BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CAO THỊ THU HUYỀN
VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
HÀ TĨNH TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Vũ Tài
- người đã nhiệt tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Nhân dịp này, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của
các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, khoa đào tạo Sau đại học trường Đại học
Vinh, Bảo tàng quân khu 4 (Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An), Phòng Tham
mưu Công an tỉnh Hà Tĩnh, Thư viện tỉnh Hà Tĩnh đã cung cấp các nguồn tư
liệu quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè
và Trường Chính trị Nghệ An đã luôn động viên giúp tôi nỗ lực hết mình để
hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Quá trình thực hiện luận văn tuy đã cố gắng hết sức, song không thể
tránh khỏi những thiếu sót do chưa có kinh nghiệm và kiến thức đầy đủ. Rất
mong nhận được sự góp ý chân thành từ các thầy cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Tác giả Cao Thị Thu Huyền MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 5
5. Đóng góp của luận văn 6
3.2.2. Chi viện sức của và đảm bảo mạch máu giao thông. 75
3.3. Chi viện cho chiến trường Lào 76
3.4. Góp phần giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1973 - 1975) 82
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC
1
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đã
lùi xa gần 40 năm nhưng dư âm của thiên anh hùng ca vĩ đại ấy vẫn còn mãi
với không chỉ dân tộc Việt Nam mà cả nhân loại tiến bộ. Báo cáo chính trị
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta
trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch
sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng
ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con
người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một
sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc". Thắng
lợi của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến gian khổ kéo dài 21 năm đó là
thành quả của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí kiên cường
không quản hy sinh, gian khổ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta; cùng với
lượng vũ trang Hà Tĩnh có đóng góp quan trọng trong việc hệ thống hóa về
quá trình phát triển và đóng góp của lực lượng vũ trang Hà Tĩnh đối với quê
hương nói riêng, đất nước nói chung, đặc biệt trong thời kì kháng chiến chống
Mỹ cứu nước. Vì vậy, tôi xin chọn vấn đề: “Vai trò của lực lượng vũ trang
Hà Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)” làm đề
tài luận văn cao học Thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước có một số công trình như: “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954 - 1975)” (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Sự thật, 1990 - 1991),
“Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam” (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 3
1994); “Thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ và hai mươi năm xây dựng đất
nước sau chiến tranh” (Viện Sử học, 1995); “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ
cứu nước (1954 - 1975)” gồm 6 tập (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 1995 -
2003); “Lịch sử Đảng bộ Quân khu IV trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954 - 1975)” (Đảng ủy Quân khu IV, Nxb Quân đội nhân dân, 2009);
"Những trận đánh của lực lượng vũ trang Quân khu IV (1945 - 1975)" (Bộ tư
lệnh Quân khu IV, Nxb Quân đội nhân dân, 2005) có đề cập tới lực lượng
vũ trang Hà Tĩnh nói riêng những ở mức độ khác nhau trong một bức tranh
tổng thể về lực lượng vũ trang của cả nước.
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố đề cập
tới lịch sử địa phương Hà Tĩnh nói chung. Tuy nhiên, chỉ mới được đề cập
rải rác, thiếu hệ thống từ những góc độ chuyên môn khác nhau; đáng chú ý
là những công trình đã công bố sau: “Hà Tĩnh lịch sử kháng chiến chống
Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” (Bộ Chỉ Huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh, 1994), đã
trình bày khá chi tiết cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Hà Tĩnh,
trong đó có đề cập tới những hoạt động và thắng lợi của lực lượng vũ trang
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
- Quá trình xây dựng, trưởng thành và hoạt động của lực lượng vũ trang
Hà Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Vai trò của lực lượng vũ trang Hà Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ trên cả hai phương diện bảo vệ hậu phương và chi viện cho tiền tuyến lớn
miền Nam.
- Rút ra những nhận xét, đánh giá và nêu lên các bài học kinh nghiệm
về công tác xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở Hà Tĩnh.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung phản ánh trong phạm vi thời gian
của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975), trong đó chúng tôi chú trọng 5
đến vai trò của lực lượng vũ trang Hà Tĩnh trong hai lần chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, để làm rõ nội dung nghiên cứu, chúng tôi cũng
đề cập tới giai đoạn 1945 - 1954, với sự ra đời và sự trưởng thành của lực
lượng vũ trang Hà Tĩnh để làm cơ sở so sánh cho giai đoạn sau.
Phạm vi không gian: Đề tài tập trung phản ánh những hoạt động xây
dựng và chiến đấu của lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung làm rõ vai trò của lực lượng vũ
trang Hà Tĩnh trên cả 2 phương diện: chiến đấu bảo vệ quê hương và chi viện
cho chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
4. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu lưu trữ bao gồm các công văn, chỉ thị, các báo cáo của Đảng
bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang tỉnh Hà Tĩnh lưu trữ ở Văn phòng Tỉnh
ủy, Ủy ban nhân nhân tỉnh Hà Tĩnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ban nghiên cứu
vệ hậu phương miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Bước đầu
luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển
lực lượng vũ trang.
Luận văn tập hợp được nguồn tư liệu phong phú về lực lượng vũ trang
Hà Tĩnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần vào việc nghiên cứu và
biên soạn lịch sử Hà Tĩnh nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung thời chiến tranh
cách mạng.
Luận văn là nguồn tham khảo tốt cho việc giảng dạy lịch sử địa
phương, góp phần giáo dục thêm truyền thống yêu nước, niềm tin vào sự
lãnh đạo của Đảng, lòng tự hào của nhân dân Hà Tĩnh, ý chí tự cường cho
thế hệ trẻ. 7
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội
dung chính của luận văn được chia làm 3 chương.
Chương 1. Khái quát vai trò lực lượng vũ trang Hà Tĩnh trong kháng
chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Chương 2. Vai trò lực lượng vũ trang Hà Tĩnh giai đoạn 1954 - 1964.
Chương 3. Vai trò lực lượng vũ trang Hà Tĩnh giai đoạn 1965 - 1975.
8
NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VAI TRÒ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HÀ TĨNH
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
9
nước, đây là nơi cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra khẩn trương, phức
tạp, quyết liệt nhất trong suốt cả quá trình đấu tranh giành thống nhất Tổ
quốc. Địa bàn này phản ảnh rõ nhất, nhạy bén nhất, trực tiếp nhất mối quan
hệ khăng khít giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, giữa
cách mạng hai miền của nước ta và giữa cách mạng của ba nước Đông
Dương. Vì vậy, với địa thế tự nhiên vốn có, kết hợp với những thế mạnh
truyền thống về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Hà Tĩnh có một vị trí hết
sức quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ
nghĩa, xứng đáng là một địa bàn chiến lược.
1.1.2. Truyền thống yêu nước của nhân dân Hà Tĩnh
Trong lịch sử mấy nghìn năm của đất nước, nhân dân Hà Tĩnh luôn anh
dũng, kiên cường cùng cả dân tộc đấu tranh chống ngoại xâm, dựng nước và
giữ nước. Đây chính là truyền thống yêu nước của quê hương Hà Tĩnh - mảnh
đất anh hùng được tạo nên bởi những người dân anh hùng. Hà Tĩnh vừa là
miền đất đứng mũi chịu sào, vừa là hậu phương vững chắc của đất nước. Hà
Tĩnh đã từng gánh biết bao trọng trách nặng nề qua mọi cơn thử thách gian
lao của lịch sử. Trong quá trình đó, người dân Hà Tĩnh được tôi luyện, hun
đúc thêm lòng kiên trung bất khuất trong chiến đấu, tự lực tự cường vươn lên
trong mọi khó khăn.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Tuy triều đình
phong kiến nhà Nguyễn đã từng bước đầu hàng nhưng nhân dân Hà Tĩnh
cùng với cả nước đã anh dũng bất khuất đứng lên chống giặc ngoại xâm.
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhân dân Hà Tĩnh đã ra sức xây dựng và củng
cố quê hương thành căn cứ chống Pháp. Dưới sự chỉ huy của Lê Ninh (tháng
11 năm 1885) cuộc khởi nghĩa nổ ra hạ đạo thành Hà Tĩnh lần thứ hai, điển
hình hơn tất cả trong phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩa Phan Đình
Phùng kéo dài 12 năm (1885 - 1896). Cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng
11
công nhân và phong trào yêu nước. Và quá trình này gắn liền với vai trò của
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, từ ngày 6/1- 7/2/1930,
Hội nghị thành lập Đảng đã thống nhất hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành
một chính đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đổi tên là
Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự kiện này đã thúc đẩy nhanh chóng việc xây
dựng tổ chức và phát triển lực lượng Cộng sản ở Hà Tĩnh.
Ngay sau khi Đảng ra đời, một cao trào cách mạng đã bùng cháy và lan
trong cả nước đó là cao trào cách mạng 1930 - 1931. Dưới sự cai trị, bóc lột
nặng nề của thực dân Pháp và phong kiến Nam triều, các tầng lớp nhân dân
lao động đã đứng lên đấu tranh để tự giải phóng cho dân tộc, cho mình. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các địa phương Hà Tĩnh cùng với các địa
phương Liên khu IV đã vùng lên đánh một đòn nặng vào ý chí xâm lược của
kẻ thù. Cao trào 1930 - 1931 và Xô Viết là cuộc tổng diễn tập đầu tiên sau khi
Đảng ra đời, là trận chiến rung trời chuyển đất của công nông Xô Viết Nghệ -
Tĩnh. Ngay trong khi Xô Viết Nghệ Tĩnh còn tồn tại, Hội nghị lần thứ 11 Ban
chấp hành Quốc tế Cộng sản (tháng 4 năm 1931) đã công nhận Đảng Cộng
sản Đông Dương là một bộ phận độc lập trực thuộc Quốc tế Cộng sản. Đánh
giá về Xô Viết Nghệ Tĩnh, trong thư gửi Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng
sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Nhân dân Nghệ - Tĩnh nổi
tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào
cách mạng quốc gia (1905-1925), Nghệ - Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu
tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ - Tĩnh vẫn giữ vững truyền
thống cách mạng của mình. Nghệ - Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ””
[26; 40]. Lực lượng “Tự vệ đỏ” trong cao trào chính là lực lượng vũ trang
cách mạng đầu tiên sinh ra trong cao trào này, trở thành tiền thân của lực
lượng vũ trang nhân dân sau này.
Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân
căn cứ hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Có thể
nói, Hà Tĩnh vừa là hậu phương chiến lược của chiến trường Bắc bộ, hậu 13
phương trực tiếp của "Bình - Trị - Thiên" khói lửa, là niềm tin của nhân dân
các vùng bị tạm chiếm ở đồng bằng Bắc bộ.
1.2. Vai trò của lực lượng vũ trang Hà Tĩnh trong kháng chiến
chống Pháp
1.2.1. Chiến đấu bảo vệ quê hương
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa
phong kiến, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ
nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do. Và cũng từ đây cách
mạng Tháng Tám cũng mở đầu cho một giai đoạn mới của lịch sử: giữ vững
nền độc lập non trẻ, xây dựng chính quyền mới bảo vệ thành quả của cách
mạng, làm tiền đề cho thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
sau này.
Từ ngày 2/9/1945 đến ngày 19/12/1946, lực lượng vũ trang Hà Tĩnh đã
đạt được những thành tích to lớn trong cả hai lĩnh vực xây dựng và chiến đấu.
Lực lượng vũ trang Hà Tĩnh đóng vai trò to lớn trong việc bảo vệ chính quyền
cách mạng (bảo vệ biên giới phía Tây, đối phó với quân Trung Hoa dân quốc,
hưởng ứng phong trào Nam tiến) và củng cố chính quyền, chuẩn bị mọi mặt
bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp trường kì.
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vũ trang quần
chúng và xây dựng quân đội thường trực của giai cấp vô sản, kế thừa và phát
huy truyền thống quân sự của dân tộc nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng,
Đảng và chính quyền tỉnh chủ trương “Động viên toàn dân, vũ trang toàn
dân” [20; 152], xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ
quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.
Đầu tháng 9/1945, tỉnh thành lập Quân chính cục do đồng chí Lê Lộc,
Vệ quốc quân. Việc huấn luyện quân sự cho bộ đội và dân quân tự vệ trong
toàn tỉnh được đẩy mạnh. Phong trào học tập quân sự được mọi tầng lớp nhân
dân tham gia sôi nổi. 15
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Hà Tĩnh đang phải
đương đầu với nhiều khó khăn thử thách bởi giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại
xâm. Ở Hà Tĩnh, giữa lúc quân Nhật chưa rút hết thì trên hướng đường 8 và
dọc biên giới tiếp giáp Lào, thực dân Pháp đã cho quân nhảy dù xuống nhiều
nơi, kết hợp với các lực lượng phản động tại chỗ đánh chiếm hầu hết các vị trí
quan trọng trên đất Lào, những nơi có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến
địa bàn của tỉnh. Một số nơi Pháp chọn để chiếm đóng đó là Na Pê, Lạc Xao,
Căm Cớt, Khăm Muộn, Na Xa Lum, cùng với các làng bản tiếp giáp huyện
Hương Khê và Hương Sơn, hình thành nên một hành lang chiến lược làm bàn
đạp tấn công hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An từ phía Tây. Trong nội địa, bọn đế
quốc phản động cấu kết với nhau núp dưới danh nghĩa quân đồng minh vào
giải giáp vũ khí quân đội Nhật, chúng lũ lượt kéo vào chiếm đóng nhiều nơi
trên địa bàn tỉnh; đặc biệt chúng triển khai lực lượng dọc tuyến đường sắt,
đường quốc lộ 1, đường 8…, ra sức hoạt động ráo riết, móc nối với bọn tay
sai phản động, uy hiếp, tấn công chống phá chính quyền cách mạng ở nhiều
địa phương.
Phối hợp với các lực lượng yêu nước Lào, bộ đội giải phóng quân
huyện Hương Khê cùng lực lượng vũ trang cách mạng Lào đã chặn đánh địch
trên đường hành quân từ Nhom Ma Rát đến Na Pê, diệt 6 tên trong đó có tên
quan hai Pháp chỉ huy, thu 6 khẩu súng. Tiếp đó, một đơn vị biệt động gồm
lực lượng giải phóng quân của hai huyện Hương Sơn và Đức Thọ, phối hợp
tấn công địch ở Na Xa Lum, tiêu diệt 4 tên Pháp và 5 ngụy Lào, thu toàn bộ
đồ dùng, quân trang, quân dụng. Liên tiếp trong thời gian từ tháng 9 đến
tháng 10 năm 1945, các lực lượng Giải phóng quân Hà Tĩnh đã tích cực phối
báo viên, trinh sát viên và biệt động đội ở các thôn xã.
Như vậy, từ tháng 9 năm 1945 đến cuối 1946, lực lượng vũ trang Hà
Tĩnh ra đời và dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy trực tiếp là Tỉnh ủy, lực lượng vũ 17
trang Hà Tĩnh đã luôn biết dựa vào dân, phát huy sức mạnh của toàn dân, kiên
quyết, khôn khéo và linh hoạt, sáng tạo trong xây dựng và bảo vệ chính quyền,
bảo vệ thành quả cách mạng, làm nòng cốt cho toàn dân trong tỉnh tập trung
thực hiện thắng lợi những chủ trương của tỉnh, diệt giặc đói, giặc dốt, giặc
ngoại xâm, đồng thời tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến sắp tới.
Trước sự gây hấn trắng trợn của thực dân Pháp, ngày 19 tháng 12 năm
1946, Thường vụ trung ương Đảng đã điện cho các chiến khu và các tỉnh
chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Cũng trong ngày này, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra
lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, lực
lượng vũ trang Hà Tĩnh cùng với toàn dân trong tỉnh bước vào cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vượt lên tất cả
những khó khăn, lực lượng vũ trang Hà Tĩnh đã có sự trưởng thành và góp
phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện của cuộc kháng chiến.
Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Chính phủ và Chủ tịch
Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến, từ đầu
tháng 2 năm 1947, lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân trên địa bàn toàn
tỉnh tiến hành công cuộc tiêu thổ kháng chiến. Với tinh thần “Thà phá bỏ tất
cả, chứ không để cho quân địch lợi dụng phá hoại ta”, lực lượng công an, dân
quân tự vệ cùng hàng vạn nông dân, công nhân các huyện hăng hái tham gia
công tác tiêu thổ kháng chiến.
Vừa đẩy mạnh công tác phá hoại, chính quyền Hà Tĩnh vừa chỉ đạo lực
lượng vũ trang và nhân dân kết hợp tiến hành công tác phòng thủ. Gắn liền
với công tác phá hoại, việc tản cư, di chuyển được đẩy mạnh. Đông đảo nhân
súng tiêu diệt tại chỗ 17 tên, thu 10 khẩu súng các loại. Bị đánh bất ngờ địch
phải bỏ dở cuộc hành quân, rút chạy về Na Pê. Đây là trận đánh đầu tiên của
bộ đội chủ lực tỉnh thu nhiều thắng lợi, chặn đứng âm mưu tiêu diệt lực lượng 19
bộ đội chủ lực của ta. Trong trận chiến đấu này đồng chí Nguyễn Tấn - Trung
đội trưởng đã anh dũng hy sinh. Tinh thần chiến đấu dũng cảm và hy sinh
oanh liệt của liệt sĩ Nguyễn Tấn đã nêu tấm gương sáng cho toàn đơn vị học
tập và noi theo. Sau trận chiến này, Tiểu đoàn 391 rút về sau củng cố, tỉnh
điều động Tiểu đoàn 400 lên thay; đồng chí Trường Sinh được điều động bổ
nhiệm làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Nghĩa làm Chính trị viên mặt
trận. Lực lượng vũ trang của tỉnh ở mặt trận đường 8 lúc này ngoài Tiểu đoàn
400, tỉnh còn tổ chức thêm hai đại đội biệt động, một đại đội được bố trí ở
vùng Na Pê, một đại đội hoạt động ở Hương Khê. Trong điều kiện đơn vị
phân tán ở nhiều nơi, thời tiết khắc nghiệt, đời sống sinh hoạt thiếu thốn; song
cán bộ chiến sĩ đã vượt lên khắc phục mọi khó khăn, giữ vững ý chí chiến
đấu, bám trụ, giữ vững địa bàn được giao.
Sau trận chiến đấu mở đầu của Tiểu đoàn 391, lực lượng vũ trang Hà
Tĩnh tiếp tục tổ chức nhiều trận đánh trên mặt trận đường 8. Ngày 3/2/1947,
Tiểu đoàn 400 đã phục kích chặn đánh một đại đội địch từ Lào vượt biên giới
tiến công xuống Hương Sơn trên đoạn kilômét số 83 đường quốc lộ 8, tiêu
diệt 22 tên địch, thu nhiều trang bị vũ khí. Ngày 11/2/1947, Đội biệt động 1
của Trung đoàn 103 do Phân đội trưởng Nguyễn Cao Cầu và Chính trị viên
Lê Như Xương chỉ huy đã chủ động tổ chức lực lượng chặn đánh một đại đội
quân Pháp ở vùng biên giới thuộc Hương Khê, giáp tỉnh Khăm Muộn (Lào).
Trận đánh diễn ra rất ác liệt, quân địch có ưu thế hơn về quân số và vũ khí,
đơn vị vẫn lợi dụng địa hình, địa vật dũng cảm mưu trí chiến đấu tiêu hao dần
sinh lực địch; đồng chí Lê Như Xương hy sinh, đồng chí Nguyễn Cao Cầu bị
thương gãy một cánh tay vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị xông lên áp đảo quân
hợp tác chiến có hiệu quả với bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực. Trong thời
gian từ tháng 11 năm 1948 đến tháng 5 năm 1949, bộ đội địa phương Hà Tĩnh
đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân Quảng Bình đáng