Học thuyết phân chia quyền lực với nhiệm vụ xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Về mặt khoa học, chủ nghĩa Mác coi phân quyền thực chất chỉ là sự phân công lao
động bình thường trong nội bộ bộ máy nhà nước, với một số nhân viên làm công
việc lập pháp, một số làm công việc hành pháp, và một số làm công việc tư pháp;
sự chuyên trách ấy nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, cũng giống
như sự phân công lao động nhằm nâng cao năng suất trong các nhà máy công
nghiệp của chủ tư bản.
Trong suốt một thời kỳ dài, các học giả của chủ nghĩa cộng sản đều gán tư tưởng
phân quyền cũng như nguyên tắc phân quyền cho bộ máy nhà nước tư sản, mà phủ
nhận việc áp dụng nó trong tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam cũng đã có một thời kỳ như vậy. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ
Hiến pháp Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977, mà bản Hiến pháp năm 1980
của nước ta được xem là biểu hiện cao độ nhất của nguyên tắc tập quyền: chỉ có
chức năng tư pháp là được tách ra tương đối độc lập, còn chức năng lập pháp và
hành pháp thì gần như nhập lại làm một.
Nhưng ngày nay quá trình hội nhập quốc tế, cũng như nhiệm vụ xây dựng Nhà
nước ta theo hướng nhà nước pháp quyền đã đặt ra đòi hỏi phải xem xét những giá
trị tiến bộ, tích cực của tư tưởng phân chia quyền lực, phải áp dụng những hạt
nhân hợp lý của nó vào tổ chức bộ máy nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của Nhà nước.
Bởi vậy, Điều 2 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi năm 2001 ) ghi nhận: "Quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp"(1).
_____________
(1) Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, tr.11
1. Sự vận dụng tư tưởng phân chia quyền lực vào việc tổ chức bộ máy Nhà nước
theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền.
đến, thì nhà nước pháp quyền theo quan điểm của V.F Heghen (1770-1831) đã
được hiện thực hoá trong lý trí và thực tiễn cuộc sống hàng ngày của con người.
Theo Heghen, nhà nước cũng là pháp luật, là pháp luật phong phú, sâu sắc và phát
triển nhất, là toàn bộ hệ thống pháp luật. Nhà nước là một tổ chức hoàn thiện nhất
của đời sống xã hội - một xã hội mà tất cả mọi thứ trong nó đều được xây dựng
trên nền tảng là pháp luật, qua pháp luật mà thể hiện sự thống trị của tự do.
Giá trị trong quan điểm của Heghen về nhà nước là ở chỗ nó hạn chế chức năng
bạo lực, cưỡng chế mà đề cao tính định hướng, tính lý trí và lợi ích của nó đối với
xã hội cũng như với mỗi công dân. Có thể nói Heghen đã sử dụng tư tưởng về nhà
nước của mình để chống lại chủ nghĩa cực quyền lẫn chủ nghĩa vô chính phủ.
Từ sau Cách mạng tháng Mười, nước Nga Xôviết ra đời, những tư tưởng về xây
dựng nhà nước kiểu mới, nhà nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu được hoàn thiện. Mà
trong đó có một tư tưởng nổi bật, là tư tưởng về pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Nền pháp chế xã hội chủ nghĩa và mô hình nhà nước pháp quyền có nhiều điểm
tương đồng, cụ thể là: cả hai đều đòi hỏi tính tối cao của luật, mọi công dân, tổ
chức và cả nhà nước đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật; cả hai đều đòi hỏi
sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, đều đòi hỏi phải kiên quyết đấu tranh chống
mọi hành vi vi phạm pháp luật và trên hết là cả hai đều đòi hỏi phải có một nền
dân chủ thực sự và rộng khắp.
Trong công cuộc cải tổ nhà nước Liên Xô cũ đã hình thành nhiều tư tưởng, quan
điểm mới về mối liên hệ giữa nhà nước và pháp luật "khá hoàn hảo. Đáng tiếc
rằng, mô hình đó chưa kịp đưa vào cuộc sống thì chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô bị sụp đổ"(1). Các nhà khoa học Xôviết đã đề cập đến cả hai khía cạnh cơ bản
của nhà nước pháp quyền, đó là:
_____________
(1) TS Trần Hậu Thành: Sđd, tr.57
(2) TS Trần Hậu Thành: Sđd, tr.68
- Về mặt hình thức, nhà nước pháp quyền là sự thống trị tối cao của pháp luật, nhà
nước, các cơ quan nhà nước, nhân viên của bộ máy nhà nước, mọi cá nhân, tổ
chức trong xã hội đều bị ràng buộc bởi pháp luật.
của nhà nước càng bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ bấy nhiêu.
- Bảo đảm và phát huy dân chủ:
Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện của nhà nước pháp quyền. Trong nhà
nước pháp quyền, bởi quyền lực thuộc về nhân dân, nên với pháp luật là ý chí
chung của mình, nhân dân tham gia quản lý nhà nước - đó là biểu hiện của dân
chủ. Và dân chủ cũng chỉ có thể đạt được đến đúng nghĩa của nó trong xã hội nhà
nước pháp quyền.
Có thể khẳng định"hạt nhân của lý luận Nhà nước pháp quyền là vấn đề dân
chủ"(1).
- Sự ngự trị của pháp luật trong đời sống Nhà nước và xã hội:
Các tư tưởng về nhà nước pháp quyền ra đời đã thay đổi căn bản mối liên hệ giữa
nhà nước và pháp luật, từ chỗ pháp luật là công cụ do nhà nước ban hành để quản
lý xã hội, quản lý các thần dân đến chỗ pháp luật còn thống trị ngay cả bản thân
nhà nước.
"Nhà nước pháp quyền về mặt lý thuyết tự đặt mình dưới pháp luật mà không phải
đứng ngoài hay đứng trên pháp luật. Pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì và
phát triển xã hội mà còn là công cụ để duy trì sự tồn tại của ngay chính bản thân
nhà nước. Chức năng, quyền hạn của nhà nước chỉ nằm trong khuôn khổ pháp
luật"(2).
- Tổ chức theo nguyên tắc phân định quyền lực, dùng quyền lực kiểm tra và
giám sát quyền lực:
Thực tiễn lịch sử cho thấy rằng các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền lực nhà
nước đều có xu hướng muốn lạm quyền, bởi vậy, một đặc trưng của nhà nước
pháp quyền là quyền lực phải được phân định thành lập pháp, hành pháp và tư
pháp, với mục đích chính là để bảo đảm quyền lực do nhân dân ủy nhiệm không bị
lợi dụng.
Đặc trưng này sẽ được phân tích làm rõ hơn trong phần sau.
- Sự tương ứng giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế:
Pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau,
làm bổ sung, hoàn thiện lẫn nhau. Bởi vậy, cần xác định được rõ ràng mối tương
lực trở thành phương thức tồn tại của chính" nhà nước, "phân quyền càng trở nên
rõ ràng thì kiểm soát quyền lực càng chặt chẽ" (1). Bởi vậy có thể khẳng định
phân quyền là hiện tượng phổ biến trong các xã hội khác nhau, có ý nghĩa bảo đảm
sự tồn tại của nhà nước và nền dân chủ.
_____________
(1) GS-TS Đào Trí Úc: Sđd, tr.39
Ưu điểm của nguyên tắc phân chia quyền lực, kiểm tra và giám sát, kiềm chế và
đối trọng giữa các nhánh quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền là ở chỗ
nó đảm bảo việc ngăn chặn nguy cơ tập trung quyền lực nhà nước trong tay một cá
nhân, cơ quan hay một lực lượng chính trị - xã hội nào đó như là nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến sự lạm quyền, chuyên quyền - những mô hình trái ngược hoàn toàn
với nhà nước pháp quyền. Bên cạnh đó, nguyên tắc phân quyền còn có khả năng
bảo vệ nhân dân khỏi sự tùy tiện, độc đoán, mang tính quan liêu, phiền nhiễu của
các cơ quan và công chức trong bộ máy nhà nước, đảm bảo các cơ quan và công
chức này luôn luôn chỉ thực hiện tuân theo pháp luật.
Những nguyên lý chủ đạo của mô hình nhà nước pháp quyền là do các nhà học giả
tư sản sáng tạo và tổng hợp lên từ các tư tưởng từ thời cổ đại; và chỉ từ nhà nước
tư sản, người ta mới bắt đầu đặt ra yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền. Vậy,
đến bây giờ, đã có nhà nước tư sản nào xây dựng thành công nhà nước pháp quyền
chưa ? Điều này ta có thể trả lời dứt khoát là chưa; bởi vì nền dân chủ tư sản chưa
phải là một nền dân chủ thực sự, trong một xã hội nếu vẫn còn tồn tại những người
có quyền lợi kinh tế khác nhau thì không bao giờ có được một nền dân chủ thực
sự, cũng có nghĩa là không bao giờ có được một nhà nước pháp quyền thực sự.
Bởi vậy, trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, ta
không thể bắt chước một cách máy móc theo cách thức của một nước nào đó trước
đây, mà cần phải tự tìm ra một con đường riêng, phù hợp với bản chất xã hội chủ
nghĩa, phù hợp với những đặc điểm vốn có của Việt Nam.
Việc áp dụng nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước ta cũng cần
có một cách đi riêng.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồi trong Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ
chính sách mà thôi.