căn cứ địa cách mạng ở củ chi trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1954 - 1975) - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Thu

CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở CỦ CHI
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
CỨU NƯỚC (1954 - 1975) Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54
LU
ẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ MINH HỒNG

Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2009
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa qua đã để lại cho dân tộc ta nhiều bài học kinh

Củ Chi đã được xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò như thế nào trong cuộc kháng chiến trên địa
bàn? Đã có một số công trình nghiên cứu lịch sử quân sự nói chung và về căn cứ địa ở Củ Chi nói
riêng đề cập đến vấn đề này, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào phản ánh được toàn diện,
có hệ thống căn cứ địa ở Củ Chi trong kháng chiến chống Mỹ. Là người con của Củ Chi, đang
giảng dạy Lịch Sử cho thế hệ trẻ, bản thân tôi thấy cần thiết đi sâu tìm hiểu về vấn đề này nhằm
góp phần làm rõ hơn một mảng quan trọng của lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên
địa bàn mình đang sinh sống. Qua đó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, kiên cường
chống giặc ngoại xâm của dân tộc cho thế hệ trẻ ngày nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tầm quan trọng của vấn đề hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh nên đề tài này đã
được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các lãnh tụ, tướng lĩnh, các cơ quan nghiên cứu khoa
học, các nhà khoa học… Những tác phẩm, bài viết, luận án…đề cập đến vấn đề căn cứ địa ngày
càng nhiều hơn, nội dung sâu sắc hơn.
Trong các tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, (Nhà xuất bản Sự Thật,
Hà Nội, 1970) và “Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh
nhân dân ở nước ta” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973), Đại tướng Võ Nguyên
Giáp trình bày về căn cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề: Khái niệm căn cứ địa,
các hình thức phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, cơ sở để xây dựng và vai trò của căn cứ địa
trong chiến tranh giải phóng.
Sau năm 1975, do nhu cầu bảo vệ tổ quốc, đề tài căn cứ địa được tiếp tục nghiên cứu trên cả
hai bình diện: lý luận, tổng kết và viết lịch sử.
Về lý luận, xuất hiện nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài quân đội, đáng chú
ý là các bài của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: “ Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân
dân Việt Nam” (Tạp chí lịch sử quân sự số 3 năm 1993) và của nhà nghiên cứu Sử học Văn Tạo: “
Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại” (Tạp chí lịch sử quân sự số 4 năm 1995). Các
bài viết này tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về căn cứ địa như: khái niệm, nguồn gốc, tính
chất, đặc điểm …nêu bật những đặc trưng của căn cứ địa ở Việt Nam nói chung và trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ nói riêng.
Về tổng kết, có một số công trình quan trọng. Tổng kết chung của cả nước có sách: “ Hậu
phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975) ( Bộ quốc phòng – Viện lịch sử quân sự

quân khu Sài Gòn – Gia Định… nói chung trên địa bàn Củ Chi. Tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu về căn cứ địa ở Củ Chi một cách toàn diện và có hệ thống. Với luận văn này, tôi sẽ tiếp
tục quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước trên địa bàn Củ Chi.
3. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tôi tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động
chức năng của căn cứ địa ở Củ Chi trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Từ đó, rút
ra những đặc điểm và đánh giá vai trò của nó đối với tiến trình chung của cuộc kháng chiến.
Phạm vi thời gian nghiên cứu được tính từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết đến khi
chính quyền Sài Gòn sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Không gian đề cập của luận văn là vùng đất Củ Chi - huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí
Minh ngày nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là lý luận về cách
mạng giải phóng dân tộc và căn cứ địa để làm cơ sở nghiên cứu. Về phương pháp chuyên ngành,
luận văn vận dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu, kết hợp với phương pháp lôgic để dựng lại
toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động chức năng của căn cứ địa ở Củ Chi với tất
cả những diễn biến, sự kiện điển hình một cách chân thực như nó từng có.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp liên ngành, tiếp xúc
các nhân chứng lịch sử, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp tổng hợp, trên cơ sở khảo cứu
các nguồn tư liệu… để nghiên cứu và trình bày luận văn.
5. Ý nghĩa và đóng góp của luận văn
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận văn góp phần dựng
lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và những hoạt động của căn cứ địa ở Củ Chi trong tiến
trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Đảng bộ địa
phương các cấp. Từ đó, thấy được những giá trị và kinh nghiệm mà nó để lại, bổ sung thêm vào
những mảng còn trống trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại, đặc biệt là lịch sử địa phương;
góp phần vào nghiên cứu về chiến tranh cách mạng nói chung, về căn cứ địa trong chiến tranh
cách mạng nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng giảng dạy lịch sử địa phương ở Củ Chi,

xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang, xây dựng chính quyền cách mạng để trên cơ sở đó từng
bước xây dựng kinh tế, xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển của cách mạng… Ở Việt Nam, trong
cách mạng giải phóng dân tộc đã xây dựng được một số căn cứ địa cách mạng làm chỗ dựa cho
cách mạng phát triển ra cả nước như các căn cứ địa Việt Bắc, Đồng Tháp Mười, U Minh…” [63,
tr. 371].
Bàn về căn cứ địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại
nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải
có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ.
Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa
vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền cách
mạng trong địa phương. Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành
lập và không thể củng cố được.
Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà
phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy”[71, tr. 504].
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”
lý giải “căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch, cách
mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận
địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra,
cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ
đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy
mạnh đấu trang vũ trang cách mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh
cách mạng” [49, tr. 90].
Trong chiến tranh cách mạng ở nước ta, ngoài các căn cứ địa cách mạng, còn có một số vùng
(xã, ấp…) chưa được giải phóng hoàn toàn, cũng có những khu vực cho du kích xã đứng chân
trong các ấp đã được giải phóng. Những khu vực này được gọi là các căn cứ lõm, tức là các căn cứ
ăn sâu hay nằm lọt giữa vùng tạm chiếm của địch, có khi còn được gọi là các căn cứ du kích hoặc
lõm du kích [76, tr. 54].
Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước hành động khủng bố, trả thù của
Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng nặng. Quần chúng

trình thực hiện Tổng công kích. Những gia đình cơ sở đó đã làm công việc của một căn cứ địa thu
nhỏ, trở thành một dạng phát triển cao của “căn cứ địa lòng dân”, tạo nên một hình thức hoàn toàn
mới về căn cứ địa [76, tr. 92].
Như vậy, căn cứ địa ở nước ta nói chung, ở Nam Bộ nói riêng đa dang về hình thức. Tùy điều
kiện tự nhiên, xã hội, địa hình mà từng nơi, Đảng bộ các cấp đã lãnh đạo nhân dân xây dựng căn
cứ địa với dạng thức phù hợp, tạo nên sự phong phú, đa dạng về các loại hình căn cứ địa ở nước ta.
1.2. Căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ
1.2.1. Những điều kiện xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội
Củ chi là huyện nông nghiệp ngoại thành nằm về phía Tây- Bắc của thành phố Hồ Chí Minh.
Thị trấn Củ Chi cách trung tâm thành phố 35 km theo quốc lộ 22. Củ Chi nằm trong vành đai xanh
của thành phố với tổng diện tích tự nhiên là 42.856 ha.
Củ Chi là vùng đất tiếp giáp của bốn tỉnh miền Đông Nam Bộ. Phía Bắc- Tây Bắc giáp huyện
Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Phía Đông - Đông Bắc giáp huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, ngăn
cách bởi con sông Sài Gòn. Phía Tây - Tây Nam giáp huyện Đức Hòa tỉnh Long An, ranh giới tự
nhiên là kênh đào Thầy Cai. Phía Nam giáp huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh [9, tr. 10].
Với vị trí như vậy, Củ Chi là cửa ngõ Tây Bắc của thành phố Hồ Chí Minh. Trong chiến tranh,
đối với địch, Củ Chi là một khu vực vành đai then chốt bảo vệ cơ quan đầu não và bộ máy chiến
tranh của chúng ở Sài Gòn. Đối với lực lượng cách mạng, đây là bàn đạp tấn công vào đầu não của
kẻ thù. Vì vậy, Củ Chi được cả địch và lực lượng cách mạng coi là một địa bàn chiến lược quan
trọng.
Do là vùng đất tiếp nối giữa đồng bằng và cao nguyên Đông Nam Bộ nên địa hình Củ Chi cơ
bản là đồng bằng, rãi rác có một ít đồi chồi. Độ cao địa hình Củ Chi từ 0 đến 20 mét so với mặt
nước biển, nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Thổ nhưỡng của Củ Chi có thể phân ra 3 loại chủ yếu:
- Vùng bưng trũng: tập trung ở các xã phía Tây Nam, phía Nam và ven sông Sài Gòn, có độ cao
trung bình từ 1-2 mét, thường bị ngập úng vào những tháng cuối mùa mưa, chiếm 1/2 diện tích
toàn huyện. Đây là vùng đất nông nghiệp chủ yếu sản xuất lúa và rau màu các loại.
- Vùng đất triền: cao từ 5-10 mét, là vùng chuyển tiếp giữa gò và bưng trũng, chủ yếu là đất xám
bazan, chiếm 1/4 tổng diện tích và được phân bố trên hầu hết các xã của huyện, trừ các vùng phía

lộ 9 dài 6,2 kilômét…Ngoài ra, Củ Chi còn có nhiều hương lộ, nối liền các xã, ấp trong huyện.
Như vậy, có thể nói hệ thống giao thông của Củ Chi rất thuận lợi, cả đường thủy lẫn đường bộ,
và cũng vì vậy mà cuộc giành giật giữa lực lượng cách mạng và địch trên địa bàn, trong đó có mục
đích làm chủ các tuyến đường giao thông, cũng trở nên quyết liệt hơn.
Về mặt hành chính, trước năm 1954, Củ Chi bao gồm toàn bộ phần đất của tổng Long Tuy Hạ,
tổng Long Tuy Trung và một phần của tổng Long Tuy Thượng, Bình Thạnh Trung thuộc quận
Hóc Môn, tỉnh Gia Định.
Đến năm 1957, chính quyền Sài Gòn thành lập quận Củ Chi, trực thuộc tỉnh Bình Dương, gồm
14 xã. Năm 1963, để dễ cai trị, kiểm soát và tổ chức lại chiến trường, chính quyền Sài Gòn đã chia
quận Củ Chi ra làm 2 quận: quận Củ Chi thuộc tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập, trụ sở quận lỵ đặt
tại ngã tư quốc lộ 22 và tỉnh lộ 8 và quận Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương, trụ sở quận lỵ lúc đầu
đặt tại xã Phú Hòa Đông, sau dời về ngã tư Tân Qui (tỉnh lộ 8 và tỉnh lộ 15) [4, tr. 49-50].
Về phía cách mạng, sau năm 1954, Củ Chi vẫn là phần đất thuộc quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định.
Cuối năm 1959, Tỉnh ủy Gia Định đã tách Hóc Môn thành hai quận: Hóc Môn và Củ Chi, thành
lập hai cấp Ủy riêng. Từ đây, Quận ủy Củ Chi trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân
dân trong quận. Đầu năm 1960, Trung ương Cục miền Nam quyết định sáp nhập Gia Định vào Sài
Gòn – Chợ Lớn thành Khu Sài Gòn – Gia Định. Về mặt Đảng, thành Khu ủy Khu Sài Gòn – Gia
Định. Tháng 10 năm 1967, để thực hiện tổng công kích – tổng khởi nghĩa, Trung ương Cục quyết
định giải thể Quân khu Sài Gòn – Gia Định và Quân khu 1 tổ chức lại chiến trường miền Đông; tổ
chức Sài Gòn – Gia Định thành khu trọng điểm. Khu Sài Gòn – Gia Định và một phần các tỉnh lân
cận, lập thành 6 phân khu. Phân khu 1 gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Bến Cát, Dầu
Tiếng (Bình Dương), Trảng Bàng (Tây Ninh). Tháng 10 năm 1968, do địa bàn Củ Chi trở nên hết
sức ác liệt, Phân khu 1 chia Củ Chi thành 2 quận: Nam Chi và Bắc Chi, mỗi địa bàn có 1 Quận ủy,
Quận đội riêng để tiện việc chỉ đạo hoạt động. Đến tháng 9 năm 1972, tình hình thuận lợi, ta thống
nhất lại thành huyện Củ Chi như cũ.
Hiện nay, Củ Chi có một thị trấn và 20 xã, gồm: Thị trấn Củ Chi và các xã: Tân An Hội, Tân
Thông Hội, Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An, Thái Mỹ, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Nhuận Đức,
Phạm Văn Cội, Trung Lập Thượng, Trung Lập Hạ, An Nhơn Tây, An Phú, Phú Mỹ Hưng, Phú
Hòa Đông, Tân Thạnh Tây, Tân Thạnh Đông, Trung An, Hòa Phú và Bình Mỹ.
Cư dân Củ Chi biến động nhiều nhất trong khoảng thời gian chiến tranh (1945-1975), đặc biệt

Đầu thế kỷ XX, vùng đất Củ Chi có những biến đổi sâu sắc. Công cuộc khai thác thuộc địa của
Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến nhiều vùng đất của Nam Bộ nói chung và Củ Chi
nói riêng thành các đồn điền cao su bạt ngàn của tư bản Pháp. Xã hội Củ Chi, ngoài nông dân và
địa chủ, xuất hiện thêm tầng lớp công nhân cao su, đa số là dân phu từ đồng bằng Bắc Bộ và có
một số là nông dân địa phương bị tước đoạt ruộng đất để làm đồn điền. Xuất thân như vậy nên
công nhân cũng như nông dân ở Củ Chi rất gắn bó với nhau và nung nấu tinh thần yêu nước,
kháng Pháp. Thời kỳ này, nhiều tư tưởng cách mạng cấp tiến của các nước Âu, Á bắt đầu du nhập
vào Việt Nam, những người yêu nước Việt Nam tìm kiếm những con đường khác nhau để giải
phóng dân tộc với sự ra đời và vận động của nhiều tổ chức, đảng phái chính trị yêu nước. Những
phong trào có ảnh hưởng nhiều ở vùng đất Củ Chi là các phong trào “Thiên địa hội” do Phan Xích
Long chủ xướng, trong những năm 1913-1916; phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh những năm
1924-1929…
Năm 1929, những hạt giống cộng sản bắt đầu đến với đất Củ Chi, đó là đồng chí Lê trọng Mân
và đồng chí Bùi Văn Châu, hai đảng viên của An Nam Cộng sản Đảng. Dựa vào những thành quả
từ phong trào yêu nước của Nguyễn An Ninh, hai đảng viên Mân và Châu đã nhanh chóng gây
dựng được nhiều cơ sở ở các xã Bình Lý, Tân Mỹ (tức Bình Mỹ ngày nay). Sau sự ra đời của
Đảng cộng sản Việt Nam (ngày 3 tháng 2 năm 1930), thì hàng loạt Chi bộ Đảng đã ra đời trên địa
bàn quận như ở các xã Bình Lý, Tân Phú Trung, An Nhơn Tây, Phú Hòa Đông… Các chi bộ này
trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân trong quận.
Tháng 8 năm 1930, nhân dân xã Hòa Phú biểu tình chống sưu cao thuế nặng. Công nhân đồn
điền cao su Mây Sắc (Phú Mỹ Hưng) và đồn điền cao su Chà Vơ (An Nhơn Tây) đấu tranh chống
sa thải, đòi tăng lương. Cuộc đấu tranh diễn ra khá mạnh mẽ buộc hai tên chủ đồn điền phải chấp
nhận yêu sách của công nhân. Đặc biệt, tháng 10 năm 1930, khi có lời kêu gọi của Trung ương
Đảng ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhiều cuộc biểu tình diễn ra ở Tân Mỹ, Bình Lý, Tân Thạnh
Đông, Tân Phú Trung…
Đầu năm 1932, nghiệp đoàn xe ngựa Hóc Môn - Củ Chi đấu tranh phản đối sưu cao thuế nặng.
Ngày 8 tháng 4 năm 1932, hơn 1.400 nông dân Hóc Môn -Củ Chi kéo về huyện lỵ Hóc Môn đấu
tranh trực diện với kẻ thù để chống thuế, chống khủng bố trắng…
Nhìn chung, đến năm 1935, mặc dù bị quân thù tiến hành khủng bố trắng, cơ sở Đảng và các tổ
chức quần chúng ở Củ Chi có bị tổn thất nhưng cán bộ, đảng viên được quần chúng cách mạng che

lớp thì bị giết hại, lớp thì bị bắt đưa đi tù đày. Nhưng chỉ sau chưa đầy một năm, cơ sở Đảng ở Củ
Chi được gây dựng lại. Đầu năm 1944, các Chi bộ mới ở các xã: Thái Mỹ, Trung Lập, Nhuận
Đức…được thành lập.
Đầu tháng 8 năm 1945, ở Củ Chi, Hóc Môn cũng như ở những tỉnh, thành khác của Nam Bộ,
nhân dân hừng hực khí thế nổi dậy giành độc lập. Ngày 24 tháng 8 năm 1945, lực lượng Thanh
niên cứu quốc và Thanh niên tiền phong, mà nòng cốt là các đảng viên và du kích trong khởi nghĩa
Nam Kỳ, đã đồng loạt nổi dậy biểu tình, kéo qua các xã trong quận. Hoảng sợ trước khí thế của
quần chúng, một số xã ở Củ Chi như Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập, Nhuận Đức, chính
quyền tay sai bỏ chạy, lực lượng khởi nghĩa tiến vào giành lấy chính quyền. Nhân dân xã Phước
Vĩnh An xông vào đồn giựt súng Nhật đem trang bị cho lực lượng ta. Tại Bến Mương (Nhuận
Đức), một số chị em phụ nữ vào đồn, dùng lý lẽ thiệt hơn buộc Nhật nộp súng. Nhìn chung, các xã
của Củ Chi đều giành được chính quyền trước ngày 24 tháng 8 năm 1945.
1.2.2. Quá trình xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945 – 1954)
Chỉ một tháng sau ngày cả nước giành độc lập, thực dân Pháp được quân Anh hỗ trợ, đã quay
trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai, bắt đầu từ việc tiến chiếm Sài Gòn. Trước tình thế đó, nhiều
cánh quân từ các tỉnh Nam Bộ vừa khẩn cấp thành lập đã kịp về Sài Gòn tham gia chiến đấu, bao
vây quân Pháp ở Sài Gòn. Trong hơn một tháng quân Pháp bị cầm chân ở mặt trận Sài Gòn – Chợ
Lớn, lực lượng kháng chiến Nam Bộ đã kịp vận chuyển được một số máy móc, tài liệu ra khỏi
thành phố, rút lui về các vùng có địa thế, xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Thực hiện chủ
trương “lập những khu căn cứ kháng chiến ngay ở ngoại ô, phụ cận Sài Gòn”, “Không rút đi xa,
cố bám đất, bám dân, làm chiến tranh du kích, làm chiến tranh nhân dân” [77, tr. 83] của Tỉnh ủy
Gia Định, hàng loạt căn cứ địa đã lần lượt ra đời, tạo thành một hệ thống chiến khu bao quanh
thành phố như: Chiến khu An Phú Đông, chiến khu Rừng Sác, căn cứ Vườn Thơm… Riêng ở Củ
Chi, có căn cứ Bình Mỹ, căn cứ An Phú Xã và căn cứ khu 5 Hóc Môn.
Căn cứ Bình Mỹ nằm ở phía Bắc thành phố, gồm ba xã Bình Lý, Tân Mỹ, Mỹ Bình (lúc bấy
giờ thuộc quận Hóc Môn) là nơi đứng chân của Quận ủy, Ủy ban kháng chiến hành chánh, Ủy ban
mặt trận Việt Minh và các lực lượng vũ trang quận Hóc Môn, bên cạnh đó còn có 3 đại đội giải
phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa. Để bảo vệ căn cứ, nhân dân đắp ụ chiến
đấu và cắm chông dọc các ngã đường dẫn vào. Trong căn cứ, bộ đội, nhân dân đào hầm hào, rào

các địa bàn của Củ Chi – Hóc Môn như Tân Mỹ - Bình Lý; Mỹ Bình – Hòa Phú – An Phú Xã; Tân
Phú Trung – Phước Vĩnh An – Tân Thông Hội (vùng này có thời gian là căn cứ chỉ đạo của chủ
tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn – Chợ Lớn Phạm Ngọc Thạch cho đến năm 1950).
Những căn cứ của Củ Chi là chỗ dựa vững chắc để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở địa
phương.
Tỉnh ủy Gia Định về đứng chân ở An Phú Đông để chỉ đạo cuộc kháng chiến trong toàn tỉnh.
Quận ủy Hóc Môn kêu gọi nhân dân tự vũ trang. Một số đảng viên, du kích Nam Kỳ cũ, có từ 3
đến 5 khẩu súng cũng đứng ra tự thành lập các đơn vị bộ đội. Bộ đội Bảy Sanh, Sáu Sai, Hai
Chiểu, Tô Ký, Hai Bứa, Hai Phần…đóng căn cứ ở An Phú Xã (thuộc Củ Chi).
Ngày 1 tháng 11 năm 1945, Xứ ủy và Tỉnh ủy Gia Định quyết định thống nhất các đơn vị vũ
trang trên vùng Tây Bắc Sài Gòn thành Giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức
Hòa.
Từ các căn cứ ở vùng ven, bộ đội và du kích Hóc Môn liên tục đánh bại các cuộc càn quét của
địch, trong đó, nổi bật nhất là trận Trung Hưng – Ràng (xã Trung Lập) ngày 17 tháng 12 năm
1946.
Sau trận Trung Hưng – Ràng, du kích Củ Chi tổ chức trận đánh vào đồn Thầy Biên (xã Phú
Hòa Đông), còn gọi là trận Binh La (tháng 2 năm 1947). Trận đánh được chuẩn bị rất qui mô, công
phu nhưng cuối cùng không giành được thắng lợi. Tuy vậy, qua trận đánh vỡ lòng này, quân và
dân Phú Hòa Đông nói riêng và Hóc Môn nói chung có thêm nhiều kinh nghiệm quý giá về xây
dựng lực lượng, phát động quần chúng và vận động binh lính trong hàng ngũ địch.
Năm 1947, Mặt trận Việt Minh quận được thành lập. Các tổ chức đoàn thể như hội Phụ nữ cứu
quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên… được củng cố, mở rộng thêm. Sự tổ chức chặt chẽ và lớn
mạnh của Mặt trận và các đoàn thể là chỗ dựa quan trọng để xây dựng và phát triển lực lượng vũ
trang, vì đây là nguồn cung cấp hậu cần và nhân lực cho tất cả các đơn vị. Thông qua sự vận động
của Mặt trận và các đoàn thể, thanh niên các xã ở Củ Chi đều hăng hái gia nhập bộ đội, du kích.
Cuối năm 1947, các xã ở Củ Chi đều xây dựng được đội du kích. Một số xã như Tân An Hội, Tân
Phú Trung, Phước Vĩnh An, Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây,… lực lượng du kích phát triển đến
trung đội và được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ [9, tr. 59].
Công tác củng cố và phát triển lực lượng mọi mặt, đặt biệt là lực lượng vũ trang đã đem lại
bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến ở Củ Chi, Hóc Môn. Lực lượng vũ trang ba thứ quân

xuất hiện kể từ lúc này. Nhờ vậy, chiến tranh du kích ở hai xã có thêm thế chủ động để phát triển
mạnh hơn. Hai ấp Bà Giã và Cây Da trở thành “căn cứ lõm” của Khu 5 Hóc Môn.
Mặc dù quân Pháp đẩy mạnh bình định, càn quét ở miền Đông Nam Bộ trong các năm 1947,
1948, đặc biệt ở các vùng ven Sài gòn, nhưng lực lượng cách mạng vẫn làm chủ phần lớn Củ Chi,
trong đó có những vùng căn cứ vẫn là bất khả xâm phạm với quân Pháp, điển hình như căn cứ Khu
5 Hóc Môn.
Giữa năm 1949, thực hiện sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập bộ đội địa
phương và Hội nghị dân quân toàn Khu 7 về phát triển dân quân du kích và lập các làng, ấp chiến
đấu, trung đội du kích tập trung của quận Hóc Môn chuyển thành trung đội bộ đội địa phương
quận. Lực lượng dân quân du kích các xã tiếp tục được phát triển thêm về số lượng và tăng cường
trang bị bằng vũ khí lấy được của địch và vũ khí tự tạo. Phong trào xây dựng địa đạo và xã, ấp
chiến đấu lan rộng trên toàn Củ Chi, góp phần vào nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch.
Ngày 10 tháng 8 năm 1951, Pháp huy động 7 tiểu đoàn bộ binh Pháp và tay sai, một đại đội
công binh và nhiều xe tăng từ Sài Gòn lên đánh phá vùng căn cứ địa đạo Tân Phú Trung - Tân An
Hội - Phước Vĩnh An. Suốt 15 ngày đêm, 7 tiểu đoàn địch cùng xe tăng bao vây xung quanh căn
cứ, bắn hàng chục ngàn quả đạn đại bác, dùng hơn 2.000 kilôgam bộc phá để phá hủy địa đạo. Bộ
đội địa phương và du kích xã dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Thanh Vân đã chiến đấu kiên
cường, bám vào thế trận địa đạo, chiến đấu chống trả quyết liệt, tiêu diệt và làm bị thương hàng
trăm tên địch, làm thất bại ý đồ của địch [9, tr. 80].
Sang năm 1953, diễn biến chiến trường chung của cả nước đang thay đổi theo chiều hướng có
lợi cho ta, bộ đội địa phương Hóc Môn tổ chức thành các phân đội vũ trang tuyên truyền tỏa về
các vùng du kích, vùng tạm chiếm để gây dựng cơ sở trong nhân dân, phát triển lực lượng du kích.
Bộ đội Khu, Tỉnh, và bộ đội Quận phối hợp đẩy mạnh hoạt động tác chiến đánh địch càn quét,
giành nhiều thắng lợi vang dội. Nhân dân tích cực hỗ trợ bộ đội, du kích diệt tề, trừ gian, bao vây
đồn bót địch,… Các lõm căn cứ, căn cứ cách mạng ở Củ Chi được củng cố, làm chỗ dựa cho lực
lượng vũ trang hoạt động ngày càng mạnh mẽ hơn, tạo thế và lực góp phần vào thắng lợi của chiến
cuộc Đông Xuân 1953-1954 trên cả nước.
Phát huy truyền thống bất khuất của 18 thôn Vườn Trầu, quân dân Củ Chi đã thể hiện tinh thần
anh dũng và sáng tạo, kiên trì bám đất và bám dân xây dựng địa đạo chiến, làm nồng cốt cho cuộc
chiến tranh nhân dân bám rễ vững chắc và phát triển trên mảnh đất Củ Chi. Chín năm kháng chiến

thống Việt Nam cộng hòa trong cuộc bầu cử dân chủ do Mỹ dàn dựng. Những hành động của Mỹ -
Pháp và tay sai Diệm đã đơn phương xóa bỏ tinh thần Hiệp định Giơnevơ và nguyện vọng của
nhân dân Việt Nam về tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
Song song với việc thâu tóm quyền lực, Mỹ - Diệm từng bước loại bỏ các đối thủ uy hiếp sự
tồn tại của chính quyền mới được dựng lên ở miền Nam. Từ tháng 4 đến cuối năm 1955, Ngô Đình
Diệm thanh lọc quân đội, loại bỏ những tướng lĩnh cao cấp thân Pháp ra khỏi quân đội. Đồng thời,
vừa dụ dỗ, mua chuộc, vừa tiến công tiêu diệt các lực lượng vũ trang Bình Xuyên, lực lượng vũ
trang giáo phái thân Pháp, Cao Đài, Hòa Hảo,… giành trọn quyền kiểm soát Sài Gòn – Chợ Lớn
và nhiều vùng khác ở Nam Bộ.
Đối với lực lượng cách mạng, Diệm thực hiện chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” với các khẩu
hiệu phản động như: “Tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “Thà giết lầm còn hơn bỏ sót”. Cảnh sát và
quân đội Việt Nam cộng hòa đã triển khai các chiến dịch Trương Tấn Bửu (7/1956 - 2/1957),
Nguyễn Trãi (4/1957 - 11/1958), Hồng Châu (7/1958)…đánh phá lực lượng cách mạng. Càn quét,
vây ráp diễn ra hàng ngày, đặc biệt tại các vùng căn cứ cũ của cách mạng. Ở Củ Chi, bộ máy chính
quyền tay sai từ quận đến xã được chấn chỉnh. Cảnh sát, mật vụ, dân vệ, chỉ điểm… nhan nhản
trên đường phố, rình mò khắp mọi ngõ hẻm, tìm bắt đảng viên cộng sản, các cơ sở Đảng, những
người yêu nước… Trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt trước khi bộ đội tập kết ra Bắc, chính
quyền cách mạng đã cấp hàng trăm ngàn héc ta ruộng đất cho nông dân, trong đó có nông dân
ngoại thành Sài Gòn – Gia Định. Nhưng từ đầu năm 1955, Diệm ban hành các dụ số 27 và 57 về
“cải cách điền địa”, truất quyền sở hữu đất đai của dân chuyển về tay chính quyền và địa chủ, bắt
nông dân trở lại chế độ làm khế ước, đóng địa tô. Nguy cơ bị mất hết đất đai mới được cấp khiến
nông dân hết sức phẫn nộ. Nông dân ngoại thành Sài Gòn còn bị đuổi khỏi các vùng đất đang sinh
sống để chính quyền Diệm xây dựng các căn cứ, sân bay, khu dinh điền để tạo vành đai an toàn
cho Sài Gòn . Về quân sự, địch lập các đội bảo an quận, các tiểu đội dân vệ xã, xây dựng thêm đồn
bót, nhất là dọc theo quốc lộ 1 và các tỉnh lộ 7, 8, 15. Cùng với việc giám sát từng nhà, từng người
thông qua các hình thức “liên gia” và bộ máy kềm kẹp từ trung ương đến xóm, ấp, chính quyền
Diệm còn tổ chức “Phong trào cách mạng quốc gia”, “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên
đới”…để “đoàn kết quốc gia loại trừ cộng sản”. Các gia đình có người thân tập kết hoặc từng đi
theo kháng chiến thường xuyên bị tập trung học tập “tố cộng”, “cải huấn”, “tẩy não”…Phụ nữ bị
buộc phải ly khai chồng, con v.v…Tất cả các thủ đoạn trên đều nhằm làm cho cán bộ, đảng viên

vậy, sau tháng 7 năm 1954, các căn cứ không còn những hoạt động kháng chiến. Trong khi đó, các
chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” của Mỹ - Diệm đã khiến cho nhiều cán bộ, đảng viên, chiến sĩ,
cơ sở cách mạng… không còn sống trong dân được nữa, buộc phải rút vào các vùng căn cứ cũ thời
kháng chiến chống Pháp để tránh né sự khủng bố. Ở Củ Chi, việc xây dựng căn cứ, đào hầm bí
mật, địa đạo được xúc tiến, nhất là phát triển hệ thống địa đạo ở Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An
và các xã phía Bắc quận như: Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập…để làm nơi đứng chân
của các cơ quan và chỗ dựa để các đơn vị vũ trang xây dựng lực lượng và chiến đấu chống địch
khủng bố, càn quét.
Từ năm 1955, một bộ phận của Tỉnh ủy Gia Định đóng cơ quan tại nhà bà Võ Thị Khâu ở ấp
Ba Sòng (xã An Nhơn Tây), gồm các đồng chí: Sáu Thấm, Tám Gân, Thuần, Thả.
Năm 1956, các đồng chí lãnh đạo của Liên Tỉnh ủy miền Đông như: Tư Trường, Bảy Khánh,
Sáu Khiêm, Tư Hùng được bố trí ăn ở và làm việc tại nhà bà Chín Gốc, bà Tư Mài và ông Sáu
Xẳng tại ấp Ba Sòng, xã An Nhơn Tây.
Năm 1957, địa bàn của Liên Tỉnh ủy miền Đông được mở rộng ra khu vực quốc lộ 1 (quốc lộ
22 ngày nay). Căn cứ của Liên Tỉnh ủy được xây dựng tại ấp Đồng Lớn (nhà bà Hai Kiểu, nhà anh
Tám Xu, nhà anh Út Khi), xã Trung Lập. Ở ấp Ràng (xã Trung Lập), các đồng chí lãnh đạo như:
Sáu Khiêm, Trọng Tuyển, Hai Bình, Ba Cát, Tư Hùng cũng đứng chân hoạt động tại nhà anh Tư
Túc, nhà bà Đen, được nhân dân che giấu, bảo vệ. Trong thời gian này, Chi bộ đã chọn ra 8 đồng
chí đảng viên và đoàn viên để đào hầm gắn liền với hệ thống địa đạo: 1 hầm giành cho Văn phòng
Tỉnh ủy Gia Định làm nơi cất giấu tài liệu (ở rừng nhà ông Ba Lên), 2 hầm làm nơi hội nghị của
Tỉnh ủy (ở rừng phía sau nhà anh Thành). Ngoài ra, còn nhiều hầm bí mật trong nhà, trong vườn
tre, trúc… như ở nhà bà Hai Mành, bà Võ Thị Khâu cũng được gấp rút xây dựng để nuôi giấu cán
bộ, làm nơi chôn vũ khí. Trong rừng nhà ông Võ Văn Mãi còn có hộp thư bí mật, trực tiếp bỏ và
lấy thư hàng ngày là anh Tư Bên, nguyên là Quận đội phó Quận đội Hóc Môn và đồng chí Nguyễn
Văn Quyết, đảng viên Chi bộ ấp Ba Sòng. Như vậy, một số ấp của xã An Nhơn Tây, Trung Lập là
nơi đứng chân đầu tiên, là chỗ dựa để Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh, từng bước xây dựng lực
lượng kháng chiến, là nhân tố khởi đầu của hậu phương tại chỗ trên địa bàn Củ Chi.
Nối tiếp truyền thống trong kháng chiến chống Pháp, Củ Chi sớm xuất hiện và phát triển lực
lượng vũ trang tự vệ. Hầu hết mỗi xã có 2 tổ tự vệ, có nơi lên tới tiểu đội vũ trang và bán vũ trang.
Đến năm 1957, các xã Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Mỹ Hưng, Trung Lập

đô thị. Địa bàn một số quận, huyện cũng được tổ chức lại. Trong đó, quận Hóc Môn được chia
thành 2 quận Hóc Môn và Củ Chi. Cơ quan lãnh đạo và chỉ huy Khu Sài Gòn – Gia Định đứng
chân tại vùng Hố Bò, xã Phú Mỹ Hưng. Do nằm sát nách Sài Gòn nên căn cứ của Khu ủy, Quân
khu Sài Gòn – Gia Định được xây dựng thành căn cứ địa đạo. Hình thức căn cứ địa đạo này đã
xuất hiện ở Củ Chi từ những năm 1947, 1948 trong kháng chiến chống Pháp, nhưng chỉ mới gồm
một số đoạn ngắn, nay được xây dựng qui mô hơn, khoa học hơn, tạo thành một hệ thống liên
hoàn giữa các xã, đủ sức chứa hàng ngàn con người làm việc, sinh hoạt và chiến đấu. Từ căn cứ
này, các cán bộ, đảng viên bung ra đi gây dựng, khôi phục lại cơ sở, phát triển lực lượng chính trị.
Tháng 10 năm 1959, các cấp ủy cơ sở đã sinh hoạt, tập hợp các chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên
đủ để thành lập một tiểu đội vũ trang. Vì quân số có 13 người nên lấy số hiệu 13 để đặt tên.
Tháng 12 năm 1959, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định thành lập trung đội vũ trang đầu tiên của Khu
tại Củ Chi. Để che mắt địch, trung đội lấy tên Cao – Hòa – Bình (Cao Đài – Hòa Hảo – Bình
Xuyên), đội lốt danh nghĩa giáo phái để hoạt động. Vũ khí của trung đội gồm 70 khẩu súng vừa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status