1 – Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu
nhà nước. Nhà nước pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình
độ phát triển dân chủ
Trong ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách
thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng
dân chủ. Điều này có nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn liền với một nền dân
chủ. Tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình
thái kinh tế – xã hội, nhưng nhà nước pháp quyền không thể xuất hiện trong một
xã hội phi dân chủ.
Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà
nước có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất
của nhà nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh
sau:
- Chỉ từ khi xuất hiện dân chủ tư sản, mới có cơ hội và điều kiện để xuất
hiện nhà nước pháp quyền. Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản
đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia tư bản phát triển và đang
phát triển.
- Nhà nước pháp quyền, với tính chất là cách thức tổ chức và vận hành
của một chế độ nhà nước và xã hội, không những được xây dựng ở chế độ tư
bản mà còn được xây dựng ở chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trong nhận thức
lý luận cũng như trong thực tiễn, có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Ngoài các giá trị phổ biến, nhà nước pháp quyền còn bao hàm các giá trị
đặc thù. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu tố.
Các yếu tố này, về thực chất, là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác
định bởi các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, tâm lý xã hội và môi trường địa
lý của mỗi dân tộc. Chúng không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi
dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển mà còn quyết định
mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền. Việc
tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc
điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi
hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo
đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu
quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc
lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
3 – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân ở nước ta là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến
của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một
chế độ dân chủ hiện đại, vừa phải khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng
mình
Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam nói riêng, đã được các đề tài của Chương trình KX.04 khái quát
trên những nét chính sau:
Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ
nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan của
thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong
chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội. Do vậy, đặc tính
của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước
pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo ra
nét đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chế
độ dân chủ nhất nguyên. Chế độ dân chủ nhất nguyên là điều kiện cơ bản để tạo
ra một đời sống dân chủ có tính thống nhất cao, một hệ thống chính trị thống
định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì các mục tiêu chung của sự phát
triển.
Tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm
quyền tạo ra khả năng đồng thuận xã hội, tăng cường khả năng hợp tác, giúp đỡ
lẫn nhau giữa các giai tầng, các cộng đồng dân cư và các dân tộc. Nhờ vậy, nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội,
nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các
tầng lớp dân cư trong việc thực hành và phát huy dân chủ.
4 – Một số vấn đề về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước
ta hiện nay
Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân ở nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan
trọng, cấp thiết là chúng ta phải sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra và quán triệt trong giai
đoạn đấu tranh loại bỏ cơ chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho cơ chế kinh tế mới. Ngày nay, một lần
nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ,
kiên quyết, vượt ra khỏi khuôn khổ có tính truyền thống lâu nay trong việc xây
dựng pháp luật và thi hành pháp luật. Tư duy pháp lý mới có thể được phác thảo
trên những nét chính sau:
1 – Xác định và quán triệt cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước ta
trong giai đoạn phát triển đến 2010 và các giai đoạn tiếp theo. Điều này có
nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng xác định mô hình luật pháp nước ta được
xây dựng theo lý thuyết nào. Dĩ nhiên, chúng ta không thể áp dụng một cách
máy móc các mô hình lý thuyết hiện đang được áp dụng ở các quốc gia trên thế
giới. Nhưng chúng ta cũng không thể không tính đến sự ảnh hưởng và chi phối
của các lý thuyết này đối với sự vận động của đời sống pháp luật hiện đại. Vì
vậy, việc nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước
ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai yếu tố: dân tộc và hiện đại.
và thông qua sẽ không thể khắc phục được tình trạng không hoàn thành kế
hoạch, vì không ít dự án luật được đăng ký theo kiểu "giữ chỗ" và trên thực tế,
rất khó xây dựng do chưa xác định được đầy đủ tính chất, mục tiêu, đối tượng
điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn bản theo kiểu "ghi
danh" đã không ràng buộc một cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất
dự luật. Để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay vì xây dựng và thông qua
kế hoạch làm luật hằng năm và 5 năm thường lệ, Quốc hội chỉ cần thông qua
các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo quy định của pháp luật) nêu
sáng kiến pháp luật có trách nhiệm lập luận các căn cứ về sự cần thiết của mục
tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả thi của công tác xây dựng văn bản;
trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm xây dựng dự
thảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân phù hợp.
Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật: Thực tiễn làm luật ở
nước ta thời gian qua cho thấy, các đạo luật được xây dựng và thông qua phần
nhiều đều có dung lượng khá lớn các quy phạm và đối tượng điều chỉnh; phạm
vi điều chỉnh cũng khá lớn. Chính sự đầu tư "nhân, tài, vật, lực" cho các đạo
luật có quy mô lớn đã làm cho công việc soạn thảo các dự thảo văn bản bị kéo
dài, tính chất đồng bộ và thống nhất của dự thảo trong mối quan hệ với các đạo
luật khác nhiều khi không được bảo đảm. Đặc biệt, các đạo luật lớn vì phức tạp
nên thường phải tranh luận, thảo luận nhiều thời gian mới mong đạt được sự
thống nhất các quan điểm và cách thức thể hiện. Do vậy, việc chuẩn bị xây
dựng dự thảo tại các ban soạn thảo, thẩm định, thảo luận, chỉnh lý và thông qua
tại Quốc hội thường kéo dài. Khoảng cách giữa nhu cầu cấp bách phải điều
chỉnh và khả năng điều chỉnh của đạo luật ngày càng xa đã dẫn đến tình trạng,
đợi được luật ra đời, cuộc sống đã biến chuyển sang một mức độ phát triển
khác. Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật
có quy mô lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô
điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít các điều khoản sẽ được nhanh chóng xây
thảo luật: Các dự thảo luật một khi được xây dựng ngắn gọn, ít điều khoản sẽ
rất dễ dàng cho nhân dân tiếp cận. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp
luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật
phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự
là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của
nhân dân (chứ không chỉ là lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức hay của một số
cán bộ) đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự
thảo. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo (tiếp thu ý kiến
nào, không tiếp thu ý kiến nào, vì sao) phải được thông báo công khai và minh
bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm thấy ý kiến của mình được tôn trọng và
mặt khác, mới củng cố niềm tin của họ vào luật pháp.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 96 NĂM 2005
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới
8:10' 21/5/2011
Trương
Tấn
Ủy
viên
Bộ
Chính
trị,
pháp, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách và các nguồn lực của
Nhà nước, giảm bớt các mệnh lệnh hành chính can thiệp vào các lĩnh vực kinh
tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước được nâng lên, đáp ứng ngày càng
tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc
tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quốc hội được kiện toàn về tổ chức, phương thức hoạt động có nhiều đổi
mới, chất lượng hoạt động được nâng cao. Công tác xây dựng pháp luật được
tăng cường. Việc thảo luận, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự
toán, quyết toán ngân sách Nhà nước, các công trình trọng điểm quốc gia có
chất lượng và thực chất hơn. Hoạt động giám sát tình hình và kết quả thực hiện
các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, các dự án, công trình trọng
điểm quốc gia, những vấn đề bức thiết, quan trọng của đất nước được đẩy mạnh,
chất lượng được nâng lên. Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ từng bước
được sắp xếp, điều chỉnh theo hướng tinh gọn; các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh
vực được thành lập với những chức năng, nhiệm vụ được điều chỉnh, đổi mới,
tập trung vào lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý vĩ mô, giải quyết những vấn đề
lớn, quan trọng, tách khỏi quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp. Cải cách hành chính được chú trọng, nhất là ở những lĩnh vực có quan
hệ tới đời sống của nhân dân và hoạt động của doanh nghiệp, bước đầu đạt được
một số kết quả. Cải cách tư pháp được đẩy mạnh. Tổ chức và hoạt động của các
cơ quan tư pháp được đổi mới. Việc thực hiện các thủ tục tố tụng, sự tham gia
của luật sư trong tố tụng và các hoạt động tranh tụng tại phiên tòa ngày càng tốt
hơn, hạn chế được tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan sai hay bỏ lọt tội
phạm. Công tác thi hành án được tăng cường. Tổ chức bộ máy chính quyền địa
phương các cấp được củng cố, kiện toàn, chất lượng, hiệu quả hoạt động từng
bước được nâng lên. Việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức được quan tâm. Công tác đấu tranh phòng, chống quan liêu,
chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng; 'Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân' là một trong 8 phương hướng cơ bản mà
Ðảng và nhân dân ta cần phải quán triệt, thực hiện tốt để thực hiện thắng lợi
mục tiêu mà Cương lĩnh đề ra. Ðồng thời, Cương lĩnh còn xác định rõ bản chất
và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, như 'Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức,
do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo'. 'Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó
mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng,
lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân'. 'Quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ
quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp'. 'Tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân
công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương'. Ðây
là những quan điểm cơ bản chỉ đạo việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Báo cáo chính trị
của Ban Chấp hành Trung ương khóa X tại Ðại hội XI đề ra các yêu cầu, nhiệm
vụ và giải pháp cụ thể xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong
thời gian thực hiện Chiến lược và nhiệm kỳ Ðại hội XI để bảo đảm thực hiện
thắng lợi Chiến lược, cũng như mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Ðại hội XI.
Yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa là phải bảo đảm Nhà nước ta thật sự là của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân; Nhà nước phải chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi
ích chính đáng của mọi người dân. Do đó, cần nghiên cứu xây dựng, bổ sung
các thể chế và cơ chế vận hành để thật sự bảo đảm đúng nguyên tắc tất cả quyền
lực thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền
quyền địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng quy hoạch và tăng cường
thanh tra, kiểm tra, giám sát của Trung ương; đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi
bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Ðẩy mạnh việc
thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch,
vững mạnh. Hoàn chỉnh chính sách, pháp luật về hình sự, dân sự, thủ tục tố tụng
tư pháp. Ðổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống tòa án,
viện kiểm sát, cơ quan điều tra, các tổ chức bổ trợ tư pháp... Tiếp tục đổi mới tổ
chức, nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương, hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp; tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương
không tổ chức hội đồng nhân dân quận, huyện, phường; nghiên cứu tổ chức
chính quyền đô thị, hải đảo.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có phẩm chất và
năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Bổ sung, hoàn thiện
quy chế quản lý cán bộ, công chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền, trách nhiệm của cán bộ, công chức ở từng vị trí công tác. Nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,
năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà nước. Ðổi mới chính sách đãi ngộ, động
viên, khuyến khích cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, có cơ chế loại bỏ những
người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, không có uy tín với nhân
dân.
Thứ ba, tích cực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm
bằng các giải pháp đồng bộ: hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành
chính, nhất là trong các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí; thực hiện công
khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
nhà nước, các dự án đầu tư, mua sắm từ ngân sách nhà nước, quản lý, sử dụng
đất đai, tài sản công; thực hiện kê khai, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ,
công chức. Xử lý nghiêm cán bộ tham nhũng, tịch thu tài sản do tham nhũng mà
có. Có cơ chế bảo vệ, khuyến khích người đấu tranh chống tham nhũng, lãng
vụ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, thường xuyên liên hệ chặt
chẽ với nhân dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân, không tham
nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, luôn bảo vệ lợi ích chính
đáng của nhân dân, được nhân dân yêu mến, tín nhiệm. Trên cơ sở tiêu chuẩn,
đồng thời có cơ cấu hợp lý về số đại biểu là người đang công tác ở các cơ quan
đảng, nhà nước, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân,
bảo đảm số lượng đại biểu chuyên trách và tỷ lệ hợp lý đại biểu của các dân tộc
thiểu số, các tôn giáo, đại biểu nữ, đại biểu trẻ tuổi, đại biểu là các nhà khoa
học, trí thức, văn nghệ sĩ, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh
nhân tiêu biểu của các thành phần kinh tế.
Thực hiện thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu
Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016 và trên cơ sở tổng kết tổ
chức, hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan tư pháp
trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, chính quyền địa phương trong nhiệm kỳ
2005 - 2010 sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp cách mạng của đất nước và niềm mong mỏi của nhân dân ta. Ðây là
nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng để triển khai thực hiện thắng lợi Nghị
quyết Ðại hội lần thứ XI của Ðảng ngay từ những năm, tháng đầu tiên, những
công việc quan trọng đầu tiên, tạo ra một yếu tố, một điều kiện cơ bản để thực
hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đến hết nhiệm kỳ, đến năm 2020 mà Ðại
hội lần thứ XI của Ðảng đã đề ra./.
Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước là một
nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân. Để làm rõ vấn đề này đã có nhiều cơ quan chức năng và
nhiều nhà khoa học nêu lên khá hệ thống và cụ thể. Trong bài viết này tôi muốn
làm rõ một số nội dung chính sau đây:
- Mọi đảng viên phải nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu vững vàng
về chính trị, có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân.
- Đổi mới việc ra nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, của cấp uỷ đảng. Xây
dựng quy chế làm việc giữa bí thư với những người đứng đầu chính quyền, mặt
trận và các đoàn thể. Đổi mới các cuộc bầu cử ở cơ sở, tăng cường công tác
kiểm tra. Đổi mới phương thức lãnh đạo, trong đó chú ý đặc trưng phương pháp
dân chủ trong lãnh đạo nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở.
2. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với đặc điểm của đất
nước, tính chất của thời đại.
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nêu rõ: Nhà nước ta là công cụ chủ yếu
để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc
trưng cơ bản:
- Luôn xác định mục tiêu cao nhất là vì con người. Đặc trưng này thể hiện
ngay từ khi thành lập Nhà nước ta và thể hiện đầy đủ trong các bản hiến pháp từ
năm 1946 đến nay.Trong hiến pháp năm 1992, đã được thể hiện trong 1 chương
với 34 điều cụ thể.
- Mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng
quyền lực Nhà nước một cách trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan nhà nước do
mình bầu ra.
- Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và
thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội.
- Ở đó, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp
và tư pháp. Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện cải cách bộ máy nhà nước.
- Là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
chức, phương thức hoạt động của Quốc hội. Trong quá trình thực hiện đổi mới
hoạt động của Quốc hội cần nhận thức, làm rõ những yêu cầu mang tính đặc thù
như:
- Tính hiệu quả trong tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội –
nhất là hiệu quả về kinh tế và các hiệu quả cụ thể khác.
- Tính chuyên nghiệp và hiện đại. Cụ thể là phải có tỷ lệ đại biểu Quốc
hội chuyên trách thích hợp, có bộ máy tham mưu trình độ cao, có phương thức
hoạt động phát huy đầy đủ dân chủ, trí tuệ của các đại biểu Quốc hội.
- Tính minh bạch trong tổ chức và hoạt động. Nguyên tắc này đòi hỏi
trong hoạt động phải quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong bộ máy, có cơ chế tự kiểm tra, thanh tra
các hoạt động và có sự giám sát từ phía nhân dân đã khắc phục tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí – những điều không thể tồn tại trong Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Để làm tốt những nội dung trên, đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên và
tập trung các giải pháp:
a. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện các chức năng của Quốc hội
đã đề ra.
b. Phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực của các đại biểu Quốc
hội, bảo đảm họ thực sự là người đại diện cho nhân dân, vừa có đạo đức, năng
lực, có bản lĩnh và các kỹ năng hoạt động nghị trường, tham gia đóng góp,
quyết định được những vấn đề trọng đại của đất nước.
c. Tiếp tục kiện toàn các cơ quan của Quốc hội, thường xuyên tăng cường
quan hệ hai chiều giữa Quốc hội với nhân dân….
II. Phải đẩy mạnh cải cách hành chính theo yêu cầu xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Nền hành chính nhà nước gồm có:
- Hệ thống thể chế hành chính.
cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của
Đảng, phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh
đạo. Do đó đây là vấn đề cần được quan tâm đầy đủ, khắc phục kịp thời và có
hiệu quả. Để thực hiện được điều đó, cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế nền hành chính, trước hết tập
trung cải cách thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất
là đối với một số thể chế then chốt. Tiếp tục cải cách hành chính, kiên quyết loại
bỏ những thủ tục chồng chéo, phiền hà. Ban hành cụ thể cơ chế kiểm tra cán bộ,
công chức, quy định rõ trách nhiệm cá nhân trong khi thi hành công vụ.
Hai là, cải cách tổ chức hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở
Trung ương và chính quyền địa phương. Kiên quyết giải tán các tổ chức trung
gian, kém hiệu quả. Khắc phục tình trạng Trung ương có gì địa phương cũng có
nấy, cơ quan chính quyền có gì, cơ quan đảng cũng có…. Đồng thời, cải tiến
phương thức quản lý, lề lối làm việc của các cơ quan hành chính các cấp hiện
nay, cả cơ quan cấp Trung ương, bộ, tỉnh, huyện và cơ sở.
Ba là, phải nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác cán bộ, để có sự đổi
mới mạnh mẽ hơn, có biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
các cấp, nhất là ở cơ sở để tạo sự chuyển biến tích cực, hiệu quả hơn.
Ở đây, có 2 vấn đề chính là: vừa đổi mới đội ngũ cán bộ, công chức hành
chính vừa phải đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức. Muốn làm tốt điều
này cần có sự đánh giá một cách thực chất hơn, cụ thể hơn thực trạng đội ngũ
cán bộ, công chức và công tác quản lý cán bộ, công chức hiện nay, nhất là trong
điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội. Từ đó phải có
đường lối xây dựng cán bộ phù hợp với tình hình mới, có những chính sách cụ
thể để phát huy những mặt tốt, những khả năng trong hệ thống tổ chức và trong
mỗi cán bộ. Kịp thời phát hiện phát hiện và ngăn chặn những mặt hạn chế, bất
cập, suy thoái trong cán bộ các cấp khi thực hiện cơ chế mới, với nhiều thành
phần kinh tế và mở cửa, hội nhập hiện nay.
chắc cho hoạt động tư pháp. Trong khi xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung các
luật tố tụng (Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự….) các luật tổ
chức cơ quan tư pháp, Bộ luật Dân sự (sửa đổi)… phải phù hợp với nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và
tương thích với pháp luật quốc tế hiện hành, cũng như đáp ứng yêu cầu hợp tác
song phương, đa phương của nước ta. Trong tổ chức hoạt động của toà án nhân
dân phải sửa đổi theo hướng tăng thẩm quyền xét xử cấp huyện, tiến tới thực
hiện toà án theo hai cấp xét xử và nghiên cứu việc thành lập toà án khu vực, bảo
đảm xét xử có hiệu quả. Đối với hoạt động của Viện kiểm sát, tập trung làm tốt
chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Kiên quyết khắc phục vấn đề
bức xúc hiện nay là tình trạng xử oan sai bỏ, lọt tội phạm, biểu hiện tiêu cực
trong quá trình xét xử
2. Đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu
về chất lượng và số lượng.
Đây là nội dung rất quan trọng và cấp bách. Thực trạng đội ngũ cán bộ tư
pháp của ta hiện nay về chất lượng và số lượng chưa thật đáp ứng với yêu cầu
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nếu không có sự quan tâm
đầu tư, đẩy mạnh việc đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp thì có thể nói sẽ ảnh
hưởng rất lớn tới nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền. Bởi lẽ yêu cầu và
nhiệm vụ mới đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ tư pháp có đủ
năng lực trình độ mới giải quyết được những vấn đề thực tế đặt ra, không những
ở các cơ quan, ban, ngành trung ương mà cả ở các cơ sở. Vì vậy, vấn đề đặt ra
là phải sớm có quy hoạch phù hợp, có kế hoạch tuyển chọn, đào tạo. sử dụng
đúng khả năng, yêu cầu. Đồng thời, phải coi trọng và tăng cường việc quản lý,
kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ tư pháp để họ thực hiện tốt nhiệm vụ được
giao. Mặt khác, cũng cần phải chú ý tới những đặc thù nghề nghiệp để có tiêu
chuẩn, chế độ phù hợp đối với đội ngũ cán bộ này.
Vừa qua, đội ngũ cán bộ tư pháp nước ta có những cố gắng cụ thể, hoàn
vong của quốc gia. Người đại biểu của dân mà thiếu trí tuệ, bản lĩnh, không dám
nói lên nguyện vọng và đòi hỏi chính đáng của dân - thực chất là vận mệnh của
đất nước - thì ngồi ở nghị trường, họ chỉ là hư danh. Cho dù nhân dân sử dụng
quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND các cấp, và nhân dân ủy