Tìm hiểu nghệ thuật kết hợp đánh và đàm của đảng ta trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM LỊCH SỬ

--  --

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT KẾT HỢP ĐÁNH VÀ ĐÀM CỦA
ĐẢNG TA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
CỨU NƯỚC 1954-1975

Sinh viên thực hiện:
Thị Hồng Oanh
Lớp: SP. Lịch Sử K34
MSSV: 6086342

Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Khoa Năng Lập

C n th

04/2012


LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này ngoài sự nổ lực của bản thân thì trước hết
tôi gửi lời cám ơn đến Thầy Cô bộ môn Lịch Sử, các cán bộ thư viện khoa Sư
phạm, Trung Tâm Học Liệu – Đại Học Cần Thơ, Nhà Văn Hóa – Bộ Tư Lệnh
Quân Khu 9, Thư Viện - Trung Đoàn Thông Tin 29, Thư Viện – Thành Phố Cần
Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu đề tài. Tôi xin gửi lời cám ơn

....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................


LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................
....................................................................................................

1.1.1 Bối cảnh quốc tế. ........................................................................ 11
1.1.2 Bối cảnh đất nước. ...................................................................... 14
1.4 Mục tiêu và chủ trương vừa đánh vừa đàm của Đảng ta trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ. ........................................................................... 16
Chương 2 ................................................................................................ 21

SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 1


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT KẾT
HỢP ĐÁNH VÀ ĐÀM CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975)................................................. 21
2.1 Thời kỳ đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954-1960.......... 21
2.2 Kết hợp đánh và đàm chống chiến lược “chiến tranh đặt biệt” và
“chiến tranh cục bộ”. Thời kỳ 1959-1967. .............................................. 22
2.2.1 Thời kỳ chống “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965). ................... 22
2.2.2 Thời kỳ chống Chiến tranh cục bộ (1965-1968). ......................... 24
2.3 Lãnh đạo đàm phán của Đảng ta góp phần phá sản chiến lược “Việt
Nam hóa chiến tranh” buộc Mỹ ký Hiệp định Paris. Thời kỳ 1967-1973. 27
2.3.1 Cuộc đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Hoa Kỳ và Tết
Mậu Thân năm 1968. ........................................................................... 27
2.3.2 Mở hội nghị bốn bên – củng cố cục diện “đánh và đàm”, kéo Mỹ
xuống thang chiến tranh, ép Mỹ đơn phương rút quân. Tranh thủ sự
ủng hộ của quốc tế. .............................................................................. 28

3.2.2 Đánh – đàm hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. .................................... 43
3.2.3 Muốn hoạt động ngoại giao có hiểu quả, đàm phán thắng lợi, ta
phải có thực lực, nội bộ ổn định và có đường lối đối nội đúng đắn. ..... 44
3.2.4 Muốn đàm phán có kết quả, phải dựa vào ba tầng mặt trận, do
mặt trận đại đoàn kết dân tộc làm nòng cốt. ......................................... 44
3.2.5 Đàm phán Paris là cuộc đấu trí giữa Việt Nam và Mỹ, phải phát
huy bản lĩnh và trí tuệ để giành thắng lợi. ............................................ 45
3.2.6 Đàm phán Paris thắng lợi do Đảng ta xây dựng được hệ thống tổ
chức có hiệu quả. ................................................................................. 46
C - PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................. 47
Phụ lục hình ảnh....................................................................................... 49
Tài liệu tham khảo ................................................................................... 61

SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 3


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

A PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Các cuộc chiến tranh đi qua đã để lại cho chúng ta biết bao đau thương và
mất mát ai cũng biết hậu quả chiến tranh là to lớn biết bao, cho dù đó là chiến
tranh chính nghĩa hay phi nghĩa thì đất nước đó phải chịu những tổn thất nặng nề.
Song, không phải đất nước nào cũng có quyền chọn lựa cho mình nền hòa bình,
tự do, có những lúc họ không muốn chiến tranh nhưng họ buộc phải chiến đấu
cho nền độc lập nước nhà. Và Việt Nam đất nước chúng ta đã rơi vào tình thế đó.

SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 5


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

Chương 1: CƠ SỞ CỦA SỰ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT KẾT HỢP ĐÁNH
VÀ ĐÀM.
Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT
KẾT HỢP ĐÁNH VÀ ĐÀM CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975).

Chương 3: NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CỦA NGHỆ THUẬT ĐÁNH VÀ ĐÀM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975).

SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 6


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

B - PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ CỦA SỰ HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT



Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

trách nhiệm). Đó là tình cảm lớn nhất thúc đẩy mỗi người dân yêu nước đứng lên
chiến tranh giữ nước với những thử thách gian lao, dân tộc ta ai cũng hiểu rõ giá
trị thiêng liêng của độc lập dân tộc, nên đã “dĩ thân tuẫn quốc” (sẵn sàng hy sinh
vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc). Sự sống còn của dân tộc đoàn kết toàn dân, thúc
đẩy mọi tầng lớp góp sức chiến đấu và chiến thắng quân thù cường bạo.
Ở nước ta, sức mạnh giữ nước không chỉ là sức mạnh của một nhà nước,
mà là sức mạnh của cả nước và sự kết hợp khéo léo giữa đánh và đàm của Đảng
ta. Thấm nhuần quan điểm đó trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không
chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hể là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh
giặc Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, ai không
có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu
nước”. Quan điểm chiến tranh toàn dân được Đảng ta xác định năm 1951, trong
chính cương của Đảng ở đại hội Đảng lần thứ 2, đã bắt nguồn từ truyền thống
lịch sử lâu đời đó của dân tộc. Tư tưởng chiến lược “cả nước chung lòng, toàn
dân đánh giặc” cũng xuất phát từ yêu cầu khách quan của các cuộc chiến tranh
chống ngoại xâm của dân tộc. Đất nước ta đất không rộng, người không đông,
nhân tài vật lực của ta có hạn, lực lượng quân đội của ta không nhiều. Trái lại, kẻ
thù của dân tộc có đất rộng, người đông, có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh,
chúng cậy số đông, trang bị mạnh và có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh
xâm lược. Với điều kiện tương quan lực lượng giữa ta và địch như vậy, nếu dùng
lực lượng quân đội đơn thuần thì chắc chắn không thể đánh thắng được. Muốn
thắng quân thù to lớn và cường bạo, thì phải dựa vào sức mạnh cả nước, huy
động toàn dân đánh giặc.

sửng sốt, khâm phục và đem lại lòng tin cho cách mạng của các dân tộc nhỏ
chống các đế quốc to trên phạm vi thế giới.
Sức mạnh đó được phát huy cao như vậy vì có sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân
lao động Việt Nam, có sức mạnh của chính nghĩa độc lập dân tộc chống ngoại
xâm. Nó đã đoàn kết toàn dân và phát huy tinh thần chiến đấu chống kẻ thù. Nó
tạo ra sức sáng tạo phong phú trong việc tìm kiếm các thủ đoạn đánh địch trên
các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế của mọi tầng lớp, mọi thành phần trong xã
hội. Trong thời đại Hồ Chí Minh, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân
của ta là huy động toàn dân đánh giặc một cách toàn diện trên cả ba vùng chiến
lược, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị
kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và binh địch vận; kết hợp khởi
nghĩa vũ trang với chiến tranh, kết hợp nổi dậy của quần chúng với tác chiến của
lực lượng vũ trang; kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ của
dân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.
Với nghệ thuật đánh và đàm của Đảng ta đã huy động được hàng triệu
người ra tiền tuyến, đã khai thác và phát huy đến mức cao nhất tiềm lực cửa đất
SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 9


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

nước. Nó đã làm cho đội quân xâm lược khổng lồ bị sa lầy trong biển lửa của
toàn dân, bị lúng túng, bị động, bị cột chặt vào mâu thuẫn giữa phân tán và tập
trung, giữa phòng ngự và tiến công, giữa đánh nhanh và đánh kéo dài, làm cho
lực lượng địch ngày càng hao mòn, ý chí xâm lược ngày càng sa sút. Và cuối



Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

phủ ta qua việc kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao
để có thể giành được thắng lợi.
Trong các cuộc kháng chiến, ông cha ta luôn biết kết hợp chặt chẽ đấu
tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, vừa đánh vừa đàm để kết thúc chiến tranh,
điều đó trở thành một nghệ thuật quân sự của dân tộc như thời nhà Lê chống
quân Minh xâm lược, Lê Lợi đã mở hội thề Đông Quan để kết thúc chiến tranh
một cách hòa bình, đỡ tốn xương máu của nhân dân cả hai nước, mở đường cho
quân giặc rút về nước trong danh dự và làm cho chúng kính nể ta…Vận dụng và
phát huy một cách sáng tạo truyền thống đánh giặc đó, cũng như học tập kinh
nghiệm của hầu hết các cuộc chiến tranh trên thế giới luôn có sự kết hợp đấu
tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao. Lấy đấu tranh quân sự làm cơ sở để đấu
tranh ngoại giao và đấu tranh ngoại giao để tạo những điều kiện thuận lợi cho
đấu tranh quân sự phát triển mạnh. Đặc biệt chúng ta tranh thủ sự ủng hộ về tinh
thần của nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới, sự giúp đỡ về vật chất lẫn tinh
thần của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ của các nước láng
giềng trong cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập, tự do của dân tộc ta. Và một
khi quân sự mạnh lên, thế và lực vững vàng, sẽ tiến hành đấu tranh quân sự để
giành một thắng lợi quyết định buộc kẻ thù phải ngồi vào bàn đàm phán với ta.
Thắng lợi Điện Biên Phủ và Hiệp định Geneve được ký kết là hai sự kiện
lớn thể hiện sự kết hợp tuyệt vời giữa hai mặt trận quân sự và ngoại giao, trong
đó quân sự làm cơ sở để đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp, kết thúc
chiến tranh. Đây cũng là một nghệ thuật kết hợp đấu tranh đánh và đàm, một bài
học quý báu mà chúng ta tiếp tục vận dụng và phát huy trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước để giành thắng lợi trọn vẹn, vẻ vang nhất.

khó khǎn. Cách mạng thế giới lúc này đang ở thế tiến công. Cách mạng Việt
Nam đã hoà được vào trào lưu chung của cách mạng thế giới.
Thời kỳ này cũng cần lưu ý rằng, tuy chủ nghĩa đế quốc đã suy yếu nhưng
chừng nào còn chủ nghĩa đế quốc thì vẫn còn miếng đất để xảy ra chiến tranh.
Lực lượng xâm lược gây chiến chủ yếu trên thế giới là đế quốc Mỹ. Chúng đang
dẫn đầu các thế lực đế quốc hiếu chiến chạy đua vũ trang, củng cố các khối liên
minh quân sự xâm lược, xây dựng các cǎn cứ quân sự, phục hồi chủ nghĩa phát
xít ở Tây Đức và quân phiệt ở Nhật Bản, nhóm lên những lò lửa chiến tranh ở
châu Âu và châu Á, ra sức chuẩn bị chiến tranh mới. Nguy cơ chiến tranh thế
giới vẫn tồn tại. Nhân dân các nước đang đứng trước sự đe dọa hết sức nghiêm
trọng của một cuộc chiến tranh hạt nhân. Mặt khác, sự tàn sát và huỷ diệt ghê
gớm trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai và hậu quả của nó còn làm cho
nhiều người lo ngại và lẫn lộn giữa chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi
nghĩa. Trong điều kiện đó đã nảy sinh nhiều tư tưởng và khuynh hướng của chủ
nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân tộc làm cho tình hình thế giới phức
tạp. Họ tuyệt đối hoá đường lối chung sống hoà bình, đi vào phòng ngự bị động,
gây không ít khó khǎn cho phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt với phong
SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 12


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

trào giải phóng dân tộc. Trong tình hình đó, nhân dân ta tiến hành cách mạng giải
phóng miền Nam, Đảng và nhân dân ta phải giải quyết thành công mối quan hệ
giữa hoà bình và cách mạng. Giải quyết mối quan hệ này, đòi hỏi Đảng ta hết sức
sáng suốt và có sách lược đúng đắn. Thực tế Đảng ta đã giải quyết tốt mối quan


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

tranh, ngày càng mâu thuẫn quyết liệt với tư bản Mỹ, với các nhà cầm quyền Mỹ
và giai cấp tư bản các nước chư hầu Mỹ, làm rung chuyển hậu phương của
chúng. Điều đó nói lên rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân
ta là cuộc đụng đầu lịch sử mang tính thời đại sâu sắc.

1.1.2 Bối cảnh đất nước.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ở miền Nam (19541975) là sự tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Từ khi ra đời (3-2-1930), Đảng ta đã chỉ rõ: đất nước ta vốn là một Tổ
quốc thống nhất và nhân dân ta có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm bảo
vệ bờ cõi và cùng nhau xây dựng đất nước. Nhưng từ khi thực dân Pháp xâm
lược, chúng đã cùng bọn vua quan phong kiến đầu hàng, thống trị nhân dân ta, xã
hội Việt Nam thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, với hai mâu thuẫn cơ
bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc xâm lược và mâu thuẫn giữa
nhân dân ta, mà chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến. Đảng ta
gánh vác sứ mệnh lãnh đạo dân tộc giải quyết hai mâu thuẫn trên là thực hiện hai
nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: chống đế quốc xâm
lược, giành độc lập thống nhất Tổ quốc và chống phong kiến, giành lại ruộng đất
cho nông dân.
Tháng 7-1954, miền Bắc được giải phóng, nhưng miền Nam còn dưới ách
thống trị của đế quốc và bọn tay sai. Đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, cùng
bọn tay sai Ngô Đình Diệm tiếp tục thống trị nhân dân ta ở miền Nam, hai mâu
thuẫn cơ bản trên vẫn tồn tại và đất nước tạm thời bị chia cắt. Nhân dân ta tiến
hành kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai là tiếp tục cuộc cách mạng đã
được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng từ đâu nǎm 1930, nhằm hoàn thành sự
nghiệp giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc để tiến lên xây dựng chủ

mạng từng miền và mối quan hệ khǎng khít giữa cách mạng hai miền trong thế
chiến lược chung của cả nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960), xác định đường lối
cách mạng của nước ta:
- Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
- Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai,
thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc
đẩy lẫn nhau.
Về vị trí chiến lược cách mạng của từng miền, Đảng ta xác định: miền Bắc
là cǎn cứ địa chung của cách mạng cả nước và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển cách mạng cả
nước.

SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 15


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

Cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp
giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Thông qua
thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mỗi miền mà góp phần thực hiện nhiệm vụ
chung của cả nước là hoàn thành độc lập, thống nhất đất nước.
Việc xác định đường lối cách mạng tiến hành đồng thời hai chiến lược
cách mạng khác nhau ở hai miền là nét độc đáo, chưa có tiền lệ trong lịch sử, là
thành công lớn của Đảng ta. Đó là đường lối duy nhất đúng, biểu hiện tinh thần


GVHD: Khoa Năng Lập

cục diện này là toàn quốc kháng chiến nhưng Đảng đã đặt được mục tiêu đề ra
bấy giờ là bớt đi một kẻ thù là quân tưởng cùng bọn tay sai đề tập trung đối phó
với quân Pháp và có thêm thời gian để chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Cục diện
này cũng xuất hiện vào cuối cuộc kháng chiến nhưng kết quả “đàm” ở Hội nghị
Giơnevơ không phán ánh đầy đủ kết quả đánh ở chiến trường. Đây là một bài học
quý báu của Đảng cho những giai đoạn cách mạng sau.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một lần nữa Đảng vận dụng
sách lược vừa đánh vừa đàm, nhưng chủ trương vừa đánh vừa đàm của Đảng
trong kháng chiến chống Mỹ có từ khi nào và đến thời điểm nào là thích hợp để
vừa đánh vừa đàm. Yêu cầu bức thiết phải đặt ra sau 7-1954 là vạch ra mục tiêu
chủ trương vừa phù hợp với tình hình mỗi miền và cả nước, vừa phù hợp với xu
thế chung của thời đại.
Tháng 9-1954, Bộ chính trị ra nghị quyết đã chỉ ra đặc điểm chủ yếu của
tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới là: từ chiến
tranh chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm hai miền; từ nông thôn
chuyển sang thành thị; từ phân tán chuyển sang tập trung. Tại Hội nghị làn thứ
bảy (3-1955) và lần thứ tám (8-1955) Trung ương Đảng nhận định: muốn chống
đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc
lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức cũng cố miên Bắc, đồng thời giữ vững
cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
Tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đã xác định mục tiêu
và nhiệm vụ của toàn Đảng toàn dân ta hiện nay là củng cố miền Bắc và đấu
tranh thống nhất nước nhà trên cơ sở hòa bình. Tháng 1-1959, Hội nghị Trung
ương lần thứ 15 họp về cách mạng miền Nam nhằm phương hướng chung là giữ
vững hòa bình và thống nhất nước nhà. Hội nghị có ý nghĩa to lớn, chẳng những
mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên mà còn thể hiện rõ độc lập tự chủ,
sáng tạo của Đảng trong những năm tháng khó khăn của cách mạng. Đại hội lần

Có thể chưa cần đặt vội vấn đề miền Bắc; Tạo diều kiện cho Mỹ rút lui.
Trong hội nghị, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “phải thấy trong quá trình tiến
hành chiến tranh chống Mỹ, phải vừa kiên quyết vừa khéo léo. Lúc nào Mỹ
muốn đi ra thì tạo điều kiện cho Mỹ rút”. Ý kiến của chủ tịch Hồ Chí Minh chính
là tư tưởng chỉ đạo cho cuộc đấu tranh ngoại giao chống Mỹ sau đó. Kinh
nghiệm của cuộc kháng chiến chống Pháp cho thấy khi quân địch còn đang tin
tưởng vào sức mạnh quân sự, chưa bị tiêu diệt nhiều sinh lực và chưa nhận thấy
không thương lượng hòa bình không được thì cũng chưa phải là lúc Việt Nam có
thể đàm phán với kẻ thù. Chính vì vậy tuyên bố 5 điểm của Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam ngày 22-3-1965 theo chủ trương của bộ chính trị dù
đã đưa ra những điều kiện làm cơ sở về vấn đề miền Nam nhưng cũng thể hiện
một lập trường sắt đá kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trước sau như một. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trương ương (họp vào cuối tháng 3SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 18


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Khoa Năng Lập

1965) củng chỉ rõ phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, “chống tư tưởng sợ
Mỹ, đánh giá địch quá cao, hoặc chủ quan khinh địch, tư tưởng hoang mang, dao
động, cầu an, tư tưởng muốn đàm phán khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kế
thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài
và không tin vào sức mình.
Từ tháng 7-1965, Bộ chính trị bắt đầu nghiên cứu các khả năng đàm phán
với Mỹ. Trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 7-8-1965, đồng chí Lê Duẩn đã nêu
lên kế hoạch ba bước đấu tranh ngoại giao: Ta với Mỹ thăm dò, miền Bắc với
Mỹ ngồi nói chuyện, miền Nam cứ đánh, Mỹ phải nói chuyện với cả miền Bắc


giải quyết những vấn đề thuộc miền Nam và vấn đề thống nhất đất nước. Tổ chức
hội nghị quốc tế xác nhận về mặt quốc tế được thực hiện ở bước hai.
Để có một hậu phương quốc tế thống nhất với Việt Nam trước khi bước
vào thời kì đánh và đàm. Nhất là đối với Liên Xô và Trung Quốc, cuối tháng 101966, các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh đã đi Bắc
Kinh vào giữa tháng 12-1966, các đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh đã
đi Matxcowa. Hai đoàn đại biểu Việt Nam nói rõ quyết tâm chiến lược và sách
lược của mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với các nhà lãnh đạo
Liên Xô, Trung Quốc. Đối với Việt Nam việc thiết lập mặt trận nhân dân thế
giới chống Mỹ là rất cần thiết.
Chủ trương vừa đánh vừa đàm của Đảng được khẳng định ở mức cao hơn
tại Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương họp từ ngày 23 đến ngày
27-1-1967. Sau khi nêu bật những thắng lợi về chính trị, quân sự ngoại giao của
Việt Nam và đã nhận định rằng: “trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân ta hiện nay, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là
nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường làm cơ sở cho thắng lợi
trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị nhưng
cái mà chúng ta được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không
chỉ đơn thần là phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình quốc tế
hiện nay với tính chất chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một
vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”. Hội nghị đề ra ba phương châm cần
nắm vững trong đấu tranh ngoại giao là: “phát huy thế mạnh thế thắng của ta, chủ
động tiến công địch, giữ vững tính độc lập, đồng thời phối hợp chặt chẽ các nước
xã hội chủ nghĩa anh em.”. Kiên định về nguyên tắc “kiên quyết bảo vệ độc lập,
chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thể hiện trong lập trường 4 điểm của
chính phủ ta và tuyên bố 5 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương có giá trị
như là một bản cương lĩnh về đấu tranh ngoại giao của Đảng trong thời kỳ chống
Mỹ cứu nước.
…….

đã khẳng định: “nhiệm vụ chung của chúng ta hiện nay là: thi hành đúng đắn
hiệp định đình chiến, đấu tranh để giữ gìn và củng cố hoa bình, để thực hiện
thống nhất đất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”.
Nhiệm vụ chính của ngoại giao lúc này là tập trung vào đấu tranh đòi thi
hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. Chúng ta giương cao ngọn cờ pháp lý
của Hiệp định, kêu gọi sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc đấu tranh của các tầng lớp
nhân dân hai miền Nam Bắc đòi thi hành Hiệp định đòi lập lại quan hệ bình
thường giữa hai miền, đòi mở hội nghị hiệp thương để tổ chức Tổng tuyển cử
thống nhất nước nhà. Việc đấu tranh đòi thi hành các điều khoản quân sự tương
đối thuận lợi vì chính phủ Pháp đã quyết định thực hiện chiến lược rút khỏi Đông

SVTH: Thị Hồng Oanh

Trang 21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status