Vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN CÔNG ĐẠT

Vai trß cña lùc l-îng vò trang NghÖ An
trong cuéc kh¸ng chiÕn chèng Mü cøu n-íc
(1954 – 1975)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

TS. TRẦN VŨ TÀI

NGHỆ AN - 2012


LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn sư quan tâm giúp đỡ
của các đồng chí Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An, các đồng chí trong Ban
Chỉ huy quân sự huyện Tân Kỳ, các cô chú CBCNV tại Thư viện tỉnh Nghệ
An, Thư viện Đại học Vinh, học viên Cao học K18 Nguyễn Thị Hiếu..., đã
giúp đỡ tác giả về mặt tư liệu. Tôi xin cảm ơn các quý thầy cô giáo trong
Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh đã tận tình chỉ dẫn. Đặc biệt tôi xin chân
thành cảm ơn TS. Trần Vũ Tài, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình xây
dựng đề tài và hoàn thiện luận văn Thạc sĩ. Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn tới gia đình, bạn bè, Trường Dự bị Đại học dân tộc TW Nha Trang, đã


Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu .............................................. 5

5.

Đóng góp của luận văn.......................................................................... 6

6.

Bố cục luận văn ..................................................................................... 7

NỘI DUNG....................................................................................................... 8
Chương 1. KHÁI QUÁT VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
NGHỆ AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
PHÁP (1945 - 1954) .................................................................... 8
1.1.

Vài nét về điệu kiện tự nhiên - xã hội Nghệ An ................................... 8

1.1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, cư dân Nghệ An .................................. 8
1.1.2. Truyền thống yêu nước của nhân dân Nghệ An ................................. 10
1.2.

Vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An giai đoạn 1945 -1954 ......... 15

1.2.1. Chiến đấu bảo vệ quê hương ............................................................... 15
1.2.2. Chi viện cho các chiến trường, góp phần làm nên thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Pháp ............................................................. 27
* Tiểu kết chương 1......................................................................................... 35
Chương 2. VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN


Lực lượng vũ trang Nghệ An chi viện cho chiến trường miền Nam...... 88

3.4.

Lực lượng vũ trang Nghệ An chi viện cho chiến trường Lào ............. 92

3.5.

Lực lượng vũ trang Nghệ An góp phần giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước ........................................................................... 113

* Tiểu kết chương 3....................................................................................... 117
KẾT LUẬN .................................................................................................. 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 123
PHỤ LỤC


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi là thiên anh hùng ca vĩ đại
trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là một sự kiện lịch sử có tầm vóc quốc tế lớn
lao và tính thời đại sâu sắc. Trải qua 21 năm kháng chiến gian khổ, nhân dân
ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với quy mô lớn
nhất, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ và 30 năm chiến tranh giải phóng
dân tộc, bảo vệ tổ quốc từ sau cách mạng tháng 8/1945, chấm dứt hoàn toàn
ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, hoàn thành cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước. Thắng lợi vĩ đại

(1954-1975). Vì những lý do nêu trên, tôi chọn vấn đề: “Vai trò của lực
lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954 – 1975)”, làm đề tài luận văn Cao học Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố đề
cập tới lịch sử địa phương Nghệ An nói chung. Tuy nhiên, chỉ mới được đề
cập rải rác, thiếu hệ thống từ những góc độ chuyên môn khác nhau; đáng chú
ý là những công trình đã công bố sau: “Nghệ An lịch sử kháng chiến chống
Mỹ cứu nước (1954-1975)” (Thường vụ tỉnh ủy - Đảng ủy, BCH quân sự tỉnh
Nghệ An, 1995), đã trình bày khá chi tiết cuộc kháng chiến chống Mỹ của
nhân dân Nghệ An, trong đó có đề cấp tới những hoạt động và thắng lợi của
lực lượng vũ trang Nghệ An đã đạt được. “Lịch sử Đảng Bộ quân sự tỉnh
Nghệ An 1945-2005)” (Đảng ủy quân sự Tỉnh Nghệ An biên soạn, Nhà xuất
bản Quân đội nhân dân, 2010) đã trình bày về sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ
An nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, trong đó có


3
đề cập tới hoạt động của lực lượng vũ trang nói riêng. “Lịch sử Đảng bộ Nghệ
An 1954 - 1975", tập II (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An tổ chức nghiên
cứu và biên soạn, Nxb Nghệ An, 1999) đã trình bày về sự lãnh đạo của Đảng
bộ Nghệ An nói chung, đặc biệt là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ,
trong đó có đề cập tới hoạt động của lực lượng vũ trang nói riêng. "Những
trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang trang Nghệ An 1945 - 1975), tập I
(Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An, Nxb quân đội nhân dân), đã trình bày
những trận đánh tiêu biểu của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Bên cạnh đó, trong các công trình xuất bản của
các địa phương trong toàn tỉnh Nghệ An, Ban chỉ huy Quân sự các huyện đã ít
nhiều đề cập tới hoạt động của lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, những hoạt

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
- Quá trình xây dựng, trưởng thành và hoạt động của lực lượng vũ trang
Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ trên cả hai phương diện bảo vệ hậu phương và chi viện cho tiền
tuyến lớn miền Nam.
- Rút ra những nhận xét, đánh giá và nêu lên các bài học kinh nghiệm
về công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở Nghệ An.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung phản ánh trong phạm vi thời
gian của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975), trong đó chúng tôi
chú trọng đến vai trò của lực lượng vũ trang Nghệ An trong hai lần chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, để làm rõ nội dung nghiên
cứu, chúng tôi cũng đề cập tới giai đoạn 1945 - 1954, với sự ra đời và sự


5
trưởng thành của lực lượng vũ trang Nghệ An để làm cơ sở so sánh cho
giai đoạn sau.
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung phản ánh những hoạt động xây
dựng và chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung làm rõ vai trò của lực lượng vũ
trang Nghệ An trên cả 2 phương diện: chiến đấu bảo vệ quê hương và chi viện
cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
4. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu lưu trữ: bao gồm các công văn, chỉ thị, các báo cáo của Đảng
bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An lưu trữ ở Văn phòng Tỉnh

vệ hậu phương miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Bước đầu
luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển
lực lượng vũ trang.
Luận văn tập hợp được nguồn tư liệu phong phú về lực lượng vũ trang
Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào việc nghiên cứu và
biên soạn lịch sử Nghệ An nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung thời chiến
tranh cách mạng.
Luận văn là nguồn tham khảo tốt cho việc giảng dạy lịch sử địa phương,
góp phần giáo dục thêm truyền thống yêu nước, niềm tin vào sự lãnh đạo của
Đảng, lòng tự hào của nhân dân Nghệ An, ý chí tự cường cho thế hệ trẻ.


7
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn được thể hiện trong 3 chương.
Chương 1. Khái quát vai trò lực lượng vũ trang Nghệ An trong kháng
chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Chương 2. Vai trò lực lượng vũ trang Nghệ An trong giai đoạn
1954 -1964.
Chương 3. Vai trò lực lượng vũ trang Nghệ An trong giai đoạn
1965 -1975.


8
NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
1.1. Vài nét về điệu kiện tự nhiên - xã hội Nghệ An

Bờ biển dài 83 km, có 6 cửa lạch (lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi, lạch
Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội). Vùng thềm lục địa rộng lớn và có 2 đảo, đảo Hòn
Ngư và đảo Hòn Mắt vươn ra Biển Đông giữ vi trí xung yếu của khu vực cửa
ngõ vịnh Bắc Bộ [15,481]. Biển là kho tài nguyên vô giá về khoáng sản, hải
sản, danh lam thắng cảnh mở ra khả năng to lớn phát triển các ngành công
nghiệp, khai thác hải sản, du lịch - dịch vụ. Biển còn có vị trí chiến lược cực
kì quan trọng, là khu vực phòng thủ từ xa, phòng chống địch tấn công từ
hướng Đông, các đảo là các đài quan sát, những trận địa tiền tiêu, là cứ điểm
bảo vệ hành lang cơ động và hoạt động kinh tế biển của ta trong mọi tình
huống. Cư dân miền biển đã không ngừng lao động sáng tạo khai thác tiềm
năng của biển, đóng góp xứng đáng cho công cuộc dựng nước và giữ nước.
Giao thông vận tải, Nghệ An có quốc lộ 1A xuyên việt ở phía Đông,
quốc lộ 15A xuyên việt ở phía Tây, đi suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh.
Quốc lộ 7 xuất phát từ quốc lộ 1A tại ngã ba Diễn Châu đi theo hướng Tây
Bắc sang tận Xiêng Khoảng (Lào); Quốc lộ 48, Yên Lý - Quế Phong; Quốc lộ
46, Cửa Lò - Dùng - Đô Lương; Các tỉnh lộ 558, Vinh - Phú Thành; 534 Quán
Hành - Bảo Nham; 537 Cầu Giát - Lạch Quèn; 538 Cầu Bùng - Công Thành;
454 của Nghệ An từ ga Hoàng Mai sang ga Yên Xuân.
Về đường thuỷ, sông Lam, sông Con rất thuận tiện cho việc vận tải lâm
sản từ miền ngược về miên xuôi. Các con kênh nhân tạo, đặc biệt là kênh Nhà


10
Lê cũng là một trục giao thông đường thủy quan trọng từ thời Tiền Lê. Cảng
Cửa Lò được xác định là cảng của vùng, phục vụ cho 3 tỉnh Thanh - Nghệ Tĩnh và trung chuyển cho vùng hạ Lào. Các tàu có thể neo đậu tại Hòn Ngư
(cách cảng 7 km) để trung chuyển hàng hóa vào cảng. Hiện nay tàu 3.000 tấn
có thể ra vào dễ dàng. Phía Nam thành phố Vinh, có cảng sông Bến Thuỷ
cảng này có từ thời thuộc Pháp, được nạo vét, mở rộng vào năm 1929. Ngày
nay, cảng hoạt động nhộn nhịp và cảnh quan thêm tươi đẹp, bởi cầu Bến Thuỷ
nối liền 2 bờ Nam Bắc sông Lam.

địch. Tại Đồng Mờm và Phủ Lý - Diễn Châu nghĩa quân đã lập được nhiều
chiến công vang dội, khu vực Đồng Thông (Yên Thành) được xây dựng thành
căn cứ quân sự vững chắc. Khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng từ Hương
Khê (Hà Tĩnh) phát triển ra, nhân dân Nghệ An đã sôi nổi hưởng ứng.
Đến đầu thế kỷ XX, Nghệ An lại là nơi khởi phát Duy Tân Hội và
phong trào Đông Du với người đứng đầu là nhà chí sĩ yêu nước lừng danh
Phan Bội Châu, Người con xứ Nghệ tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước
trong những năm đầu thế kỷ XX. Từ sau phong trào Đông Du thất bại, Phan
Bội Bội Châu và Cương Để bị trục xuất khỏi nước Nhật. Phong trào xuất
dương vẫn diễn ra sôi nổi trên đất Nghệ An hướng xuất dương không còn
sang Nhật mà sang Xiêm, Trung Quốc. Người có công khai phá ra hướng đi
này là Đặng Thúc Hứa (quê Thanh Chương). Năm 1909 ông sang Xiêm và
lập "trại cày" ở Thái Lan, hay các lớp huấn luyện ở Trung Quốc. Tại các lớp
huấn luyện này đã trưởng thành nhiều người con ưu tú đất xứ Nghệ như Đặng
Quỳnh Anh, Võ Trọng Đài, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu,
Phạm Hồng Thái.
Kế tục truyền thống yêu nước của tổ tiên, bước vào thời đại mới - thời
đại cách mạng vô sản, những thanh niên yêu nước ở Nghệ An, tiêu biểu trong
những người con đất Việt ra đi tìm đường cứu nước đầu thế kỷ XX, người


12
tiêu biểu nhất, đầu tiên bắt gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và cách mạng
tháng Mười Nga, người duy nhất tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng
Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), thực dân phong kiến thi
hành chính sách bóc lột nặng nề, không cam chịu làm nô lệ cho chúng, nhân
dân lại vùng dậy đấu tranh. Đã đến lúc phong trào cách mạng Việt Nam đòi
hỏi có một chính Đảng cách mạng khoa học tiên tiến đủ uy tín đứng ra lãnh
đạo. Đáp ứng yêu cầu lịch sử, ngày 03 tháng 02 năm 1930, Đảng Cộng sản

Tháng 9 năm 1940, Nhật nhảy vào nước ta, thực dân Pháp quỳ gối đầu
hàng, không chịu đựng "một cổ hai tròng" các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam
Kỳ nổ ra càng thôi thúc phong trào nổi dậy đấu tranh của nhân dân Nghệ An.
Ở nông thôn, phong trào chống bắt phu, bắt lính diễn ra sôi nổi ở nhiều nơi.
Một số cấp ủy Đảng ở Vinh, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Thanh Chương, Anh
Sơn, Diễn Châu được phục hồi đã tích cực chuẩn bị lực lượng. Đặc biệt các
cuộc đấu tranh bạo động diễn ra ngay trong số binh lĩnh người Việt trong
quân đội Pháp. Tiêu biểu đêm ngày 13 tháng 01 năm 1941, Nguyễn Trí Cung
(Đội Cung) tại đồn Rạng (Thanh Chương) và đồn Đô Lương nổ ra cuộc binh
biến làm chấn động dư luận.
Đêm ngày 09 tháng 03 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp sau vài giờ từ
khi nổ súng, quân Nhật làm chủ hoàn toàn thành phố Vinh. Mặc dù chưa tiếp
nhận kịp chỉ thị của Trung ương về việc "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta", song với nhạy cảm chính trị, một số cán bộ đảng viên đã gây
dựng lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa. Trước đòi hỏi thực tế của cách mạng
ngày 19 tháng 5 năm 1945, Hội nghị thành lập Ban vận động Việt Minh liên
tỉnh Nghệ Tĩnh được tổ chức tại nhà ông Mười Uyên (thành phố Vinh), do
đồng chí Nguyễn Xuân Linh làm trưởng ban. Ngày 15 tháng 8 năm 1945,
phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Chớp thời cơ thuận lợi đó Ủy


14
ban khởi nghĩa Nghệ Tĩnh đã phát lệnh khởi nghĩa. Ngày 16 tháng 8 năm
1945, nhân dân xã Thanh Thủy (huyện Nam Đàn) khởi nghĩa giành chính
quyền tiếp đó huyện Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên…ngày 21 tháng 8 năm 1945,
nhân dân xứ Nghệ giành chính quyền tại thành phố Vinh, chỉ trong vòng một
ngày (21-8-1945) cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Vinh đã thành công
rực rỡ. Ngày 21 tháng 8 năm 1945 trở thành ngày truyền thống của lực lượng
vũ trang Nghệ An.
Sau thắng lợi ở thành phố Vinh, quần chúng cách mạng tiếp tục khởi

Nghệ An bên cạnh việc bảo vệ an toàn bộ máy chính quyền tỉnh, đập tan âm
mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, thì lực lượng vũ
trang Nghệ An còn có nhiệm vụ xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ
trang để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp của dân
tộc. Mặc dù chỉ trong khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi, nhưng lực lượng vũ
trang Nghệ An đã đóng góp vai trò hết sức quan trọng và cơ bản hoàn thành
được nhiệm vụ của Đảng, Chính phủ, Tỉnh ủy Nghệ An giao cho. Thực hiên
chủ trương của Trung ương Đảng, tránh đương đầu với nhiều kẻ thù cùng một
thời điểm, để dành thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị lực lượng cho cách
mạng, Tỉnh ủy Nghê An lãnh đạo nhân dân kiên quyết đấu tranh với những
hành động ngang ngược của quân Trung Hoa Dân quốc, nhưng cũng mềm dẻo
buộc chúng và bè lũ tay sai phải thừa nhận chính quyền của nhân dân.
Tình hình đòi hỏi phải gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh để
kịp thời đáp ứng mọi nhiệm vụ quốc phòng an ninh, sẵn sàng chiến đấu
trong mọi tình huống. Chính quyền cách mạng đã động viên tổ chức toàn
dân nhanh chóng xây dựng, phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ
trang nhân dân. Các đoàn thể, chính quyền đều quân sự hóa. Các đội tự vệ từ
chỗ là lực lượng xung kích cùng với nhân dân nổi dậy giành chính quyền
trong cách mạng tháng Tám 1945, nay trở thành công cụ chuyên chính của


16
chính quyền cách mạng ở cơ sở. Bắt nguồn từ truyền thống cách mạng các
đội tự vệ đỏ trong cao trào 1930 - 1931, từ chí khí quật cường của quần
chúng trong tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, và giờ đây khí thế hào
hùng kiên cường chống xâm lăng của toàn dân tộc, lực lượng vũ trang Nghệ
An đã được xây dựng, phát triển nhanh chóng. Sau một thời gian vận động
tổ chức mỗi xã đã có đội du kích (từ một tiểu đội đến một trung đội), mỗi
thôn xóm từ một tiểu tổ đến một tiểu đội. Tất cả dân quân du kích đều không
thoát ly sản xuất làm nhiệm vụ quân sự, an ninh tại chỗ. Các cháu thiếu niên

vùng đồng bằng ven biển, xây dựng huấn luyện, vừa sẵn sàng chiến đấu. Để
làm nhiệm vụ chiến đấu, canh phòng trên biển, tỉnh còn thành lập đơn vị thủy
quân đóng ở Cửa Lò, lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 75, quân số 250 người. Cuối
1946, Tiểu đoàn 75 giải thể, bổ sung cho Trung đoàn 57.
Các cấp ủy Đảng coi trọng sự lãnh đạo trực tiếp tuyệt đối, toàn diện lực
lượng vũ trang, đã cử nhiều đồng chí đảng viên ưu tú, cán bộ có năng lực
được bổ sung làm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy. Đến cuối năm 1946 lực lượng vũ
trang Nghệ An đã có gần 1 vạn người trong các đơn vị chủ lực tỉnh, huyện,
hơn 10 vạn người trong lực lượng dân quân. Lực lượng vũ trang Nghệ An đã
trưởng thành một bước, vừa xây dựng vừa chiến đấu, trở thành công cụ
chuyên chính tin cậy nhất của Đảng bộ và chính quyền, làm nòng cốt cho toàn
dân chống thù trong giặc ngoài.
Quân Pháp ráo riết chiếm lại những điểm xung yếu sát biên giới nước
ta. Trên các trục đường quan trọng xuyên Việt - Lào sát tỉnh Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh đã xuất hiện quân Pháp ở Mường Dương, Mường Lan,
Mường Na, (tỉnh Sầm Nứa Lào), ở Noọng Hét, Bản Ban Mường Ngàn (tỉnh
Xiêm Khoảng), cửa ngõ đường số 7 Xiêng Khoảng - Diễn Châu, ở NaPê,
LakSao, Khăm Cợt (trên tỉnh Khăm Muộn), cửa ngõ đường số 8 Khăm Muộn


18
- Vinh âm mưu của chúng là chuẩn bị đàn áp sẵn sàng tiến công các tỉnh Bắc
Trung Bộ mà Nghệ An là trọng điểm, chúng còn móc nối với quan lại cũ
người Việt ở miền Tây nghệ An chờ thời cơ hành động. Miền Tây hai tỉnh
Nghệ An và Hà Tĩnh bị họa xâm lăng trực tiếp uy hiếp của thực dân Pháp.
Trước tình hình đó, ngày 24 tháng 8 năm 1945 hai tỉnh bộ Việt Minh họp liên
tịch bàn và quyết định phối hợp với nhau đánh địch trước, đến nơi có địch mà
đánh, nhân lúc địch mới phục hồi. Trước mắt cần giải phóng Napê, đẩy lùi
nguy cơ bị địch tiến công theo hướng quốc lộ 8, đồng thời giúp cách mạng Lào
Phát triển [46, 73]. Ở thị trấn NaPê là trung tâm chỉ huy của Pháp, ở đây quân

chỉ đạo Tiểu đoàn 418 trong xây dựng và hoạt động [46, 77].
Cùng thời điểm khi quân Tưởng tràn vào Nghệ An, ở miền Nam, thực
dân Pháp với sự cấu kết với quân Anh, lấy cớ vào "giải giáp quân Nhật" đã nổ
súng đánh chiếm Sài Gòn. Tối ngày 23 tháng 9 năm 1945, kháng chiến Nam
Bộ bắt đầu. Quân và dân Nghệ An quyết cùng cả nước hương về miền Nam
ruột thịt, đem hết sức mình thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng ủng hộ Nam Bộ
kháng chiến. Ngày 29/9/1945, hai đại đội Nam tiến còn lại tiếp tục lên đường
vào Nam [46, 84]. Lực lượng Nam tiến vào chiến trường đã làm tăng thêm
sức mạnh chiến đấu cho miền Nam kháng chiến. Như vậy, trong một năm sau
cách mạng tháng 8, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ lực lượng vũ trang Nghệ
An đã cùng với nhân dân hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ của Trung ương
Đảng và Chính phủ giao cho, không chỉ xây dựng, bảo vệ, củng cố chính
quyền cách mạng, đánh đuổi được giặc ngoại xâm, dẹp trừ được nội phản, đẩy
lùi nạn đói, nạn dốt và xây dựng cuộc sống mới, mà còn chuẩn bị thực lực về
cơ bản cho cuộc kháng chiến chống Pháp.
Khi cuộc kháng chiến Nam Bộ bồng nổ quân và dân Nghệ An cũng mở
đầu cuộc đấu tranh với quân Tưởng và tay sai để bảo vệ nền độc lập bảo vệ
chính quyền cách mạng. Ngày 24 tháng 9 năm 1945, một vạn quân Tưởng từ


20
Hà Nội lũ lượt kéo vào hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng vừa vào ở Vinh
ngang ngược quấy nhiếu, hăm dọa dùng vũ lực giải tán chính quyền cách
mạng, buộc ta phải cung cấp các nhu cầu vật chất mà chúng cần rồi chúng tự
do lập lực lượng vũ trang riêng, tự do chống phá chính quyền cách mạng.
Chúng tự ý cho quân đồn trú những nơi chúng tự chọn như sân bay Nghi Lộc,
Cầu Cấm, Cầu Yên Xuân, Mường Xén, Cửa Rào, Diễn Châu và nhiều nơi
xung yếu ở thành phố Vinh [46, 87]. Quán triệt chỉ thị của Đảng, Chính phủ
và Hồ Chủ tịch, Tỉnh ủy - Ủy ban hành chính tỉnh đã hưỡng dẫn các cấp thực
hiện các biện pháp đấu tranh với quân Tưởng vừa cứng rắn vừa mềm dẻo ôn

Ban chỉ huy Trung đoàn 57 phát lệnh tấn công với sức mạnh áp đảo, quân ta
nhanh chóng đập tan mọi kháng cự của địch, chúng buộc phải đầu hàng vô
điều kiện vào 0 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 12 năm 1946. Cùng ngày, tại sân
bay Vinh một đại đội đã bắt gọn tổ lái và thu chiếc máy bay Moran của Pháp.
Chiến thắng thành Vinh vào giữa đêm 19 tháng 12 năm 1946, là chiến công
đầu của quân và dân Nghệ An góp vào chiến công chung của cả nước mở màn
cho cuộc kháng chiến toàn quốc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược [27, 81].
Thực hiện chủ trưng “tiêu thổ kháng chiến” của Đảng, Chính Phủ và
Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban kháng chiến
hành chính tỉnh đã lãnh đạo lực lượng vũ trang cùng nhân dân đẩy mạnh công
tác phá hoại để ngăn chặn địch. Ủy viên Quân sự Tỉnh trực tiếp chỉ đạo tiến
hành chiến dịch phá hoại theo phương châm "phá hoại để kháng chiến". Lực
lượng vũ trang tỉnh là lực lượng đóng vai trò xúc tiến mạnh mẽ việc phá hoại
giao thông và vận chuyển hàng vạn tấn máy móc, thiết bị lên chiến khu.
Trong phạm vi toàn tỉnh bộ đội và nhân dân đã phá hủy 302 công sở và nhà
cửa của tư sản Pháp, 11.046 nhà dân. Quân dân Nghệ An đã xúc tiến mạnh
mẽ việc phá họai giao thông. Vào tháng 4 năm 1947, bóc dỡ đoạn đường sắt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status