
Dương, chống Mỹ dùng vũ lực làm bá chủ Châu Á. Còn với Gia Nã Đại
(Canađa), ta phải cẩn thận song phải giữ quan hệ ngoại giao tốt với các đại biểu
Gia Nã Đại.
Trước tình hình đế quốc Mỹ ngày càng bộc lộ rõ âm mưu và bản chất ra
sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, xây dựng chính quyền thực dân mới ở miền
Nam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7(8/1955) chủ trương
đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam. Hội nghị khẳng
định kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân ta hiện nay là “đế quốc Mỹ, phái thực
dân Pháp phản hiệp định và bọn Ngô Đình Diệm, đế quốc Mỹ là kẻ thù đầu sỏ
và nguy hại nhất”. Vì vậy, mục tiêu đấu tranh trước mắt của cách mạng vẫn
không thay đổi “chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ; triệt để lợi dụng mâu
Trang 12
thuẫn giữa Mỹ và Pháp, giữa bọn thân Mỹ và bọn thân Pháp, giữa phái thực dân
Pháp thân Mỹ và những phần tử thực dân Pháp chống Mỹ. Đoàn kết bất cứ
người nào ta có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào ta có thể tranh thủ
được, trung lập bất cứ người nào ta có thể trung lập được, cốt nhằm phân hoá kẻ
thù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn cả trong nước
và ngoài nước”. Trên cơ sở đó, Hội nghị chủ trương: “Đẩy mạnh công tác ngoại

Nam, cắt đứt quan hệ Bắc – Nam, thúc ép Pháp rút quân khỏi miền Nam, đồng
thời tìm mọi cách chèn ép và nắm dần cơ sở kinh tế của Pháp. Chúng liên tiếp
tiến hành chính sách "tố cộng, diệt cộng", đàn áp các phong trào cách mạng, đặc
biệt là trong chiến dịch tố cộng, diệt cộng đợt 2,3, Mỹ - Diệm khủng bố vô cùng
dã man nhằm phân hoá giữa Đảng và quần chúng, buộc những người lưng
chừng phải có thái độ dứt khoát, buộc những người đầu hàng phải thật sự làm
tay sai cho chúng. Mỹ - Diệm đã đẩy cách mạng miền Nam vào thời kỳ khó
khăn chưa từng có.
Tuy nhiên miền nam vẫn đứng trước một số thuận lợi cơ bản.đó là công cuộc
đấu tranh của ta được nhân dân tham gia tích cực. vì thế Trung ương Đảng nhấn
mạnh những nhiệm vụ quan trọng lúc này là ra sức củng cố miền Bắc, giữ vững
và phát triển cuộc đấu tranh miền Nam, tăng cường đấu tranh ngoại giao, và
trước mắt là phải hết sức tăng cường cuộc đấu tranh để khôi phục và phát triển
quan hệ bình thường giữa miền Nam và miền Bắc. Trong đó, việc tăng cường
đấu tranh ngoại giao được đặc biệt chú trọng. Cuộc đấu tranh củng cố hoà bình,
thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho hoà
bình thế giới. Do đó, Việt Nam phải phối hợp và tranh thủ sự đồng tình của
nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, làm cho Mỹ - Diệm ngày càng bị cô
lập. Vì vậy, "ta phải tăng cường việc tuyên truyền ra ngoài nước, vạch trần âm
mưu của Mỹ - Diệm ở miền Nam phá hoại hoà bình, thống nhất và vi phạm
Hiệp định Giơnevơ; nêu cao ý chí hoà bình của ta và chính sách tôn trọng Hiệp
định Giơnevơ của ta".Công tác ngoại giao của ta phải "ra sức tranh thủ sự đồng
tình của các nước yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với cuộc đấu tranh
thống nhất, cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ của nhân dân ta.
Ngoài việc tăng cường đoàn kết với các nước anh em là việc ta phải thường
Trang 14
xuyên chú trọng, chúng ta cần hết sức phấn đấu để đặt quan hệ tốt với hai nước
láng giềng Lào, Miên, tăng cường và phát triển quan hệ với các nước Đông
Nam Á, với nước Pháp" Có thể nói, những chính sách ngoại giao được thông
qua Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 10 mở rộng (9/1956) là

Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực
tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam,
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. “Nhiệm vụ cách
mạng ở miền Bắc và miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ
nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nuớc nhà tạm
thời bị chia cắt nhưng hai nhiệm vụ đó đều hướng tới một mục tiêu chung là
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình
ở Đông Nam Á và thế giới”.
nhưng sau đó, Mỹ_Diệm đã không tuân thủ hiệp định , lấy cớ là đã không
kí kết hiệp định. Tiếp tục những cố gắng kiên trì để thực hiện hoà bình, thống
nhất đất nước, ngày 7-3-1958, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà lại gửi
công hàm cho chính quyền Ngô Đình Diệm nêu rõ nguy cơ của chính sách xâm
lược, nô dịch của đế quốc Mỹ và đề nghị hai miền cử đại biểu gặp gỡ nhau bàn
bạc những biện pháp hoà bình thống nhất trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau. Lần
này, chính quyền Ngô Đình Diệm càng bị dư luận thúc ép và ngày 26-4-1958,
chính quyền Sài Gòn đã ra một bản tuyên bố nói đến hoà bình, thống nhất
nhưng trên cơ sở điều kiện tiên quyết là miền Bắc phải giảm quân số trước, đòi
cho di cư vào Nam Điều đó có nghĩa là chúng không muốn thống nhất đất
nước.
Ngày 22-12-1958, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà lại gửi công
hàm cho chính quyền miền Nam, vạch rõ thực trạng miền Nam dưới chế độ Mỹ
– Diệm “Đồng bào ta không ngừng hy sinh phấn đấu chống chế độ thực dân
Pháp và anh dũng kháng chiến 9 năm, chính là để xây dựng một chế độ mới độc
lập, tự do, hạnh phúc. Thế mà hoà bình đã lập được hơn 4 năm rồi, đồng bào ta
ở miền Nam vẫn chưa được an cư lạc nghiệp. Đồng bào phải chịu cảnh số áp
bức bóc lột nặng nề hiện nay bao nhiêu thì càng nhận rõ sự can thiệp của đế
Trang 16
quốc Mỹ vào miền Nam là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình cảnh ấy và ngăn trở
sự nghiệp hoà bình thống nhất tổ quốc ta’’.

7. Thực hiện nam nữ bình quyền, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân
tộc và thực hiện quyền tự trị của các dân tộc thiểu số. Bảo về quyền lợi chính
đáng của ngoại kiều sinh sống ở Việt Nam. Bảo hộ và chăm sóc quyền lợi của
kiều bào ở hải ngoại.
8. Thực hiện chánh sách ngoại giao hoà bình trung lập, đặt quan hệ ngoại
giao với tất cả các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam.
9. Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hoà bình thống
nhất Tổ quốc.
10. Chống chiến tranh xâm lược. Tích cực bảo vệ hoà bình thế giới”
Ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa anh em
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta đã nhận được sự
viện trợ tích cực, sự giúp đỡ tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là
Liên Xô và Trung Quốc là một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm
nên thắng lợi của Việt Nam – và nhân dân Việt Nam không bao giờ có thể quên
điều đó. chuyến thăm Liên Xô, Trung Quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao đổi
về tình hình Việt Nam, Đông Dương và các quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về đường lối cách mạng nước ta trong giai đoạn mới. Năm 1956, Chủ tịch Hồ
Chí Minh lần đầu tiên thăm chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ. Tiếp
đó, năm 1957, Người dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm 9 nước, bao gồm
các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Bắc Á và một số nước dân tộc chủ nghĩa
ở Châu Á. Trong các cuộc đi thăm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ mong
muốn tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước, đồng thời đề cao
quan hệ đoàn kết giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và
Trung Quốc đứng đầu.
Một trong những thành tựu lớn của ngoại giao Việt Nam giai đoạn 1954-
1960 là việc mở rộng, củng cố mối quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa anh
Trang 18
em, tranh thủ sự giúp đỡ để khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc, tạo ra lực
lượng cho cách mạng cả nước.
Bằng các chuyến thăm hữu nghị của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh với mục đích

của dân tộc Việt Nam, đồng thời thấy được âm mưu, bản chất của đế quốc Mỹ
và chính quyền Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, chúng ta chủ trương hoà bình phải
có nguyên tắc và phải gắn với phong trào độc lập dân tộc, gắn với bảo vệ các
quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam và phục vụ sự nghiệp giải phóng các dân
tộc bị áp bức trên thế giới. Kế tiếp truyền thống đấu tranh ngoại giao của ông
cha ta, Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh trên mặt
trận ngoại giao đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cuối cùng giành độc lập,
tự do, chủ quyền cho dân tộc. Kết thúc thắng lợi hào hùng, ghi vào trang sử
vàng chói lọi của cách mạng Việt Nam mãi mãi gắn liền với tên tuổi Chủ tịch
Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người vun đắp khối đại
đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài
cách mạng đã chỉ ra con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Tư
tưởng chỉ đạo xuyên suốt “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, là chủ
trương chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được quân và dân ta thực hiện
một cách trọn vẹn nhất, đi đến thắng lợi hoàn toàn, thống nhất đất nước.
Trang 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. o/
2. />3. giáo trình đường lối cách mạng đảng cộng sản Việt Nam-nxb chính trị
quốc gia
4. một số tài liệu nghiên cứu về đường lối đối ngoại của đảng cộng sản Việt
Nam
Trang 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status