TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
NGUYỄN THỊ KHUÊ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ,
THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Ngành : Sư phạm GDCT – GDQP
Mã số : QP14-19
HÀ NỘI, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
NGUYỄN THỊ KHUÊ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ,
THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Ngành : Sư phạm GDCT – GDQP
Mã số : QP14-19
Người hướng dẫn: Đại tá Nguyễn Ngọc Cư
HÀ NỘI, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
NGUYỄN THỊ KHUÊ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ,
THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Giảng viên hướng dẫn
Đại tá Nguyễn Ngọc Cư
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam có truyền thống đấu tranh vũ
trang rất anh hùng.Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, dân tộc ta liên tục phải
chống lại kẻ thù xâm lược trong tình thế chiến đấu không cân sức (so sánh lực
lượng đối kháng), chúng ta thua kém trên nhiều phương diện Kẻ thù xâm
lược có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh, số quân đông, vũ khí trang bị hiện
đại. Trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, nghệ thuật quân sự Việt
Nam đã được hình thành và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào
thắng lợi của dân tộc. Những loại hình nghệ thuật quân sự tiêu biểu như: Nghệ
thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang, nghệ thuật tạo sức
mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời và mưu kế… Tuỳ vào tình hình cụ thể của ta
và địch nên trong mỗi trận đánh khác nhau mà ông cha ta đã sử dụng các loại
hình quân sự sao cho phù hợp. Nhưng trong các loại hình nghệ thuật ấy, nghệ
thuật tạo sức mạnh tổng hợp tổng hợp bằng lực, thế, thời được Đảng ta kế thừa
và vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam.
Lực, thế, thời là ba yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau tạo ra chiến
thắng, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, kẻ thù có sức mạnh quân
sự, tiềm lực kinh tế hơn ta nhưng Đảng ta đã vận dụng được lực lượng, thế
trận và nắm bắt, tạo thời cơ đúng lúc để giành chiến thắng đối phương điển
hình như Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, Chiến dịch Hồ Chí Minh…
Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời có vai trò đặc biệt
quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta, có ý nghĩa quyết
định đến vận mệnh của một quốc gia, giúp chúng ta hiểu được nghệ thuật tạo
sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời là bài học kinh nghiệm vô cùng quý
báu, cũng là cơ sở để Đảng ta vận dụng nghệ thuật đó vào trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay vì vậy tác giả chọn đề
tài: “Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời của Đảng ta
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ”.
1
1.1. Khái niệm
1.1.1. Nghệ thuật quân sự
Nghệ thuật quân sự, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Là cách đánh, cách
dùng binh đã trở thành thông thạo, điêu luyện trong một trận chiến đấu, một
chiến dịch hay trên toàn bộ chiến trường; nghệ thuật quân sự không có một
khuôn mẫu cụ thể nào, nó biến hoá khôn lường muôn hình, muôn vẻ.
Nghệ thuật quân sự là lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện
chiến tranh, chủ yếu là đấu tranh vũ trang ra đời cùng với quân đội và xuất
hiện khi có chiến tranh, xác định những nguyên tắc và phương thức tiến hành
đấu tranh vũ tranh, là nghệ thuật tạo ra và sử dụng có hiệu quả nhất thế và lực,
tận dụng thời cơ để chiến thắng.
Nghệ thuật quân sự được hình thành từ ba bộ phận: Chiến lược quân
sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Ba bộ phận nghệ thuật quân sự là
một thể thống nhất có quan hệ biện chứng chặt chẽ, trong đó chiến lược quân
sự đóng vai trò chủ đạo.
1.1.2. Lực, thế, thời
Theo từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam:
- Lực
Có lực lượng Quân sự, lực lượng chính trị, lực lượng kinh tế, lực lượng
vũ trang, lực lượng tinh thần…“Lực”: Gọi tắt của lực lượng, thường dùng đi
đôi với thuật ngữ thế. Lực là toàn bộ sinh lực, phương tiện vật chất và các khả
năng khác được dùng để tiến hành chiến tranh và các hoạt động quân sự.
Lực là sinh lực, phương tiện vật chất được sử dụng để tác chiến, bảo
đảm và phục vụ tác chiến như lực lượng chủ yếu, thứ yếu, tiến công
- Thế
Thế là tổng thể các hoàn cảnh, điều kiện cùng với xu thế vận động và
khả năng của các bên tham chiến dựa vào để phát huy sức mạnh trong
chiến tranh. Những yếu tố cơ bản của thế: Địa hình, trận địa, điểm đứng,
khí hậu, thuỷ văn, địa bàn tác chiến, số lượng, chất lượng của lực lượng
3
khởi nghĩa thành công.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nghệ thuật tạo sức mạnh
tổng hợp lực, thế, thời
Thời cơ là hoàn cảnh thuận lợi để làm một việc nào đó có kết quả, thường
đến và qua đi rất nhanh. Thời cơ là một yếu tố quan trọng trong mọi hoạt động
của con người. Trong lĩnh vực chiến tranh, đấu tranh vũ trang, trong nghệ thuật
tác chiến, thời cơ càng có ý nghĩa to lớn. Chính vì vậy, các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác - Lênin rất coi trọng việc tận dụng và nắm thời cơ cách mạng.
Ph.Ăngghen chỉ ra rằng “nếu trong buôn bán, thời gian là tiền bạc thì
trong chiến tranh thời gian là thắng lợi”. Vì thế, “bỏ lỡ thời cơ thuận lợi, không
lợi dụng cơ hội để tung vào chiến đấu với địch những lực lượng vượt trội thì có
nghĩa là sai lầm lớn nhất mà người ta có thể mắc phải trong chiến tranh”.
Phân tích đặc điểm, tình hình nước Nga năm 1917 V.I.Lênin đã kêu gọi
phải “lập tức chuyển sang khởi nghĩa”, vì thời cơ đã hoàn toàn chín muồi, “trì
hoãn là một tội ác”. Và “những người cách mạng sẽ phạm tội ác vô cùng lớn,
nếu họ bỏ mất thời cơ”. Nhờ đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng bôn-sê-vích đứng
đầu là V.I.Lênin, giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động ở Nga
đã đứng lên làm cuộc cách mạng vô sản thành công, mở ra kỷ nguyên mới
trong lịch sử nhân loại, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp trong
chiến tranh
Lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề thời cơ được Đảng và Bác
Hồ đã vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam.
Tranh thời kết hợp với tạo lực và lập thế ở cách mạng nước ta đã giành được
nhiều thắng lợi to lớn điển hình như hai cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và Đế quốc Mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, một danh
nhân văn hoá, mà còn là một nhà chiến lược quân sự thiên tài. Nét nổi bật trong
nghệ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nghệ thuật tạo lực, lập thế,
6
Chí Minh chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, thúc đẩy việc xây dựng
các tổ chức cách mạng của quần chúng, hình thành các đạo quân chính trị
ngày càng hùng hậu. Trên cơ sở đó, Người chỉ thị tổ chức các đội du kích,
thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đồng thời chăm lo xây
dựng các vùng căn cứ địa và chính quyền cách mạng ở các địa phương. Nhờ
thế mà khi thời cơ đến, với lực lượng cách mạng được chuẩn bị sẵn sàng và
chu đáo, nhân dân ta trên mọi miền đất nước đã vùng lên giành toàn bộ chính
quyền bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Kế đó, trong kháng
chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ
trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, ra sức phát triển kinh tế để bồi dưỡng
sức dân, tăng thực lực kháng chiến. Người và Đảng ta chăm lo chỉ đạo công
tác xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến vững mạnh về
mọi mặt, xem đó là một nhân tố thường xuyên, quyết định thắng lợi của sự
nghiệp kháng chiến.
Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tạo lực phải đi đôi với lập thế,
bởi thế và lực có mối quan hệ khăng khít. Nếu chỉ có lực không thôi thì chưa
đủ, mà còn phải có thế thì mới phát huy được tác dụng của lực. Trong chiến
tranh cũng vậy, chỉ có lực mà không có thế, thì cũng không thể đánh thắng
được quân địch. Thế trong nghệ thuật quân sự là tình thế, thế nước, thế trận
chiến tranh, thế bố trí lực lượng gắn với địa hình và điều kiện địa lý nhất định.
Để nâng cao hiểu biết cho các cấp chỉ huy của ta về thế và sự lợi hại của thế,
Người dẫn ý kiến Tôn Tử ví tính chất của mỗi thế trận như tính chất của
nước: nước lúc nào cũng chảy xuống chỗ trũng chứ không thể chảy ngược lên
cao được và được thế tốt thì đánh địch như xoay gỗ với đá. Gỗ với đá khi yên
thì nó tĩnh, khi nguy thì nó động. Vuông thì nằm, tròn thì nó lăn. Cho nên lúc
đánh địch, thì thế như lăn đá tròn xuống dốc núi cao mấy ngàn thước. Điều đó
còn có nghĩa rằng thế là nhân tố có thể làm tăng hiệu quả của lực, nhưng phải
là thế tốt, thế hay và chỉ có như vậy mới phát huy hết tác dụng của lực. Đành
rằng, thế bao giờ cũng lấy lực làm cơ sở và do lực quyết định, nhưng ở thế có
8
dân Việt Nam, quân xâm lược dẫu đông mà hoá ít, mạnh mà hoá yếu và bị sa
lầy trong thế trận toàn dân đánh giặc của chúng ta, và cuối cùng chúng bị thất
bại hoàn toàn.
Lực và thế trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh luôn kết hợp chặt chẽ
với nhau, tạo điều kiện cho nhau, dùng lực để lập thế, tạo thời và cũng là để
phát huy lực, tạo thế để thúc đẩy thời cơ, dùng mưu kế tạo thế ta, phá thế
địch, hạn chế cái mạnh của địch, phát huy cái mạnh của ta, tranh thủ thời cơ
giành thắng lợi. Mối quan hệ đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
giải quyết thành công trong cuộc đấu tranh vũ trang giành chính quyền và
trong hai cuộc kháng chiến. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975 là những
mốc son chói lọi của cách mạng Việt Nam và cũng là những mẫu mực về
nghệ thuật kết hợp lực, thế để giành toàn thắng dưới ngọn cờ lãnh đạo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có lực, có thế nhưng phải biết
tạo thời và tranh thời. Mùa thu năm 1944, biết thời cơ chưa đến, Người đã kịp
thời chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng, tránh cho cách mạng khỏi
bị tổn thất. Tháng 10 năm 1944, Người dự đoán “Cơ hội cho dân tộc ta giải
phóng chỉ ở trong vòng một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta
phải làm nhanh!”
. Tháng 8 năm 1945, trước tình hình thế giới, trong nước
chuyển biến dồn dập, Người khẳng định: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù
phải hy sinh đến đâu, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên
quyết giành cho được độc lập”
.
Thời cơ là một hiện tượng khách quan. Nó là sản phẩm sự vận động
tổng hợp của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan; nhưng động lực chủ yếu
nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi. Thế ta thắng đã rõ ràng, thế địch thua
đã rõ ràng, nhưng chúng vẫn ngoan cố, chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược
nước ta”.
Lực, thế, thời trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh luôn kết hợp chặt
10
chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau, làm chuyển hoá lẫn nhau trong những
điều kiện cụ thể. Dùng lực để lập thế, tạo thời; tạo thế, tạo lực cũng chính là
để nhanh chóng thúc đẩy thời cơ.
Trong tương lai, nếu kẻ thù gây chiến tranh xâm lược nước ta; nhân dân
ta phải tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện bảo vệ Tổ
quốc. Trong điều kiện ấy, ta vẫn phải thực hiện “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch
nhiều”, “lấy vũ khí trang bị kém hiện đại để thắng kẻ thù có vũ khí thiết bị
hiện đại hơn.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời của ông cha ta
Việt Nam có truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước vô cùng
oanh liệt. Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải liên tục chống lại
kẻ thù xâm lược và thường ở trong tình thế chiến đấu không cân sức, nhất là
vào thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa hoặc chiến tranh. So với lực lượng đối
kháng, nói chung chúng ta thua kém trên nhiều phương diện, ngoại trừ tinh
thần yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí độc lập tự do của nhân dân. Chính
trong cuộc chiến không cân sức kéo dài ấy mà dân tộc ta đã hình thành nên rất
nhiều loại hình nghệ thuật quân sự đặc sắc như nghệ thuật chiến tranh nhân
dân, nghệ thuật chiến tranh du kích, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật,
nghệ thuật khởi nghĩa vũ trang nghệ thuật toàn dân là binh, cả nước đánh
giặc…và nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực, thế, thời đã được ông
cha ta vận dụng một cách tài tình qua nhiều trận đánh và giành được nhiều
thắng lợi to lớn như: Kháng chiến chống quân Tống trên phòng tuyến sông
Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt, chống quân xâm lược phương Bắc của
Quang Trung hay chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng… Tất cả
sau hai lần thất bại, nhận thấy thời cơ đã đến, Lý Thường Kiệt cho quân phản
công và giành được thắng lợi to lớn.
Các nhà nghiên cứu hiện đại đánh giá đây là chiến thắng lớn nhất và là
trận chiến ác liệt nhất kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của dân tộc Việt
trong việc chống phương Bắc xâm lược. Chiến thắng này đã đánh dấu sự
thành công của ông cha ta trong việc vận dụng nghệ thuật tạo sức mạnh tổng
12
hợp bằng lực, thế, thời.
Cũng nói về nghệ thuật này, năm 1788-1789, Quang Trung đã sử dụng
loại hình nghệ thuật này trong kháng chiến chống quân xâm lược phương
Bắc. Đây là trận tiêu diệt chiến lược gọn gàng nhất và nhanh nhất của quân
dân Việt Nam chống quân xâm lược. Quang Trung diệt 29 vạn quân Thanh
chỉ trong 2 tháng (11-1788 – 30-12- 1788), nếu chỉ thời gian tham chiến thì
chỉ mất có 5 ngày. Quang Trung nhận định muốn lấy ít thắng nhiều thì cần tạo
ra bất ngờ, tạo thời cơ. Quang Trung đã nhận thấy trước thời cơ và chọn thời
cơ là tết Kỷ Dậu làm thời điểm quyết chiến chiến lược ngay từ khi ông còn ở
Phú Xuân. Về thế trận: 5 mũi tiến công của Quang Trung trong thành Thăng
Long được Quang Trung bố trí rất bài bản, vừa hợp lý, vừa rất lợi hại, khác
nào giăng lưới bủa vây con thú rừng để rồi sau đó phóng lao đâm chết nó.
Quang Trung đã tận dụng khả năng ở các con sông lớn để phát huy sức mạnh
của thuỷ quân. Lập thế trận hiểm hóc, tận dụng thời cơ, tập trung lực lượng ở
địa điểm và thời gian quyết định, đánh đòn quyết định, giành thắng lợi nhanh,
tiêu diệt gọn địch là đặc điểm của nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ mà
chúng ta cần học tập.
Hơn 4000 năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước cũng là hơn
4000 năm nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và vận dụng trong
các trận chiến đấu và giành nhiều thắng lợi to lớn. Nghệ thuật tạo sức mạnh
tổng hợp bằng lực, thế, thời đã được hình thành và lưu truyền cho đến tận
ngày nay và được Đảng ta vận dụng và sáng tạo trong mỗi trận chiến đấu.
Đúng như Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã nói, nước nhỏ đánh một
chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao, tiến công địch ở khắp mọi lúc, mọi nơi,
cả ở tiền tuyến và hậu phương. Nhờ đó, đã huy động và tạo thành sức mạnh to
lớn của toàn dân đánh giặc. Sức mạnh ấy còn được nhân lên gấp bội bằng sự
kết hợp lực lượng mọi mặt của toàn dân tộc với lực lượng cách mạng của thời
đại, tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước anh em, bầu bạn trong mặt trận
chống đế quốc xâm lược.
14
Trong chỉ đạo thực tiễn, để tạo lực lượng cho cách mạng, từ năm 1941
khi về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, thúc đẩy việc xây dựng
các tổ chức cách mạng của quần chúng, hình thành các đạo quân chính trị
ngày càng hùng hậu. Trên cơ sở đó, Người chỉ thị tổ chức các đội du kích,
thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đồng thời chăm lo xây
dựng các vùng căn cứ địa và chính quyền cách mạng ở các địa phương. Nhờ
thế mà khi thời cơ đến, với lực lượng cách mạng được chuẩn bị sẵn sàng và
chu đáo, nhân dân ta trên mọi miền đất nước đã vùng lên giành toàn bộ chính
quyền bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Cuộc cách mạng
tháng 8 năm 1945 đánh dấu bước thành công lớn của nghệ thuật tạo sức mạnh
tổng hợp bằng lực, thế, thời.
Giai đoạn 1945 – 1954: Sau thành công của Cách mạng tháng 8 năm
1945 là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.Trong chiến thắng Điện Biên
Phủ, chúng ta đã lợi dụng được địa hình hiểm trở của núi rừng để đề ra các
phương thức tác chiến trong mỗi trận đánh: cách thức kéo pháo vào trận địa,
dấu pháo ở sườn núi, đào công sự, hầm hào Nhưng tất cả những yếu tố đó
đều được đặt trên một nền tảng quan trọng là sự đồng lòng đồng sức của tinh
thần “tất cả cho tiền tuyến và tất cả để chiến thắng”.
Nhân dân ở vùng tự do Thanh - Nghệ Tĩnh, vùng mới giải phóng Tây
Bắc cũng như vùng sau lưng địch đều hăng hái tham gia phục vụ trận tuyến.
Chúng ta đã tổ chức những tuyến cung cấp dài 400 - 500 km từ Thanh Hóa,
Phú Thọ đến Tây Bắc. Chúng ta đã huy động mọi phương tiện hiện đại và thô
thì phải lợi dụng thế trận, lực lượng, thời cơ mà vận dụng trong chiến đấu.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đánh dấu bước ngoặt lịch sử
của cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời với những đường lối, quyết sách đúng
đắn đã đưa cách mạng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng cộng
sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo vào trong hoàn cảnh của Việt
Nam, cùng với đó là những kinh nghiệm quý báu mà cha ông ta để lại. Trong
16
cuộc kháng chiến chống Pháp nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp bằng lực,
thế, thời từ khi có Đảng lãnh đạo đã giành được nhiều thắng lợi to lớn như
cách mạng tháng 8 năm 1945 hay chiến dịch Điện Phủ… Các yếu tố về việc
sử dụng lực lượng kết hợp với thế trận cùng thời cơ đã làm phong phú thêm
nền nghệ thuật quân sự của nước nhà. Đảng ta đã vận dụng tài tình loại hình
nghệ thuật quân sự này vào trong các trận chiến đấu để làm nên những thắng
lợi to lớn và tạo tiền đề cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.
17
Chương 2
NGHỆ THUẬT TẠO SỨC MẠNH TỔNG HỢP BẰNG LỰC, THẾ,
THỜI CỦA ĐẢNG TA TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
2.1. Nghệ thuật tạo lực, tạo thế, tạo thời trong kháng chiến chống Mỹ
2.1.1. Tạo lực
Trong mỗi thời kì khác nhau của chiến tranh, việc xây dựng lực lượng,
xác định vị trí của các lực lượng cách mạng và chiến tranh cách mạng, và sử
dụng các lực lượng đều có khác nhau, nó phục tùng mục tiêu chiến lược và
phương thức tiến hành chiến tranh của từng giai đoạn.
Trong cuộc quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh, để thực hiện
mục tiêu chiến lược tiêu diệt hàng triệu quân, phá tan cả bộ máy chính trị
phản động lớn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, Đảng ta đã phát triển chưa
từng có, việc động viên và xây dựng lực lượng cả về số lượng và chất lượng
với những hình thức tổ chức thích hợp, bảo đảm thực hiện quyết tâm chiến
tô, xe kích, 270 tàu thuyền và xà lan, 300 toa xe lửa và nhiều chuyến máy bay
để vận chuyển.
Một vấn đề lớn cho việc sử dụng lực lượng trong trận quyết chiến chiến
lược là lực lượng dự bị chiến lược và quân bổ sung. Chúng ta đã có một quân
đoàn, 3 sư đoàn dự bị chiến lược ngoài 3 khối chủ lực mạnh đã bố trí sẵn trên
3 chiến trường chủ yếu khi mở đầu cuộc chiến, và đến khi tiến hành chiến
dịch Hồ Chí Minh, trong tay Bộ tổng tư lệnh còn 4 sư đoàn mạnh. Ngoài ra ta
đã chuẩn bị một lực lượng quân bổ sung đông đảo trong 2 năm 1973 – 1974 là
26 vạn, riêng mấy tháng đầu năm 1975, đã huy động 23 vạn quân bổ sung con
số hết sức lớn nếu so với tổng số quân là 418.225 lúc mở đầu chiến dịch.
Xây dựng, tích luỹ và sử dụng tối ưu các lực lượng dự bị chiến lược các
loại là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chỉ đạo chiến lược. Đó là
một trong những nhân tố để giành và giữ quyền chủ động chiến lược. Xây
dựng những binh đoàn dự bị lớn trong một thời gian ngắn và bất ngờ đối với
địch, sẽ có thể có được ưu thế quyết định về lực lượng và khi có thời cơ, kịp
19