BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM T.P HỒ CHÍ MINH
PHAN NGỌC THỊNH
VAI TRÒ CỦA HUYỆN LỘC NINH
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 -1975) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM T.P HỒ CHÍ MINH PHAN NGỌC THỊNH VAI TRÒ CỦA HUYỆN LỘC NINH
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
Lời cảm ơn!
Để hoàn thành đề tài này, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến
PGS.TS Võ Xuân Đàn kính mến đã chỉ bảo, dìu dắt tôi từ những ngày đầu
cho đến khi hoàn thành đề tài này.
Tôi rất bIết ơn đến Ban tuyên giáo huyện Lộc Ninh, Ban chỉ huy quân
sự huyện Lộc Ninh, cán bộ trong bảo tàng tỉnh Bình Phước đã nhiệt tình cung
cấp tư liệu liên quan đến đề tài cho tôi.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM,
Phòng sau Đại học, Khoa Lịch sử, Phòng công nghệ và môi trường Quân khu
7, thư viện trường, thư viện khoa học Tổng hợp Tp.HCM, Trường THPT Lộc
Ninh đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tác giả
3T2.2.1.3T 3TÂm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ ở Lộc Ninh3T 28
3T2.2.3.3T 3TQuân và dân Lộc Ninh góp phần đánh bại âm mưu bình định, phá tan hệ thống
ấp chiến lược của Mỹ - Diệm (1961 - 1965)3T 33
3T2.3.3T 3TQuân và dân Lộc Ninh góp phần làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của
đế quốc Mỹ (1965 - 1968)3T 38
3T 2.3.1.Chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở Lộc Ninh 38
3T2.3.2.3T 3TQuân và dân Lộc Ninh phối hợp cùng bộ đội chủ lực đánh Mỹ, diệt ngụy, mở
rộng và giữ vững vùng giải phóng3T 39
3T2.4.3T 3TQuân và dân Lộc Ninh kiên trì bám trụ, phục hồi và xây dựng lực lượng phục vụ
chiến đấu, tham gia giải phóng hoàn toàn quê hương (1969 -1972)3T 45
3T2.4.1.3T 3TQuân và dân Lộc Ninh kiên cường, bám trụ, xây dựng lực lượng3T 45
3T2.4.2.3T 3TQuân và dân Lộc Ninh cùng bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ,
giải phóng hoàn toàn quê hương3T 50
3TCHƯƠNG III3T 55
3TLỘC NINH TRỞ THÀNH THỦ PHỦ CỦA CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HÒA
MIỀN NAM VIỆT NAM, CĂN CỨ ĐỊA CỦA BỘ CHỈ HUY MIỀN VÀ LÀ HẬU
PHƯƠNG TRỰC TIẾP CỦA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH (1972 -1975)3T 55
3T3.1.3T 3TLộc Ninh sau ngày giải phóng3T 55
3T3.1.1.3T 3TXây dựng, củng cố chính quyền và phát triển lực lượng vũ trang3T 55
3T3.1.2.3T 3TTình hình kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế3T 56
3T3.2.3T 3TXây dựng Lộc Ninh trở thành trung tâm chính trị, căn cứ địa vững chắc của Bộ chỉ
huy Miền3T 59
3T3.3.3T 3TLộc Ninh – Hậu phương trực tiếp của chiến dịch Hồ Chí Minh3T 68
3TKẾT LUẬN3T 74
3TTÀI LIỆU THAM KHẢO3T 80
3TPHỤ LỤC3T 88
3TPHỤ LỤC 13T 89
3TPHỤ LỤC 23T 98
để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn
toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ
dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh cách
2
mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng ”
[41; tr 89 - 90].
Với những tính chất trên và do có vị trí quan trọng, nên từ khi được giải
phóng năm 1972, huyện Lộc Ninh đã được chọn làm trung tâm chính trị, căn
cứ của Bộ chỉ huy Miền, “Lộc Ninh được giải phóng năm 1972 cùng với toàn
tỉnh Phước Long được giải phóng đầu năm nay đã trở thành một căn cứ quan
trọng của ta, hiện nay trở thành một địa bàn rộng lớn rất thuận lợi cho cuộc
Tổng tiến công vào Sài Gòn sắp tới” [28; tr 81].
Trong thắng lợi chung của quân dân miền Nam trong cuộc chiến tranh
chống Mỹ, quân và dân Lộc Ninh đã có những đóng góp khá quan trọng của
mình. Tuy nhiên vai trò này của huyện Lộc Ninh chưa được đi sâu nghiên cứu
và không được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu lịch sử.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, đặc biệt Lộc
Ninh là một huyện biên giới Tây nam của Tổ quốc, việc nhận thức và giáo
dục thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân, niềm tự
hào về những đóng góp của quê hương vào thắng lợi chung của dân tộc trong
cuộc chiến tranh chống Mỹ là hết sức cần thiết. Đã có một số công trình
nghiên cứu về huyện Lộc Ninh, nhưng chưa phản ánh toàn diện và có tính
tổng kết. Vì vậy luận văn muốn đi sâu vào nghiên cứu để tìm hiểu vấn đề này,
đồng thời góp phần vào việc nghiên cứu và giáo dục lịch sử địa phương trên
địa bàn huyện Lộc Ninh – tỉnh Bình Phước, nơi mình sinh sống và công tác là
công việc hết sức cần thiết. Đó cũng là lí do và cũng là mục đích tôi chọn đề
tài “Vai trò của huyện Lộc Ninh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954 - 1975)” để nghiên cứu.
II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
(1954 - 1975), Trường ĐHSP Tp.HCM, 2008. Bước đầu tìm hiểu về căn cứ
Lộc Ninh trong kháng chiến chống Mỹ
Luận án tiến sĩ lịch sử của Trần Thị Nhung, Căn cứ địa ở miền Đông
Nam bộ trong cuộc kháng chiến chông Mỹ (1954 -1975), Viện KHXH tại
4
TPHCM, 2001. Có đề cập đôi nét đến căn cứ Lộc Ninh trong giai đoạn cuối của chiến
tranh.
Ngoài ra còn có các bài viết về Lộc Ninh trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ ở Lộc Ninh của Bảo tàng tỉnh Bình Phước đó là bài tác giả Tô Thị Huê:
Lộc Ninh – đoạn cuối đường Hồ Chí Minh.
Ban tuyên giáo Huyện Lộc Ninh có bài Căn cứ Lộc Ninh (1973 -
1975). Đây là bài viết về căn cứ Lộc Ninh từ 1973 -1975.
Thiếu tướng Đoàn Văn Khoan với bài Lộc Ninh trận đánh mở màn
chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, Thông tin khoa học công nghệ và môi trường
Quân khu 7, Số 35 tháng 6-2002. Viết về diễn biến của trận đánh giải phóng
Lộc Ninh.
Các công trình nghiên cứu trên giúp hiểu về cuộc kháng chiến chống
Mỹ của huyện Lộc Ninh.Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chưa
nghiên cứu một cách cụ thể và đánh giá về vai trò của một huyện trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ. Đó cũng là một vấn đề chưa được quan tâm thỏa
đáng. Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trên, luận văn đi vào
nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về vai trò của huyện Lộc Ninh nói
chung ở miền Đông Nam bộ và ở huyện Lộc Ninh- tỉnh Bình Phước nói riêng
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
III. NGUỒN TƯ LIỆU
Tài liệu về lý luận chiến tranh, căn cứ địa và hậu phương trong chiến
tranh được đề cập trong các tác phẩm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, của các đồng chí lãnh tụ. Các bài nghiên cứu được
công bố trên các công trình khoa học và các tạp chí, các luận án tiến sĩ lịch sử,
Đó là những nội dung chính mà luận văn đề cập đến.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình làm luận văn tôi sử dụng phương pháp lịch sử và
phương pháp Logic là phương pháp chủ yếu. Bên cạnh hai phương pháp đó
tôi cón sử dụng phương so sánh, phân tích, tổng hợp để xác định tính chính
6
xác của tư liệu, từ đó làm sang tỏ nội dung nghiên cứu. Và để hiểu mối liên hệ
giữa Lộc Ninh với chiến trường Nam Bộ tôi sử dụng phương pháp so sánh
lịch sử.
Đặc biệt, khi nghiên cứu về một huyện, một vấn đề khó khăn trong
nghiên cứu đó là có rất ít tư liệu thành văn để lại. Do đó tôi phải kết hợp với
phương pháp khảo sát điền dã để sưu tầm tư liệu đồng thời liên hệ trực tiếp
với một số nhân chứng lịch sử đang sinh sống tại Lộc Ninh và có tham gia
vào cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Lộc Ninh, những nhà nghiên cứu về Lộc
Ninh và Bình Phước để thẩm định tư liệu.
Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp liên nghành mà các nghành khoa
học khác để lại như : địa lý quân sự, khoa học quân sự…. để nghiên cứu và
trình bày luận văn.
VI. ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Bước đầu tìm hiểu và đánh giá vai trò của huyện Lộc Ninh trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ.
Trên cơ sở luận văn góp phần làm phong phú hơn tư liệu lịch sử dân
tộc thời kì kháng chiến chống Mỹ.
Đồng thời cũng góp phần làm phong phú tư liệu về lịch sử huyện Lộc
Ninh, phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở địa phương,
nhằm phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân trên địa
bàn Huyện, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
đất nước hiện nay.
VII. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
giới phía Tây – Nam giáp tỉnh Tây Ninh. Phía Đông giáp huyện Bù Đốp và
huyện Phước Long. Phía Nam giáp với huyện Bình Long. Lộc Ninh có tổng
diện tích tự nhiên là 86.297,52ha
P0F
1
P.
Lộc Ninh có 7/16 đơn vị hành chính có biên giới với Vương quốc
Campuchia, đây là một trong những lợi thế quan trọng về vị trí địa lý, thuận
lợi cho giao thương kinh tế với nước bạn Campuchia trong phát triển kinh tế -
xã hội thông qua cửa khẩu quốc tế Hoa Lư.
Lộc Ninh có địa hình cao từ phía Bắc, thấp dần về phía Nam, nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Phần lớn đất ở Lộc Ninh là đất đỏ bazan có độ phì nhiêu cao, phù hợp
các loại cây trồng có thu nhập cao như: cà phê, điều, hồ tiêu, cao su.
Lộc Ninh có 2 con sông lớn chạy qua là sông Măng tạo thành biên giới
tự nhiên giữa Việt Nam và Campuchia, sông Bé tạo thành ranh giới tự nhiên
giữa Lộc Ninh với huyện Phước Long. Ngoài ra còn có Suối Cần Lê là ranh
giới giữa huyện Lộc Ninh với huyện Bình Long và trên 20 con suối lớn nhỏ
trên địa bàn huyện. Với nguồn nước phong phú, thời tiết 2 mùa mưa nắng rõ
1
Số liệu do Ban tuyên giáo huyện Lộc Ninh cung cấp.
9
rệt, đặc biệt thích hợp cho sự phát triển của các loại cây công nghiệp có giá trị
xuất khẩu cao như cao, hồ tiêu, cà phê….
Trên địa bàn Huyện Lộc Ninh có nhiều loại khoáng sản có ý nghĩa kinh
tế lớn, như đá vôi, đá xây dựng, đất sét làm gạch ngói, cao lanh, cát sỏi…
Mỏ đá vôi Tà Thiết có trữ lượng lớn, khoảng 360 triệu tấn, cung cấp
Bộ ngày nay, đã xuất hiên một quốc gia có tên gọi là Phù Nam [45; tr13 -14].
Vào cuối thế kỷ VI, đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, các
thuộc quốc lần lượt trở thành các vương quốc độc lập. Riêng Chân Lạp, nhân
cơ hội đó đã tấn công và chiếm lấy một phần lãnh thổ Phù Nam ở vùng hạ lưu
sông Mê Kông. Vùng đất Nam bộ đã bị phụ thuộc vào Chân Lạp [45; tr 21].
Huyện Lộc Ninh – tỉnh Bình Phước là 1 vùng đất thuộc miền Đông
Nam Bộ, như vậy có thể nói vào thời kỳ này thì Lộc Ninh thuộc Phù Nam,
tiếp đó là Chân Lạp.
Mãi tới năm 1698, miền Đông Nam bộ mới trở thành phủ huyện chính
thức của Việt Nam [39; tr 161]. Địa bàn Sông Bé dưới thời chúa Nguyễn
thuộc dinh Trấn Biên [39; tr 146]. Lúc này, Lộc Ninh thuộc dinh Trấn Biên.
Từ năm 1801, triều Nguyễn bắt đầu cho thiết lập cơ cấu hành chính và
hệ thống đồn ải để quản lý dân cư và lãnh thổ. Lúc bấy giờ, vùng Lộc Ninh
thuộc huyện Phước Long, trấn Biên Hoà (sau đổi thành tỉnh Biên Hoà).
Tháng 12 năm 1861, sau khi chiếm tỉnh thành Biên Hoà, thực dân Pháp
đưa quân tiến chiếm Lộc Ninh. Đến năm 1867, 6 tỉnh Nam kỳ đều rơi vào tay
Pháp. Thực dân Pháp đã nhanh chóng thiết lập bộ máy cai trị gồm 27 địa hạt
hành chính trên toàn Nam Kỳ. Đến năm 1889 nâng các địa hạt hành chính lên
thành tỉnh. Lúc này, Lộc Ninh trở thành một tổng của Phủ Phước Long, tỉnh
Biên Hoà và đến năm 1893 Lộc Ninh là một tổng của quận Cần Lê.
Bước sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp lần lượt lập nên ở vùng Lộc
Ninh - Hớn Quản các đại lý hành chính và đồn binh như đại lý hành chính
Hớn Quản
P1F
2
P (1906), đồn binh Bù Đốp (1906) để xiết chặt ách kiểm soát. Năm
2
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trong Địa chí tỉnh Sông Bé là đại lý hành
chính tên là Hớn Quảng [39; tr 223]. Hiện nay tên gọi là Hớn Quản.
tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước trước đây, bao gồm 9 huyện, thị. Ba huyện
12
Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn thành hợp nhất thành huyện Bình Long, thuộc tỉnh
Sông Bé.
Đến tháng 3 năm 1978, Chính Phủ nước Cộng Hoà xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam quyết định tách huyện Lộc Ninh ra khỏi huyện Bình Long và Bù
Đốp ra khỏi huyện Phước Long để thành lập huyện Lộc Ninh mới.
Ngày 1 tháng 1 năm 1997 tỉnh Sông Bé cắt các huyện Lộc Ninh, Chơn
Thành, Đồng Phú, Phước Long, Bù Đăng, Bình Long để thành lập tỉnh Bình
Phước.
Thực hiện Nghị Định 17/NĐ-CP ngày 20 tháng 2 năm 2003 về việc
thành lập huyện Bù Đốp, từ ngày 1 tháng 5 năm 2003 huyện Lộc Ninh được
tách ra thành 2 huyện Bù Đốp và Lộc Ninh. Sau khi chia tách, huyện Lộc
Ninh gồm 12 xã và 1 thị trấn, đến năm 2008 thành lập thêm 3 xã mới nâng lên
tổng số xã là 15 và 1 thị trấn
P2F
3
P.
1.3. Dân cư và truyền thống yêu nước của nhân dân huyện Lộc Ninh
trong lịch sử
1.3.1. Cộng đồng dân cư
Từ xa xưa cho đến cuối thế kỷ XIX, Lộc Ninh còn là một vùng rừng
núi hoang vu bạt ngàn. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được nhiều di chỉ khảo
cổ ở Lộc Ninh như ở Lộc Thắng, Lộc Khánh bước đầu xác định được Lộc
Ninh từ xa xưa đã có con người cư trú khoảng từ 2500 cho đến 3000 trước
(tương ứng với thời kỳ phát triển của văn minh Đông Sơn)[3; tr 10]. Đó là vài
nhóm thuộc người Indonesien cổ nói tiếng Môn-Khmer, tổ tiên của người
S’tiêng, Mạ, M’nông, Khmer hiện nay[30; tr 17].
Tại Lộc Ninh các nhà khảo cổ học đã phát hiện một trống đồng có niên
lừa bịp và cưỡng ép đồng bào Thiên chúa giáo di cư vào Nam, cải tổ việc bố
trí dân cư và tổ chức bộ máy hành chính nhằm tạo lá chắn bảo vệ thủ đô Sài
Gòn từ xa. Đồng thời để tạo bàn đạp cơ động tấn công các căn cứ kháng
chiến, tách dân ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng. Đồng bào Thiên chúa giáo
ở xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm bị đẩy lên đây đã xây dựng các đồn điền Chu
Ninh 1,2,3 ở Thiện Hưng, Tích Thiện, ở Lộc Khánh… Tiếp đó, nhiều gia đình
vốn là dân vùng căn cứ kháng chiến khu 5, nhất là Quảng Nam, Quảng Ngãi
14
cũng bị lùa vào định cư ở Lộc Ninh, tại những khu trọng điểm trong kế hoạch
quân sự địa phương của Mỹ - Diệm.
Sau khi được giải phóng năm 1972, Lộc Ninh là nơi tiếp nhận hàng vạn
Việt kiều từ Campuchia chạy về tránh sự khủng bố, giết hại của bọn phản
động Lon Nol đang cầm quyền. Dân số Lộc Ninh tăng vọt từ 30.000 người
tăng vọt lên 60.000 người [30; tr 156].
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, hưởng ứng chủ
trương của Đảng về việc phân bố lại dân cư, xây dựng các vùng kinh tế mới,
dân nhiều địa phương thuộc Hà Sơn Bình, Bình Trị Thiên, Thành phố Hồ Chí
Minh đến Lộc Ninh làm ăn sinh sống ngày càng nhiều [30; tr 21].
Trong thời gian gần đây việc di dân tự do của đồng bào các dân tộc vào
định cư ở Lộc Ninh đã trở thành hiện tượng khá phổ biến. Dân số Lộc Ninh
tăng nhanh chóng, từ 60.000 dân năm 1987 [30; tr 21] đến năm 2006, dân số
huyện Lộc Ninh là 114.982 người, với trên 10 dân tộc anh em cùng sinh sống.
Lộc Ninh là nơi đông đảo đồng bào các dân tộc S’tiêng, M’nông sinh
sống trên địa bàn tỉnh Bình Phước và là nơi quy tụ dân cư của các miền đất
nước đến đây làm ăn, sinh sống. Họ là những người lao động nghèo khổ, bị
vua quan phong kiến, thực dân, đế quốc đàn áp, bóc lột. Do vậy, họ không
phân biệt là những người từ nơi này hay nơi khác đến mà cùng đoàn kết, giúp
đỡ lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Họ nêu cao tinh thần thượng võ, không sợ
khó khăn gian khổ đấu tranh bất khuất trước mọi kẻ thù. Sẵn sàng hy sinh vì
phải rút về Long Nguyên (Bến Cát), kiên cường chống giặc và ông đã anh dũng hy
sinh[31; tr 29].
Năm 1924 – 1925, thực dân Pháp đưa Gatille lên làm quản đạo ở khu
vực Bù Đốp và vùng tiếp giáp với biên giới Campuchia. Chính sách cai trị tàn
bạo của Gatille đã làm thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của đồng bào S’tiêng sau
một thời gian tạm lắng. Một thủ lĩnh khác, ông Rít Đinh đã tập hợp được các
thủ lĩnh của người Stiêng, Mơ Nông kết hợp với phong trào đấu tranh của
công nhân cao su, chiến đấu chống sự đàn áp dã man của thực dân Pháp và
bọn chủ các đồn điền đối với đồng bào các dân tộc và công nhân cao su. Rít
16
Đing và nghĩa quân của ông đã phục kích, giết chết tên Gatille, đại úy quận
trưởng Bù Đốp và một số lính Pháp đi với hắn, trong lúc y đang chỉ huy làm
con đường số 14 vào năm 1925 [30; tr 25].
Bước sang thập niên 30 của thế kỷ XX, đồng bào các dân tộc ở Lộc
Ninh lại tiếp tục nổi dậy. Tiêu biểu là những chiến công của nghĩa quân
S’tiêng do Điểu Son, Điểu Giang, Điểu Mốt, Diểu Môn, Điểu Sung lãnh đạo
[30; tr 25-26].
Mặc dù các cuộc nổi dậy vũ trang của đồng bào các dân tộc đều không
thành công nhưng qua đó đã thể hiện truyền thống bất khuất, đoàn kết chống
giặc của đồng bào các dân tộc ở Lộc Ninh. Các cuộc nổi dậy đó đã khởi dậy
tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm của đồng bào các dân tộc ở Lộc
Ninh và các địa phương lân cận, đồng thời ít nhiều đã làm cho bọn thống trị
thực dân và tay sai của chúng vô cùng lo ngại.
Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh của công nhân ở Lộc Ninh cũng bắt
đầu nổ ra tiêu biểu là ngày 8 tháng 4 năm 1928, hàng trăm công nhân thuộc
các làng Lộc Tấn đã đấu tranh và đưa ra yêu sách đòi cải thiện dân sinh [73; tr
6]. Tuy nhiên cuộc đấu tranh bị đàn áp và giải tán.
Tháng 4 năm 1928, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồn
điền cao su Phú Riềng được thành lập gồm 5 hội viên do đồng chí Nguyễn
lương cho công nhân, thi hành ngày làm việc 8 giờ, bớt từ 400 cây xuống 350
cây/ngày, công nhân bị bệnh phải có thuốc uống [31; tr 60 - 61]. Trước tình
hình trên, buộc bọn chủ đành chấp nhận yêu sách và hứa giải quyết.
Trong những năm 1938 đến 1944 phong trào đấu tranh của nhân dân và
công nhân ở Lộc Ninh vẫn diễn ra sôi nổi. Đến tháng 2 năm 1944, chi bộ
Đảng Lộc Ninh được thành lập gồm 3 đồng chí, do đồng chí Lê Đức Anh, ủy
viên Ban cán sự Đảng tỉnh Thủ Dầu
Một, phụ trách vấn đề dân tộc thiểu số
kiêm Bí thư chi bộ [30; tr 41].
Đến đây, Lộc Ninh đã có một chi bộ cộng sản trực tiếp lãnh đạo phong
trào cách mạng ở địa phương. Sau khi thành lập, Chi bộ Lộc Ninh khẩn
trương gây dựng và phát triển lực lượng, đẩy mạnh các hoạt động tuyên
18
truyền cách mạng trong nhân dân và công nhân, chuẩn bị đón thời cơ phát
động quần chúng công nhân và dân tộc vùng lên khởi nghĩa.
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng huyện Lộc Ninh, phong trào cách
mạng ở Lộc Ninh phát triển không ngừng. Trong khí thế cách mạng tháng
Tám diễn ra trên cả nước, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Lộc Ninh
cũng diễn ra sôi nổi.
Ngày 24 tháng 8 năm 1945, nhân dân Lộc Ninh đã nhất tề nổi dậy
giành chính quyền [31; tr 80]. Lộc Ninh trở thành một trong những nơi giành
chính quyền sớm nhất trong tỉnh Thủ Dầu Một [31; tr 80].
Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa ở Lộc Ninh đã góp phần vào thắng
lợi chung của toàn tỉnh, toàn Nam bộ và cả nước. Chấm dứt ách thống trị của
thực dân Pháp và phát xít Nhật, mở ra trang sử mới trong lịch sử của nhân dân
Lộc Ninh, đồng thời tạo ra những tiền đề quan trọng để nhân dân cùng cả
nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), nhân dân
Lộc Ninh cùng nhân dân cả nước đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ,
nhân dân Lộc Ninh cũng tưng bừng, phấn khởi mừng hoà bình.
Đế quốc Mỹ đã nhòm ngó và có âm mưu thôn tính Việt Nam và Đông
Dương từ lâu, nhằm khống chế vùng Đông Nam Á, ngăn chặn phong trào giải
phóng dân tộc và phong trào cộng sản, bao vây Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa, thực hiện chiến lược toàn cầu của mình. Lợi dụng thực dân Pháp
thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và đang trên đà suy
yếu, đế quốc Mỹ dùng áp lực buộc Pháp trao trả toàn bộ chủ quyền ở miền
Nam cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, nhằm biến miền Nam thành
thuộc địa kiểu mới và là căn cứ quân sự của chúng.
Để thực hiện mưu đồ trên, từ tháng 4 năm 1954, Mĩ thành lập một cơ
quan viện trợ quân sự Mỹ (Military Assistance Advisory Group – viết tắt là
MAAG) ở miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ huy của John O'Daniel. Từ giữa
tháng 7 năm 1954, cố vấn Mỹ tấp nập đến Sài Gòn. Cùng lúc này Mỹ gạt Bửu