Đóng góp của quân và dân Củ Chi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 1975) - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ NGỌC TRINH

ĐÓNG GÓP CỦA QUÂN VÀ DÂN CỦ CHI
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU
NƯỚC
(1954 – 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành Phố Hồ Chí Minh - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ NGỌC TRINH

ĐÓNG GÓP CỦA QUÂN VÀ DÂN
CỦ CHI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Trần Văn Thức


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, VĂN HÓA - XÃ HỘI, TRUYỀN
THỐNG YÊU NƯỚC VÀ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN HUYỆN
CỦ CHI ............................................................................................................................... 10

1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, văn hóa - xã hội huyện Củ Chi ................ 10
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 10
1.1.2. Văn hóa - xã hội huyện Củ Chi ............................................................. 14
1.2. Lược sử hình thành huyện Củ Chi, truyền thống yêu nước cách mạng... 17
1.2.1. Lược sử hình thành huyện Củ Chi ........................................................ 17
1.2.2. Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của quân và dân Củ Chi ... 18
Tiểu kết ........................................................................................................... 22
CHƯƠNG 2: ĐÓNG GÓP CỦA QUÂN VÀ DÂN CỦ CHI TRONG GIAI ĐOẠN
1954 - 1965 CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC................... 23

2.1. Quân và dân Củ Chi trong cuộc đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ
(1954 - 1960) ................................................................................................... 23
2.1.1. Tình hình Củ Chi sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết .................. 23
2.1.2. Quân và dân Củ Chi đấu tranh chính trị đòi Mỹ phải thi hành Hiệp định
Giơnevơ, chống chiến dịch “Tố cộng, diệt cộng” ........................................... 29
2.2. Quân và dân Củ Chi góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
(1961 - 1965) ................................................................................................... 35
2.2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chính sách dồn dân lập “ấp chiến lược” của Mỹ - Diệm . 35
2.2.2. Chủ trương của ta .................................................................................. 38
2.2.3. Quân và dân Củ Chi góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
(1961 - 1965) .................................................................................................... 40
Tiểu kết ........................................................................................................... 78


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Về mặt khoa học
Củ Chi là một huyện ngoại thành của Thành Phố Hồ Chí Minh, cách
trung tâm thành phố 35 km về phía Tây - Bắc. Hiện nay Củ Chi có vị trí khá
quan trọng cả về kinh tế và quân sự trong sự nghiệp xây dựng và phát triển
của thành phố lớn nhất đất nước này. Nhưng nhắc đến Củ Chi chúng ta đều
muốn hướng về một Củ Chi kiên cường trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, Củ Chi là vùng tập kết lực lượng
để thọc sâu vào hang ổ cuối cùng của Ngụy quyền Sài Gòn và được mệnh
danh là “Đất Thép Thành Đồng” . Chính quyền tay sai của thực dân, đế quốc
xâm lược coi đây là cửa ngõ bảo vệ thủ phủ của chúng, là “vùng tam giác
sắc” cần phải chiếm giữ và sau đó chúng muốn biến Củ Chi trở thành vùng
trắng để làm vành đai bảo vệ Sài Gòn.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Củ Chi là biểu tượng
của ý chí bám đất giữ làng chiến đấu chống ngoại xâm, mảnh đất giàu truyền
thống cách mạng. Lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Củ Chi
trong giai đoạn 1954 - 1975 gắn liền với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ
của dân tộc ta với những nét đặc thù. Trong khói lửa của chiến tranh, Củ Chi
đã xây dựng vùng địa đạo đặc biệt, trở thành chiến khu kháng chiến của
những người dân “Đất thép thành đồng”. Với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
vào lúc 13 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, quân dân Củ Chi đã mở toang cửa
ngõ Tây - Bắc, tiến vào giải phóng Sài Gòn, góp phần quan trọng trong sự
nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Quân và dân Củ
Chi đã nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và trí thông minh sáng
tạo để làm nên những trang sử hào hùng trong chiến đấu chống kẻ thù xâm
lược, giành độc lập dân tộc. Với mong muốn làm sáng tỏ thêm các vấn đề

1


2


Củ Chi – vùng đất cách mạng kiên cường, đóng góp một phần không
nhỏ trong sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thực sự đã trở thành
chủ đề khoa học cho nhiều công trình nghiên cứu. Từ những cuốn sách mang
tính thông sử cho đến các tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu đều đã đề cập ít
nhiều đến phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Trước hết là mảng tài liệu mang tính tổng quát, đề cập một vài khía
cạnh liên quan tới đề tài. Đó chính là những công trình nghiên cứu về cách
mạng miền Nam nói chung, về cuộc đấu tranh của quân dân Sài Gòn... Có thể
kể ra các công trình tiêu biểu sau: cuốn “Lịch sử công tác Đảng công tác
chính trị lực lượng võ trang thành phố Hồ Chí Minh (1945-2005)” của Đảng
Ủy - Bộ Chỉ huy quân sự TP.HCM được Nxb Quân đội Nhân dân phát hành
năm 2008, đề cập đến những nội dung như: công tác Đảng, công tác chính trị
của quần chúng nhân dân chuẩn bị tích cực về sức người lẫn sức của ở tại địa
phương, trong đó có vùng đất Củ Chi; cuốn “Truyền thống đấu tranh cách
mạng của nông dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định (1959-1975)” được Hội
nông dân thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1991 đã đề cập tương đối tới
những chiến công của nông dân các huyện thuộc Củ Chi. Cuốn “Sơ thảo Lịch
sử truyền thống Ban an ninh quận Củ Chi thành phố Sài Gòn –Gia Định 1961
- 1975”, được Công an TPHCM kết hợp cùng Công an huyện Củ Chi ban
hành nội bộ năm 2001 có đề cập đến vấn đề lực lượng an ninh Củ Chi đẩy
mạnh đấu tranh, đánh địch phá hoại Hiệp định Paris.
Tại địa phương Củ Chi, Đảng bộ huyện cũng như các Đảng bộ bộ phận
các xã cũng đã cho xuất bản nhiều công trình có giá trị về truyền thống cách
mạng của cha ông mình. Đây thực sự là nguồn tài liệu phong phú, quý giá cho
tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài. Trước hết đó là công trình “Lịch sử
truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Củ Chi
(1930 - 1975)” của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Củ Chi, Nxb tổng hợp

ủy xã Trung Lập Hạ, Huyện Củ Chi chỉ đạo nghiên cứu và được Nxb Tổng
hợp TPHCM in năm 2008, giới thiệu về tình hình quân và dân Trung Lập Hạ
chống địch giành dân lấn đất oai hùng kiên cường tiến tới toàn thắng. Năm
2009, cuốn “Sơ thảo lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân
dân Xã Trung An (1930-2005)” của Ban chấp hành Đảng bộ xã Trung An đã

4


được xuất bản, giới thiệu về tình hình nhân dân Trung An quyết liệt đấu tranh
với chính quyền Mỹ - Ngụy về vấn đề vi phạm Hiệp định Paris, bẽ gãy các
biện pháp kìm kẹp, cùng các lực lượng cách mạng tiến tới giải phóng hoàn
toàn xã Trung An. Cuốn “Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và
nhân dân xã Tân Phú Trung (1930-2005)” cũng được Ban Chấp hành Đảng
bộ xã Tân Phú Trung chỉ đạo nghiên cứu, được Nxb Tổng hợp TPHCM phát
hành, đã nêu lên truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Tân Phú
Trung, nơi xuất phát của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đóng góp vào hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và Mỹ, làm rõ được nét đặc biệt sáng tạo trong nghệ
thuật chiến tranh nhân dân địa phương này. Cuốn “Lịch sử truyền thống cách
mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Tân Thông Hội (1930 -2010)” của Ban
Chấp Hành Đảng bộ xã Tân Thông Hội đã nêu rất rõ về quá trình đấu tranh
của quần chúng nhân dân Tân Thông Hội từ khi có Đảng cho đến khi giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cùng quá trình từng bước đổi mới,
đưa xã vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh,
văn minh tiến lên theo con đường Xã hội Chủ nghĩa.
Có những tài liệu đáng quý chưa được xuất bản như “Sơ thảo lịch sử
đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Nhuận Đức,(1930-1975), tài liệu viết
tay, nhưng cũng đã nêu rất rõ về tình hình Đảng lãnh đạo nhân dân Nhuận
Đức phát huy thắng lợi của Hiệp Định Paris và chủ động tham gia chống càn
quét trong thời gian 1973- 1975. Cuốn “Sơ thảo Lịch sử đấu tranh cách mạng

Mỹ - Ngụy phải thi hành đúng các điều khoản trong Hiệp định Giơnevơ
(1954) tới sự tham gia chống lại các cuộc càn quét dồn dân lập ấp trong
thời gian Mỹ biến Củ Chi thành vùng tam giác sắt, cũng như sự đóng góp
của Củ Chi trong chiến thắng cuối cùng vào năm 1975. Từ đó, rút ra các
bài học truyền thống đấu tranh cách mạng, vận dụng và phát huy trong bối
cảnh hòa bình, xây dựng lại đất nước
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: được giới hạn chủ yếu trên địa bàn huyện Củ Chi và
trong một chừng mực nhất định được mở rộng trên địa bàn thành phố Sài Gòn
(nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

6


Về thời gian: tập trung vào giai đoạn kháng chiến từ năm 1954-1975,
sau khi ký Hiệp định Giơnevơ (1954) đến mùa Xuân năm 1975, chiến dịch
Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam .Tuy nhiên, để làm nổi rõ
nội dung chính, đề tài còn quan tâm nghiên cứu đến các sự kiện diễn ra trước
và sau đó.
4. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nguồn tài liệu
Tài liệu gốc: Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi đã tiến hành tiếp
cận, sưu tầm, tập hợp và xử lý nguồn tư liệu có liên quan đến nội dung vấn đề
nghiên cứu ở Thư viện huyện Củ Chi, Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện
Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng
Chiến dịch Hồ Chí Minh… Đáng chú ý là các tài liệu gốc hiện được lưu trữ
tại Nhà truyền thống huyện Củ Chi, Bảo tàng Quân khu 7, văn phòng Huyện
ủy – UBND huyện Củ Chi, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Củ Chi, Phòng Văn
hóa Huyện Củ Chi, Trung tâm lưu trữ quốc gia II, tài liệu lưu trữ tại Thành ủy
TP Hồ Chí Minh ... Đó còn là hồi ký của các nhân chứng lịch sử.



6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của Luận văn gồm 156 trang, được trình bày qua 3 chương:
CHƯƠNG 1: Khái quát địa lý tự nhiên, văn hóa - xã hội, truyền
thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Củ Chi
CHƯƠNG 2: Đóng góp của quân dân Củ Chi trong giai đoạn (1954
-1965) của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
CHƯƠNG 3: Đóng góp của quân dân Củ Chi trong giai đoạn
(1965-1975) của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

9


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, VĂN HÓA - XÃ HỘI,
TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG
CỦA NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, văn hóa - xã hội huyện Củ Chi
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Củ Chi là huyện nông nghiệp ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh,
nằm phía Tây Bắc, với diện tích tự nhiên 43.496 ha, phía Bắc giáp với Huyện
Trãng Bàng - Tỉnh Tây Ninh, phía Đông - Đông Bắc giáp huyện Bến Cát
thuộc Tỉnh Bình Dương, lấy sông Sài gòn làm ranh giới tự nhiên; phía Tây và
Tây Nam giáp với Huyện Đức Hòa thuộc tỉnh Long An; phía Nam giáp với
Huyện Hóc Môn [4,13].
Huyện Củ Chi nằm ở tọa độ 10o55 đến 110 10’ bắc vĩ tuyến và 106022’
đến 10040’ đông kinh tuyến. Thị trấn Củ Chi là huyện lỵ cách trung tâm
Thành phố 35 km theo quốc lộ 22 [4,13]. Trên bản đồ chúng ta thấy mặt bằng

đất canh tác của huyện [8,11].
Về giao thông: Củ Chi có thế mạnh là tuyến quốc lộ 22 (nay là
đường Xuyên Á) chạy dọc suốt theo chiều dài của huyện, tuyến đường giao
thông quốc tế nối liền Tây Ninh (Việt Nam) với Phnompenh (Campuchia)
qua cửa khẩu Mộc Bài hoặc cửa khẩu XaMat, làm cho việc lưu thông giữa
Thành phố Hồ Chí Minh với các Tỉnh rất thuận tiện. Ngoài quốc lộ 22 ra
Củ Chi còn có các đường liên tỉnh lộ và tỉnh lộ như: liên tỉnh lộ 15, tỉnh lộ
6, 7, 8, 9. Trong những năm gần đây, Củ Chi đã tập trung và và hoàn tất
việc nâng cấp bê tông nhựa nóng 240 tuyến đường giao thông nông thôn
làm cho các tuyến đường giao thông nơi đây lưu thông được dễ dàng và
thuận tiện cho việc sinh hoạt của nhân dân trong huyện. Cùng với hệ thống
đường bộ, hệ thống sông, rạch ở Củ Chi đã tạo nên một mạng lưới giao
thông thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân sống ven
sông. Sông Sài Gòn là một sông lớn nhất của Củ Chi, theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Củ Chi và tỉnh Sông Bé (nay

11


là Bình Dương, Bình Phước), chảy dài từ Dầu Tiếng qua Củ Chi và Bình
Dương qua Đồng Nai về Thành Phố Hồ Chí Minh với chiều dài ôm lấy
toàn bộ phía Đông huyện Củ Chi là 45 km. Đây là một trong những tuyến
vận tải đường thủy quan trọng trong thời chiến và thời bình.
Ngoài Sông Sài Gòn, Củ Chi còn có nhiều sông, suối, kênh, rạch lớn
nhỏ khác nhau. Ở phía Tây huyện có một nhánh nhỏ của sông Vàm Cỏ Đông
chảy vào nối với huyện Đức Hòa (tỉnh Long An), có suối Thai Thai (ở Xã
Phú Mỹ Hưng), suối Hố Bò, rạch Kè, rạch Láng The, rạch Bà Phước, rạch
Sơn… Rạch Tra (rạch Cầu Bông) là ranh giới hai huyện Củ Chi và Hóc Môn
dài 11 km, nối Bình Chánh qua Tân Phú Trung với Sông Sài Gòn. Củ Chi
cũng có một mạng lưới đáng kể các con kênh đào lớn nhỏ. Lớn nhất là kênh

270 C [4,15]. Lượng mưa trung bình năm từ 1.300 mm->1770mm, tăng dần
lên phía Bắc theo chiều cao địa hình, mưa phân bổ không đều giữa các tháng
trong năm, mưa tập trung vào tháng 7,8,9 [4,18].
Huyện Củ Chi nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió mùa.
Từ tháng 2 đến tháng 5 gió Tín phong có hướng Đông Nam hoặc Nam, tháng
5 đến tháng 9 hành là gió Tây - Tây Nam, ngoài ra từ tháng 10 đến tháng 2
năm sau có gió Đông Bắc.
Tài nguyên rừng: trước năm 1945, trong toàn huyện Củ Chi chỉ có
những khu rừng thứ sinh hoặc những lùm cây bụi với các loại cây to và nhiều
đồn điền cao su trên vùng đất cao, như đồn điền cao su Balanci ở Tân An Hội,
Fihol Micheline ở Phú Hòa Đông, Sinna Deyssac ở Phú Mỹ Hưng, Francini ở
Phước Vĩnh An với tổng diện tích cao su rộng 10.000ha.
Trong thời kỳ kháng chiến, Củ Chi là nơi diễn ra cuộc chiến ác liệt đã
làm cho thảm thực vật tự nhiên vùng này bị tàn phá nghiêm trọng, các vùng bị
coi là căn cứ cách mạng đều bị xóa trắng bởi bom đạn, các vùng đồi gò chỉ
còn cây cỏ mỹ, hà thủ ô, gai bụi, cỏ tranh, cỏ may… Các vùng thấp ven sông
Sài Gòn phía Nam bị nhiễm mặn vào mùa khô. Trên vùng đồi gò, thực vật tự
nhiên phổ biến là dừa nước, bình bát…, vùng bưng biền phèn có năn, lác,
đưng, dứa gai mọc tràn đầy.
Hơn thế nữa, từ sau 30/4/1975 đến nay, được sự đầu tư của các cấp, cơ
sở hạ tầng kỹ thuật như: lưới điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc của Củ

13


Chi đã có bước phát triển vượt bậc, góp phần làm thay đổi diện mạo của
huyện. Ngày nay, Củ Chi là điểm đến và là nơi trao đổi thương mại với các
nhà đầu tư trong và ngoài Nước. Đây cũng là điểm tham quan du lịch hấp dẫn
của du khách trong nước và quốc tế. Điều này đã góp phần nâng cao vị trí
chiến lược của Củ Chi nhiều hơn.

thâm tình giữa những người trong cùng một làng hay giữa hai làng gần nhau
ngày càng bền chặt. Họ còn tương trợ nhau trong những buổi xắt thuốc, trong
những dịp đám tang hay đám cưới, họ có thể chia sẽ nhau về nổi vui buồn.
Người nông dân còn trao đổi nhau về kinh nghiệm nhà nông trong những đêm
trăng thanh gió mát sau một ngày làm việc cực nhọc. Họ tụ họp để bàn
chuyện giữ xóm, giữ làng như bàn kế tương trợ khi có kẻ cướp, bàn chuyện
cúng miếu, đình để thần linh phò hộ cho dân làng tay qua nạn khỏi, được
khỏe mạnh, chạy thầy thuốc cho nhau khi ốm đau bệnh hoạn vì họ quan niệm
“Bà con xa không bằng láng giềng gần”[4,30].
Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, gia đình nông dân bị ly tán như
cha xa con, vợ xa chồng. Một số nông dân có đất ở trong các “ấp mới”
nhưng không có đất canh tác nên không thể tiếp tục nghề nông. Họ đành
chuyển nghề như tài xế, thợ mộc, buôn bán… Những nghề mới ít cần sự
tương trợ lẫn nhau, hơn nữa tình hình an ninh không cho phép người dân tụ
họp đông đảo vào ban đêm để trao đổi kinh nghiệm làm ăn. Đôi khi những
người hàng xóm ghét nhau vì tư lợi hay ỷ thế cậy quyền khi thân với các
nhân viên xã ấp. Do vậy,chiến tranh đã làm rạn nứt mối giao tiếp giữa các
thành phần dân cư [4;31].
Các yếu tố chính chi phối sự cư trú của người dân Củ Chi là địa hình và
điều kiện sinh sống. Đó là những vùng đất ít phèn, có nước ngọt, thích hợp
với việc trồng cây ăn trái và cây lương thực, hoặc dọc theo các trục giao
thông, gần chợ thuận lợi cho việc mua bán, đi lại của người dân. Dưới chế độ
cũ, người dân Củ Chi bị chính quyền ép buộc phải dời nhà đến sống chen
chúc nhau trong các “ấp chiến lược”, “ấp Tân Sinh”… dọc theo quốc lộ 22,
tỉnh lộ 8, tỉnh lộ 7, tỉnh lộ 15 hay xung quanh các đồn, bót để chúng dễ kiểm
soát và thực hiện âm mưu “tát nước,bắt cá”, “tách dân ra khỏi cách mạng”.
Với kiểu bố trí này đã làm đảo lộn mô hình cư trú truyền thống của người

15



16


1.2. Lược sử hình thành huyện Củ Chi, truyền thống yêu nước cách mạng
1.2.1. Lược sử hình thành huyện Củ Chi
Địa bàn Củ Chi, trước thời kháng chiến chống thực dân Pháp bao
gồm toàn bộ phần đất của Tổng Long Tuy Hạ, Tổng Long Tuy Trung và
một phần của Tổng Long Tuy Thượng, Bình Thạnh Trung của quận Hóc
Môn, tỉnh Gia Định.
Theo truyền khẩu của dân địa phương, xưa kia trên vùng đất này có
rất nhiều cây củ chi, trong đó có một cây cổ thụ rất to, đường kính khoảng
2m, cao khoảng 30m. Sẵn có cây Củ Chi to lớn, dân chúng nơi đây gọi là
Xóm Củ Chi, dần dần thương nhân tụ họp buôn bán và từ đây thành chợ Củ
Chi. Năm 1946, thời kỳ Việt Minh và Pháp đánh nhau, Pháp đóng tại chợ
Củ Chi. Từ đó vùng đất này mới có tên gọi theo truyền miệng của dân gian
là vùng đất Củ Chi.
Vào đầu năm 1900, tổ chức hành chính của tỉnh Gia Định gồm 4 quận
là: Quận Thủ Đức, Quận Nhà Bè, Quận Gò Vấp và Quận Hóc Môn (Củ Chi
thuộc Hóc Môn).
Trải qua bao cuộc thăng trầm biến đổi đến năm 1957 mới thành lập
quận Củ Chi trực thuộc tỉnh Bình Dương (Sông Bé ngày nay). Lúc bấy
giờ quận Củ Chi có 14 xã [4,49]. Đến năm 1963, để dễ cai trị chính quyền
Sài Gòn chia quận Củ Chi thành hai quận: quận Củ Chi sáp nhập vào tỉnh
Hậu Nghĩa mới thành lập và quận Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương, trụ sở
đặt tại xã Phú Hòa Đông, sau đổi về ngã tư Paris - Tân Qui (tỉnh lộ 8 và
tỉnh lộ 15) [4,50].
Về phía cách mạng, kể từ khi có Đảng cho đến cuối năm 1959, Củ Chi
vẫn còn là phần đất của huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Phong trào đấu tranh
cách mạng của nhân dân trong thời kỳ này chịu sự lãnh đạo thống nhất của

Từ thế kỷ XVII, những người dân đầu tiên đến khai phá vùng Củ Chi
này là những lưu dân Việt. Họ chủ yếu là dân đất Quảng Bình, Thuận Hóa
phải chạy trốn trong cuộc tranh chấp quyền lợi ngôi vị giữa hai dòng họ Trịnh
- Nguyễn. Những lưu dân Việt ra đi thuở ấy không chỉ mang theo mình sự can
trường trên đường mưu sinh lập nghiệp mà còn mang theo cả lịch sử hào hùng

18


hàng nghìn năm chống giặc ngoại xâm của dân tộc và nền văn minh lúa nước
sông Hồng.
Từ những ngày đầu đến lập nghiệp và sinh sống trên đất Củ Chi, người
dân nơi đây phải liên tiếp chống chọi với thiên tai, cũng như phải chịu áp bức,
bóc lột tàn bạo của các thế lực phong kiến và kẻ thù xâm lược. Tính cách đó
đã tạo nên những huyền thoại về những du kích tay không bắt giặc, sức mạnh
thần kỳ của những con người chân đất dám đối đầu với các thế lực hùng
mạnh, đối diện với chiến thuật chiến tranh hiện đại, vũ khí tối tân, tạo thành
vành đai thép mà quân thù không thể chọc thủng, không thể hủy diệt cho đến
ngày chúng thua thảm hại buộc phải rút quân về nước.
Lòng yêu nước của người dân Củ Chi chính là mảnh đất màu mỡ để
những hạt giống đỏ đầu tiên của Đảng nảy mầm, phát triển. Sau khi Đảng ra
đời, chi Bộ đầu tiên ở Củ Chi được thành lập tại xã Tân Phú Trung, và sau đó
các chi bộ Đảng lần lượt được thành lập tại các xã Trung An, An Nhơn Tây,
Phú Hòa Đông… [5;28-29]. Sự ra đời của các chi bộ Đảng đã lãnh đạo các
hoạt động cách mạng ở địa phương, tổ chức ra các hiệp hội đoàn thể, hình
thành lực lượng đấu tranh chính trị đến đấu tranh vũ trang khởi nghĩa giành
chính quyền.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu, quân
Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ. Quân, dân Củ Chi bước vào cuộc chiến
đấu mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, người dân Củ Chi khẩn trương chuẩn bị

nhiều tầng lớp nhân dân.
Cuộc chiến đấu với đế quốc Mỹ xâm lược trên vùng đất này là cuộc
chiến tranh toàn dân, toàn diện… Củ Chi là nơi giằng co quyết liệt giữa ta và
địch ở cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn. Ý chí đối đầu với bom đạn, lòng dân,
lòng đất đối chọi với xe tăng, máy bay, thiết giáp và cuối cùng quân dân Củ
Chi đã chiến thắng.
Ngày 20 tháng 12 năm 1994, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân
huyện Củ Chi được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân” vì đã có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu và
phục vụ chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược, góp phần vào sự nghiệp đấu

20


Trích đoạn Tình hình Củ Chi sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết Chủ trương của ta
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status