BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI THỊ HUY TÙNG
VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ
AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC
(1954 - 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
2
NGHỆ AN - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
BÙI THỊ HUY TÙNG
VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN TẢI NGHỆ
AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
MỸ CỨU NƯỚC
(1954 - 1975)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An. tháng 10 năm 2013
Tác giả
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 9
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................................9
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề............................................................................................11
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu...................................................................14
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.................................................................14
5. Đóng góp của luận văn.................................................................................................15
6. Cấu trúc của luận văn...................................................................................................15
Chương
1
KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG VẬN
TẢI NGHỆ AN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
PHÁP (1945 - 1954)............................................................16
1.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của giao thông vận tải Nghệ An...............16
1.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Nghệ An.......................................16
1.1.2. Sự hình thành mạng lưới giao thông ở Nghệ An................................................25
1.1.3. Sự phát triển mạng lưới giao thông Nghệ An trong thời kỳ Pháp thuộc............30
1.2. Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Pháp..........40
1.2.1. Tiêu thổ kháng chiến..........................................................................................40
1.2.2. Phục vụ sản xuất.................................................................................................42
1.2.3. Góp phần chi viện cho chiến trường..................................................................44
3.2. Vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong những năm 1969 - 1972...................94
3.2.1. Phục vụ sản xuất.................................................................................................94
3.2.2. Góp phần chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai..............................................97
3.2.3. Đảm bảo mạch máu giao thông, chi viện cho chiến trường.............................102
3.3. Giao thông vận tải Nghệ An góp phần giải phóng Miền Nam (1973 - 1975).........108
Tiểu kết chương 3...........................................................................................................112
KẾT LUẬN.........................................................................................113
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................115
PHỤ LỤC 120
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBP
:
Điện Biên Phủ
GTVT
:
Giao thông Vận tải
HCM
:
Hồ Chí Minh
TW
:
Trung ương
UBHC
:
Uỷ ban hành chính
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đã kết thúc
với thắng lợi với Đại thắng mùa xuân 1975, chấm dứt cuộc chiến tranh phi
nghĩa của đế quốc Mỹ, đem lại tự do độc lập cho dân tộc. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, nhân dân ta đoàn kết một lòng, mỗi người dân thuộc mọi giai tầng
xã hội đã dốc hết bản lĩnh, trí tuệ của mình thành bản lĩnh trí tuệ dân tộc
Việt Nam. Thắng lợi vĩ đại của dân tộc là tổng hòa của nhiều yếu tố, thắng
lợi trên các mặt trận: quân sự, binh vận, văn hoá, giao thông vận tải... Mỗi
Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của mình người Nghệ
An đã kiên cường vượt qua mọi gian lao thử thách. Dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã
phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, phục vụ tốt cho nhu cầu kháng chiến
tại chỗ, huy động toàn lực của địa phương, động viên mọi tầng lớp nhân dân,
tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành mọi nhiệm vụ như đánh máy bay, bắt
giặc lái, đánh tàu chiến, chống gián điệp, xây dựng hậu phương vững chắc,
đặc biệt hơn nữa đảm bảo giao thông vận tải chi viện tiền tuyến. Không chỉ
phục vụ cho địa phương, cho đất nước người dân Nghệ An còn thực hiện
nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với Lào và Cam-pu-chia.
Nhiều chiến tích vẻ vang của quân dân Nghệ An dã gắn liền với những
địa danh lịch sử: giao thông đường thuỷ với phà Bến Thủy, cầu Cấm, kênh
nhà Lê... đường bộ với núi Dũng Quyết, các tuyến đưòng chiến lược như
đưòng số 15 với mười hai cô gái Truông Bồn, cột mốc số không, đường 7...
Là những biểu tượng khí phách của người dân xứ Nghệ trong hai cuộc chiến
tranh phá hoại, trong nghĩa tình chung thuỷ đối với chiến trường Lào.
Mặt trận giao thông vận tải với tinh thần "Đường không ổ gà, cầu phà
vững chắc...". Thời kì kháng chiến chống Mỹ được đánh giá là thời kỳ lịch sử
sôi động của tỉnh nhà.
11
Việc nghiên cứu vai trò của giao thông vận tải Nghệ An trong kháng
chiến chông Mỹ Cứu nước không chỉ tái hiện những sự kiện lịch sử trên mặt
trận giao thông vận tải của cả nước nói chung mà còn phục dựng một cách
sinh động lĩnh vực giao thông vận tải Nghệ An, góp phần đánh giá vai trò tích
cực của giao thông vận tải Nghệ An trong nhu cầu phục vụ tại chỗ trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ tại địa phương và những đóng góp, chi viện phục vụ
các chiến dịch lớn trên mặt trận quân sự.
Do vậy, nghiên cứu về vai trò giao thông vận tải Nghệ An trong thời kì
bảo vệ giao thông vận tải ở các tỉnh trên địa bàn thuộc quân khu. Qua cuốn
sách độc giả hình dung ra mặt trận giao thông vận tải trong cả nước.
Cuốn "Biên niên Lịch sử hậu cần quân khu IV" - Cục hậu cần 1994 có
đề cập đến nhiều vấn đề như: Tham gia thi công tuyến đường ống xăng dầu
của các đơn vị vũ trang cùng hàng ngàn dân công, thanh niên xung phong xây
dựng đường ống xăng dầu ở trên địa bàn quân khu trong kháng chiến chống
Mỹ. Cuốn sách cũng đã nêu những đóng góp của các đơn vị vũ trang quân
khu trong kháng chiến và chiến trường Lào.
Cuốn "Thanh niên xung phong Nghệ An - Những mốc son chói lọi" của
tập thể nhiều tác giả do Cựu thanh niên xung phong thực hiện xuất bản 2010
đã đề cập đến sự hi sinh và chiến công của thanh niên xung phong Nghệ An
trong kháng chiến chống Mỹ trên mặt trận giao thông vận tải.
Cuốn "Giao thông vận tải Nghệ An 60 năm xây dựng và phát triển" Nhà xuất bản Nghệ An 2005 đề cập đến thành tích của ngành giao thông vận
tải Nghệ An ở mức chung.
Cuốn "Nghệ Tĩnh 40 năm sự kiện và con số" - Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
1985 ghi lại những sự kiện của hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh trong kháng chiến
chống Mỹ ghi một số sự kiện liên quan đến giao thông vận tải.
13
Ngoài ra trong các công trình lịch sử Đảng bộ các địa phương thuộc tỉnh
Nghệ An như:- Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn, Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa
Đàn, Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh... Nơi có những con đường giao thông
huyết mạch trong kháng chiến như đường số 7, cột mốc số 0, đường 15, quốc lộ
1, phà Bến Thuỷ... cũng đã đề cập ít nhiều đến đề tài chúng tôi nghiên cứu.
Cuốn lịch sử "Đảng bộ Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4"
Nhà xuất bản văn hoá thể thao Hà Nội, có ghi chép rõ sự ra đời của Cục công
trình I đến những thành tích cụ thể của Đảng bộ, công nhân cục công trình I
góp phần mở dường giao thông tham gia kháng chiến. Quá trình thi công các
con đường chiến lược theo chủ trương của Đảng và nhà nước.
• Khái quát về sự phát triển của ngành giao thông vận tải Nghệ An
• Phân tích các hoạt động của ngành giao thông vận tải Nghệ An.
• Đánh giá vai trò của ngành giao thông vận tải Nghệ An.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu, giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi dựa vào các
nguồn tư liệu sau:
- Tài liệu gốc gồm các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà
nước, của các cấp uỷ Đảng, chính quyền của Bộ Giao thông vận tải và tỉnh
Nghệ An về vấn đề giao thông vận tải Nghệ An trong kháng chiến chống Mỹ
cứu nước.
- Tài liệu tham khảo gồm các công trình nghiên cứu về giao thông vận
tải Nghệ An đã công bố.
- Tài liệu hồi cố: hồi ký, lời kể của các nhân chứng lịch sử đã hoạt
động trong lĩnh vực giao thông vận tải ở Nghệ An thời chống Mỹ cứu nước.
- Tư liệu điền dã thông qua những lần thực tế tại các cung đường và
nút giao thông quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ mà vẫn còn dấu tích
để làm phong phú và sáng tỏ nội dung của đề tài.
15
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của
Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, về mặt trận giao
thôngvận tải trong chiến tranh.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Ngoài 2 phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành là lịch sử và lôgic, chúng tôi sử dụng các phương pháp liên
ngành khác như điều tra điền dã, phỏng vấn, thống kê kinh tế, thống kê xã hội
học để thực hiện đề tài này.
5. Đóng góp của luận văn
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với 3 tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôly
khăm xay có chung 419,5 km đường biên giới, theo đường 8 cách biên giới
Việt - Lào khoảng 80km, biên giới Lào - Thái Lan gần 300km. Điểm cực Bắc
là đỉnh núi bản Liên xã Thông Thụ huyện Quế Phong, điểm cực Nam là sườn
nam dãy núi Thiên Nhẫn (Nam Kim - Nam Đàn). Điểm cực Tây là đỉnh Pù
Xơi xã Mường Ải - Kỳ Sơn, điểm cực đông là chân núi Xước - Đông Hồi
(Quỳnh Lập, Quỳnh Lưu). Nghệ An hội nhập đủ các tuyến đường giao thông:
đưòng bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường sông và đường biển. Với vị trí địa lý
này Nghệ An là địa bàn quan trọng trong cả nước, có các tuyến giao thông
huyết mạch từ Bắc vào Nam có các cửa ngó sang nước bạn Lào và vùng đông
bắc Thái Lan (3 của khẩu) có biển và đường biển ra thế giới, một lợi thế thời
mở cửa. Với tuyến quốc lộ 1 dài 91km, đường Hồ Chí Minh chạy song song
với quốc lộ 1 dài 132km, quốc lộ phía Tây dài 149km chạy xuyên suốt tỉnh,
quốc lộ 7 nối với cửa khẩu Nậm Cắn dài 225km, quốc lộ 46 nối với của khẩu
17
Thanh Thuỷ dài 92km, quốc lộ 48 dài 122km nối với của khẩu Thông Thụ là
những tuyến nối liền phía Đông và phía Tây của tỉnh với các cửa khẩu Việt Lào, cùng với 421km đường cấp tỉnh và 3.670km đường cấp huyện đã tạo nên
mạng lưới giao thông thuận tiện, đóng vai trò quan trọng trong vận chuyển
hàng hoá đường nội tỉnh, giao lưu hàng hoá Bắc - Nam và vận tải quá cảnh.
Tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 94km, tuyến đường sắt Cầu Giát đi
Nghĩa Đàn dài 30km với 7 ga trong đó ga Vinh là ga trung tâm có khối
luợng hành khách và hàng hoá lưu thông lớn. Bên cạnh đường biên giới dài
419 km và 82km bờ biển tỉnh còn có sân bay Vinh, cảng Cửa Lò với quy mô
hiện tại 1, 3 triệu tấn, tàu ra vào một vạn tấn và có khả năng nâng cấp đạt
công suất 3, 5 triệu tấn và từ 6 - 8 triệu tấn vào 2020, tàu ra vào 3 - 4 vạn tấn
là tiềm năng lớn cho ngành vận tải biển và xúât nhập hàng hoá của Nghệ An,
của khu vực Bắc Trung bộ đồng thời là của ngõ thông ra biển của nước bạn
Lào và Đông Bắc Thái Lan. Nằm giữa hai cảng nước sâu là Nghi Sơn
Mỹ, (Nghĩa Đàn), Môn Sơn, Lục Gịa (Con Cuông). Địa hình đồng bằng ven
thấp và bằng phẳng bị các cửa sông chia cắt với sáu cửa sông cửa lạch. Dòng
sông Cả là một trong 5 con sông lớn nhất ở nước ta, sông Cả bắt nguồn từ
nước Lào chảy qua các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Anh Sơn, Thanh
Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh đổ ra biển Đông tại Cửa
Hội. Bắt nguồn từ tỉnh Hủa Phăn (Lào) chảy theo hướng tây bắc - đông nam
nhập vào đất Nghệ An tại xã Keng Đu (Kỳ Sơn), dòng chính đi sát biên giới
Việt - Lào chừng 40km sau đó đổi theo hướng Bắc - Nam nhập với nhánh
Nậm Mộ và lại chuyển dòng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Qua
nhiều lần uốn lượn đến chợ Tràng (Hưng nguyên) sông cả nhập với sông La
và đổi dòng một lần nữa theo hướng tây - đông rồi chảy ra Cửa Hội. Phần
miền núi lòng sông hẹp hình chữ V chảy len lỏi giữa các núi cao và dọc
19
đường nhận các nhánh sông suối, từ thượng nguồn đến hạ lưu có 117 ghềnh
thác, tại miền núi phía Tây đoạn từ Mường xén - Kỳ Sơn đến của Rào Tương
Dương có 3 thác khá nguy hiểm, từ Nậm Nơn đến Kim Đa có 5 thác trong đố
có thác kênh Tạng khó đi hơn cả (thác có 2 bậc, mỗi bậc cao chừng 2m), từ
cửa Rào về Đô Lương dòng sông thể hiện rõ tính chất trung lưu, đoạn này có
74 ghềnh thác trong đó có hai thác Tương đối cao ở Con Cuông [15, Tr 67,
68]. Mùa lũ tốc độ lớn cuốn trôi nhà cửa và đe doạ nghiêm trọng đê kè cầu
cống phương tiện và các công trình giao thông. Bên cạnh đó Thượng nguồn
có nhiều ghềnh thác có khả năng tạo ra nguồn năng lượng dồi dào cho phép
phát triển các công trình thuỷ điện mạnh công nghiệp thuỷ điện, khoảng 70
điểm có thể xây dựng các công trình thuỷ điện nhỏ và thuỷ điện gia đình nơi
thuỷ điện quốc gia chưa tới điều đó có ý nghĩa quan trọng khi hiện nay chúng
ta đang đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiệp nông thôn đăc
biệt là nông thôn miền núi Dòng sông Lam nhánh chính gồm Nậm Mộ, sông
Hiếu, sông Giăng, sông La và các con sông chảy trực tiếp ra biển đó là sông
biển này chịu sự tương tác giữa môi trường nước ngọt và nước mặn, hoạt
động của thuỷ triều làm hình thành nên các hệ sinh thái vô cùng đa dạng,
phong phú ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và phát triển kinh tế của vùng,
trên dòng chảy của các con sông này có tác động thóat lũ nhanh ra biển, là nơi
đi về của của các phương tiện thuỷ nội địa từ xa xưa là nơi neo đậu đi về của
ngư dân ven biển, nơi neo đậu của tàu thuyền, là nơi phục vụ tàu và là đầu
mối giao thông quan trọng của giao thông đường thuỷ điểm tập hợp của
những phương tiện giao thông thuỷ bộ, trao đổi giao lưu văn hoá, hàng hoá
giữa các vùng miền, thúc đẩy buôn bán của nội tỉnh, góp phần làm thay đổi cơ
cấu hàng hoá trong khu vực và trong nước, là một trong những điểm giao
thông để giao lưu, đi lại giữa các vùng miền, tạo mối liên hệ vùng và quốc tế.
21
Nghệ An có bờ biển dài 82km và diện tích vùng biển 4.230 km vuông,
dọc bờ biển có 6 cửa lạch với độ sâu từ 1 - 3,5m thuận lợi cho tàu thuyền có
trọng tải 50 - 1.000 tấn ra vào, bờ biển Nghệ An có nhiều bãi tắm đẹp và hấp
dẫn nước sạch, sóng không lớn độ sâu thoải, độ mặn thích hợp với vị trí thuận
lợi về giao thông đó là các bãi biển Cửa Lò, Nghi thiết, Cửa Hiền, Quỳnh
Bảng, Quỳnh Phương.Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch Nghệ An có nhiều
tiềm năng phát triển vận tải biển trong đó cảng Cửa Lò - cảng hàng hoá lớn
nhất của vùng, cách bờ biển Nghệ An 4 km có đảo Ngư với diện tích trên 100
hécta, nước mớm quanh đảo có độ sâu 8 - 12m có điều kiện xây dựng thành
cảng nước sâu trong tương lai, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá của
các nước trong khu vực. Biển Nghệ An có tiềm năng lớn để phát triển nuôi
trồng thuỷ sản, phát triển du lịch và vận tải biển [50, Tr 4].
Dải đồng bằng nhỏ hẹp chỉ có 17% chạy từ nam đến bắc giáp biển đông
và các dãy núi cao bao bọc. Địa hình của tỉnh với hệ thống sông ngòi dày đặc
và những dãy núi xen kẽ, độ dốc lớn nên gây trở ngại không nhỏ về giao
thông, thuỷ lợi nhất là ở miền núi.
khác đến, đó là những người đói nghèo từ các nơi di cư vào khai khẩn, làm
ăn. Bởi nơi đây là vùng viễn trấn xa kinh đô chưa được khai phá mấy nên một
số tiểu vùng còn gọi là Kimi (quản lý lỏng lẻo) nên mỗi khi ngoài bắc, ngoài
thanh có lụt lội hạn hán bà con vào đây để khai khẩn, lập làng hoặc dắm vào
làng đã có người cư trú. Số người này di cư không có sự tổ chức của nhà nước
đến Nghệ An đông nhất vào thế kỷ XI - XV. những quan chức được bổ nhiệm
trị nhậm tại Nghệ An rồi lấy vợ, sinh con, lập nghiệp tại đây không về quê
hương nữa, trong số này có một số người vào đây xây dựng căn cứ chống lại
tập đoàn phong kiến [16, Tr24] trung ương vốn là dòng tộc Tiền Lê, Trần,
Hậu Lê. Những người có "tội" với nhà nước phong kiến, những người thất bại
trong các cuộc khởi nghĩa, những người thất thế qua các làn sóng phế hưng
23
cua các vương triều hoặc qua các cuộc phân tranh của các tập đoàn phong
kiến, họ vào đây thay tên, đổi họ để tránh sự đàn áp, những lính thú lưu đồn
hoặc đến đánh trận lấy vợ sinh con không về quê hương vản quán nữa. Kiều
dân của Ai lao, Chăm Pa, Tống, Nguyên, Minh có người là tù binh, dân buôn
bán đến đây rồi ở lại... cho dù là ngườiTrung Quốc, Chăm Pa, Bồn Man, Ai
Lao hay cả người Bồ Lô cự trú ở một số cửa biển từ đời này qua đời khác,
theo tháng năm họ trở thành cư dân Việt Nam, ngưòi Nghệ An, trong một
trường kỳ lịch sử họ đã đóng góp công sức của mình vào việc khai phá, xây
dựng, chiến đấu và bảo vệ mảnh đất này.
Đồng bào các dân tộc thiểu số tập trung ở miền núi sống thành làng
bản. Năm 2005 miền núi chiếm 83% diện tích tự nhiên. Đây là địa bàn quan
trọng có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh
đói với cả tỉnh và khu vực.
Nhìn chung các tộc người sinh sống trên đất Nghệ An tuy có khác nhau
về ngôn ngữ, phong tục tập quán, quá trình chuyển cư nhưng trước những
biến động của lịch sử, nhu cầu sinh tồn cư dân trên mảnh đất này đã cùng
Nghệ An luôn đi đầu và kiên cường trong đấu tranh chống cường quyền, áp
bức, bất công, chống giăc ngoại xâm.
Xứ Nghệ là đất văn vật, mặc dù không phải là xứ nổi tiếng không vì
nhiều người đỗ đạt, nhưng được coi coi trọng bởi hiếu học, cần học, khổ học
trí tuệ trong sáng có nghĩa khí, trọng đạo lý làm người, gần gũi quần chúng
yêu nước, chống quan trường hủ bại, mang nhiều chính nghĩa. Nghệ An là
vùng đất đa tôn giáo - đặc điểm này được thể hiện hai khía cạnh, thứ nhất có
nhiều tôn giáo được nhiều người Nghệ An chấp nhận trên vùng đất này, thứ
hai trong một con người chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo. Hầu hết các tôn
giáo ở Nghệ An đều mang dầu ấn văn hoá địa phương do lòng độ lượng, nhân
ái, khoan dung và do yêu cầu đoàn kết bảo vệ dân tộc các tôn giáo hoà nhập,
25
đan xen với nhau chung sống bên n hau một cách hoà hợp để xây dựng quê
hương, gắn bó đoàn kết trong một cộng đồng chung.
Được coi là hình ảnh của một nước Việt Nam thu nhỏ với đủ các vùng
miền, mảnh đất chịu nhiếu tác động thiên tai, khí hậu khắc nghiệt do vậy cộng
đồng dân cư nơi đây đã chung lưng đấu cật hình thành nên truyền thống lao
đông cần cù, sáng tạo, cải tạo tự nhiên, tổ chức xã hội để xây dựng cuộc sống
ngày càng tốt đẹp hơn.
1.1.2. Sự hình thành mạng lưới giao thông ở Nghệ An
Ngay từ thời Văn Lang Âu Lạc sử cũ có chép năm 179 Tr CN, Thục
Phán đã cùng con gái Mị Châu bỏ thành Cổ Loa chạy về phương Nam đến đất
Mộ Dạ (Diễn Châu) như vậy từ xa xưa đường sá đã hình thành và phát triển.
Trong thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc hệ thống giao thông thuỷ bộ cũng
được mở mang, con đường bộ xuyên suốt từ cực Nam Nghệ An đến quận
Giao Chỉ được chính quyền đô hộ đốc thúc xây dựng, sửa sang nhằm mục
đích hành quân trấn áp và vận chuyển nộp thuế, cống sản vật ngoài đường bộ
vựơt Hoành Sơn vào Chămpa lại có đường bộ vượt đèo Vụ Ôn (Hưong sơn)