Đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959- 1975) - Pdf 20

MỤC LỤC
A. Lời mở đầu...................................................................................................................2
B. Phần nội dung............................................................................................................4
Chương I: Quá trình hình thành tuyến chi viện chiến lược- Đường Hồ Chí Minh trên
biển.................................................................................................................................4
1. Đôi nét về tình hình cách mạng miền Nam trong những năm đầu kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước và yêu cầu chi viện cho chiến trường.....................................4
a, Tình hình miền Nam trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, cứu nước...4
b, Chủ trương của Đảng về công tác chi viện lực lượng và vũ khí trang bị cho
chiến trường miền Nam- Đoàn 559 được thành lập.................................................5
c, “Tập đoàn đánh cá sông Gianh”...........................................................................6
d, Những chiếc thuyền vượt biển từ miền Nam ra miền Bắc nhận vũ khí................7
2.Thành lập Đoàn 759- tuyến vận chuyển chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh
trên biển được thành lập............................................................................................8
a, Thành lập Đoàn 759..............................................................................................8
b, Chuẩn bị lực lượng, phương tiện, bến bãi.............................................................9
c, Chuyến đi trinh sát mở đường.............................................................................11
Chương II: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên
biển và vai trò của nó đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1962- 1975)
................................................................................................................................12
1.Âm mưu, thủ đoạn phong tỏa trên biển Đông và vùng biển Tây Nam của hải
quân Mỹ- ngụy........................................................................................................12
2. Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược- Đường Hồ Chí Minh trên biển (1962-
1975).......................................................................................................................14
a, Giai đoạn (1962- 1965).......................................................................................14
b, Giai đoạn (1965- 1968).......................................................................................15
c, Giai đoạn (1968- 1975).......................................................................................17
3. Vai trò của đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước.................................................................................................................20
a, Phục vụ chi viện chiến trường.............................................................................21
b, Tính ưu việt của việc vận chuyển chi viện bằng đường biển.............................22

2
tranh của chính quyền Mỹ- ngụy, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho hôm
nay và mai sau.
Với lòng biết ơn và sự tri ân sâu sắc đối với những hy sinh, đóng góp của các thế
hệ cha anh, tôi xin chọn “Đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước (1959- 1975)” làm đề tài tiểu luận của mình. Hy vọng qua đó
không chỉ tôi mà nhiều người khác không những hiểu biết sâu sắc hơn về những hoạt
động, kết quả đóng góp của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển
trong nhiệm vụ chi viện cho chiến trường mà qua đó cũng thấy được sự sáng tạo,
thành công của Đảng ta trong tổ chức lãnh đạo, chỉ huy tuyến chi viện chiến lược này.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp logic, phương pháp so sánh, liệt kê…
Lịch sử nghiên cứu: Nghiên cứu về đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước đã có nhiều công trình nghiên cứu: Năm đường mòn Hồ
Chí Minh của Đặng Phong; Có một đường mòn trên biển Đông của Nguyên Ngọc, các
bài báo của Đại tá- TS Vũ Tang Bồng- Viện Lịch sử Quân sự đăng tải trên các tạp
chí… Song xung quanh đề tài này còn có nhiều vấn đề chưa thống nhất về quan điểm
đánh giá, nhìn nhận. Vai trò, sứ mệnh lịch sử lớn lao của tuyến chi viện chiến lược
này còn chưa được đánh giá đúng. Đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu đề cập
cụ thể, sâu sắc về “tổ chức, hoạt động” của tuyến chi viện chiến lược này. Do đó, bài
tiểu luận này tập trung làm rõ quá trình ra đời, tổ chức và hoạt động cũng như vai trò
chi viện của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959- 1975).
Kết cấu bài tiểu luận gồm ba chương:
Chương I: Quá trình hình thành tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên
biển
Chương II: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược- đường Hồ Chí Minh trên biển
và vai trò của nó đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Chương III: Một vài nhận xét về tổ chức và hoạt động của tuyến chi viện chiến lược-
đường Hồ Chí Minh trên biển.
3

Đối với cách mạng miền Nam, Đảng ta chủ trương phát triển hình thức đấu tranh
chính trị đòi địch thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Giơnevơ, đấu tranh đòi độc lập
bằng con đường hòa bình. Nhưng Mỹ- Diệm đã có một loạt những hành động nhằm
phá tan khát vọng thống nhất nước nhà của nhân dân ta. Đảng ta đã kịp thời ra nghị
quyết chuyển hướng cho cách mạng miền Nam- Nghị quyết 15. Nhưng trước đó
chúng ta còn có thể biết tới bản Đề cương cách mạng miền Nam của Lê Duẩn. Hội
nghị Trung ương lần thứ 15(1/1959) xác định con đường phát triển của cách mạng
Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, bằng lực
lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân.
Đây chính là bước ngoặt trong sự phát triển của tình hình ở miền Nam. Nắm chắc
tình hình, Đảng ta đã nhanh chóng đề ra chủ trương mới cho phù hợp với tình hình
thực tiễn cách mạng đặt ra nhằm tạo đà cho cách mạng miền Nam phát triển, giành
những thắng lợi lớn hơn trong “cuộc đụng đầu lịch sử” này.
b,Chủ trương của Đảng về công tác chi viện lực lượng và vũ khí trang bị cho chiến
trường miền Nam- Đoàn 559 được thành lập
Sau khi có nghị quyết 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, phong trào đấu
tranh của nhân dân ta ở miền Nam có bước phát triển mới. Đấu tranh vũ trang ngày
càng lan rộng. Yêu cầu về cán bộ và vũ khí ngày càng lớn. Đường dây Thống Nhất-
trên cơ sở đường giao liên bí mật xuyên Trường Sơn trong kháng chiến chống thực
dân Pháp không thể đáp ứng được yêu cầu đó, nhất là đối với các tỉnh Nam Bộ và
Nam Trung Bộ.
Để kịp thời đáp ứng yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam, giữa năm 1959,
Bộ chính ra chỉ thị: “tổ chức một đoàn giao thông quân sự đặc biệt mở đường đưa cán
bộ, tiếp tế vũ khí và những hàng cần thiết khác vào miền Nam. Đây là một việc lớn,
5
có tính chất chiến lược, quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống
nhất nước nhà”
1
..
Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị, ngày 19/5/1959, thường trực Tổng quân

6
dưới chở vũ khí, phía để lưới và dụng cụ đánh cá để ngụy trang và các thuyền này đều
được cải dạng theo các thuyền đánh cá ở miền Nam.
Theo chủ trương của cấp trên, chuyến đi biển đầu tiên của tiểu đoàn 603 sẽ chở 5 tấn
vũ khí và thuốc men bí mật vượt qua tuyến quân sự tiến vào vùng biển miền Nam, chi
viện cho khu V mà địa điểm tập kết là chân đèo Hải Vân. Ngày 27/1/1960 tiểu đoàn
603 quyết định cho thuyền nhổ leo. Thuyền có 6 người- cả 6 người đều đã từng tham
gia vận chuyển từ khu V vào khu VI trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng
trong chuyến đi này đoàn không đến được nơi tập kết đã định.
Chuyến vượt biển đầu tiên chi viện cho chiến trường miền Nam không thành công,
Tổng quân ủy và Bộ quốc phòng chỉ thị cho tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động, điều
động cán bộ, chiến sỹ sang Đoàn 301 để tập trung mở đường bộ chi viện cho chiến
trường miền Nam. Song không vì vậy mà việc nghiên cứu mở đường biển lại bị lãng
quên. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng hết sức
quan tâm tới khả năng này bởi đây là loại hình vận chuyển có hiệu quả cao, có thể đi
xa, đi nhanh với khối lượng lớn. Do đó, một mặt Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục nghiên
cứu tình hình trên biển, tìm hiểu vùng kiểm soát trên biển của địch cũng như khả năng
Tre, Bạc Liêu. Trà Vinh. Bà Rịa… đều khẩn trương chuẩn bị tàu, thuyền ra Bắc nhận
vũ khí. Vừa đi, vừa nắm bắt hoạt động của ngư dân làm ăn trên biển cũng như tình hình
tuần tra của địch trên biển; chuẩn bị bến bãi, kho tàng, hậu cứ để đón tàu chi viện vũ
khí từ Bắc vào…
Trong 3 năm (1960-1962) các tỉnh Nam Bộ đã tổ chức 6 chuyến, dùng thuyền gỗ
đánh cá bí mật ra Bắc (2 thuyền của Bến Tre, 2 thuyền của Bạc Liêu, 1 thuyền của Trà
Vinh và 1 thuyền của Bà Rịa) gồm 42 người (trong đó có 18 Đảng viên, 2 cán bộ xã,
còn lại là ngư dân). Các tàu vượt biển ra Bắc đều gặp nhiều khó khăn nhưng đã có 5
trong 6 thuyền ra được Bắc. Mỗi thuyền ra Bắc lại báo cáo với Bộ Tổng Tham mưu
những kinh nghiệm đi biển và tình hình hoạt động của Hải quân địch.
7
2. Thành lập Đoàn 759- tuyến vận chuyển chi viện chiến lược- đường Hồ Chí
Minh trên biển được hình thành.

4
Bộ tư lệnh Hải quân: Lịch sử công tác chỉ huy tham mưu hải quân trong vận tải quân sự đường biển chi viện cho chiến
trường miền Nam (1961- 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr 66.
8
Trung tá Đoàn Hồng Phước- Nguyên Tham mưu trưởng sư đoàn 330 được bổ nhiệm
làm đoàn trưởng, đồng chí Võ Huy Phúc được bổ nhiệm làm chính ủy Đoàn 759.
Trụ sở làm việc của Đoàn 759 là số nhà 83 phố Lý Nam Đế- Hà Nội. Cơ quan lãnh
đạo của Đoàn dần dần được tăng cường. Lực lượng cán bộ, thủy thủ của Đoàn được
tuyển chọn ở khắp các đơn vị trong và ngoài quân đội và chủ yếu là người thuộc các
Khi mới thành lập, Đoàn 759 có 38 người, chủ yếu là cán bộ chiến sỹ thuộc tiểu
đoàn 603 cũ, 20 người trên các tàu từ Nam Bộ ra và một số cán bộ, chiến sỹ giải phóng
khu V và khu VI thạo nghề đi biển được lệnh vượt tuyến ra Bắc bằng đường bộ. Sau
đó, Bộ quốc phòng điều động bổ sung cho Đoàn một số cán bộ, chiến sỹ (chủ yếu ở
miền Nam) từ sư đoàn 338, các nông trường Quân đội, tàu đánh cá…
Nguyên tắc nhân sự của Đoàn là tuyệt đối trung thành. Những người được chọn vào
bộ phận này phải được kiểm tra rất kỹ về mặt lý lịch và phẩm chất cách mạng, tuyệt đối
không khai báo, tuyệt đối không nói với bộ phận khác, kể cả gia đình về những công
việc của mình. Sau khi nghỉ hưu cũng tuyệt đối không kể lại công việc của mình.
Công tác ngụy trang cũng là một vấn đề quan trọng. Đó là một nghệ thuật đạt tới
mức huyền thoại. Cải trang thì có cờ đủ các nước, có những phương tiện cần thiết để
thay đổi màu sơn của tàu. Nhưng quan trọng nhất là ngụy trang ban ngày. Khi tàu áp
sát vào một vòm cây, một vách núi, lưới được căng lên và cành lá được mắc vào đó.
Chính cách ngụy trang đó đã cứu được rất nhiều con tàu của Đoàn 125 trong những lúc
phải ấn náu tại các vũng.
Để tiến hành vận chuyển vũ khí vào Nam không chỉ có tàu, vũ khí, có con người mà
còn cần đến “hai bộ phận phục vụ bí mật từ xa”. Thứ nhất là bộ phận chuẩn bị giấy tờ
giả- hợp pháp hóa cho tất cả những người trên tàu cũng như giấy tờ các con tàu. Từ
giấy tờ tùy thân, quê quán, độ tuổi, nghề nghiệp cho đến dáng vóc đều được chuẩn bị
kỹ lưỡng, phù hợp. Hơn nữa còn có bộ phận “giả mạo chữ ký biệt tài”, “bộ phận làm
ra những con dấu tương ứng”, bản khai thuế, hàng hóa … đều làm y như giấy tờ thật.

Trung tuần tháng 8/ 1962, Quân ủy Trung ương thông qua nghị quyết mở đường
chiến lược trên biển. Bắt đầu từ đây Đoàn 759 bước vào giai đoạn vận chuyển để làm
5
Lịch sử đoàn 125 Hải quân (1961- 2001), Nxb QĐND, Hà Nội, 2001, tr 47
10
nên con đường huyền thoại trên biển Đông với những kỳ tích “có một không hai” trong
lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Cũng từ đây, xuất hiện những con “tàu không
số”
6
lúc ẩn, lúc hiện vận chuyển vũ khí cho chiến trường.
Sự ra đời của Đoàn 759 và tuyến vận chuyển cho chiến lược trên biển là biểu hiện ý
chí, quyết tâm giải phóng miền Nam của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, là tiền đề
quan trọng tạo thế phát triển lực lượng, thế chiến lược vững chắc cho sự nghiệp kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.
Chương II: Hoạt động của tuyến chi viện chiến lược- đường
Hồ Chí Minh trên biển và vai trò của nó đối với cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước (1962- 1975)
Hải quân Ngụy được Pháp xây dựng từ năm 1952. Khi Pháp rút khỏi miền Nam
(tháng 12/ 1954) hải quân Ngụy có khoảng 2000 quân; 100 tàu xuồng chiến đấu.
Sau năm 1954, được Mỹ trang bị, huấn luyện và tổ chức nên lực lượng hải quân
Ngụy phát triển nhanh. Đến năm 1960, hải quân Ngụy được xây dựng thành một quân
chủng của “Quân lực Việt Nam cộng hòa” gồm đủ các thành phần “hải lực, giang lực
và thủy quân lục chiến”.
Nhiệm vụ của hải quân ngụy: ngăn chặn sự chi viện bằng đường biển của ta từ
miền Bắc tới miền Nam; phối hợp với các lực lượng khác càn quét, bình định vùng giải
phóng.
Hình thức hoạt động của hải quân ngụy chủ yếu là kiểm soát thuyền dân làm ăn
trên biển, tuần tiễu ven biển theo các khu vực có tính chất cố định mà chủ yếu là giới
tuyến tạm thời và vùng biển Tây Nam để ngăn chặn và chống sự thâm nhập của ta bằng
đường biển.

của Mỹ.
Ngoài ra Mỹ- ngụy còn sử dụng hệ thống ra- đa cảnh giới bờ biển: Cù Ré, Ba làng
An, Đề Di, Chóp Chài, Hòn Tre, Vũng Tàu… hoạt động liên tục ngày đêm với cự ly
7
Viện lịch sử quân sự Việt Nam: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, Nxb Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà
Nội, 1991, tr 78.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status