TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
LÊ NGỌC HẢI
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
LÊ NGỌC HẢI
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Toán giải tích
Người hướng dẫn khoa học
TS. VI THÁI LANG
HÀ NỘI - 2012
3.2. Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 11
Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
3.3. Những đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
11
3.4. Những thành tựu và những vấn đề cần giải quyết trong quá 12
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19
20
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
xác định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá
trình thực hiện các mục tiêu phát triển Kinh tế - xã hội. Sự xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN trong báo cáo chính trị của Đại hội IX không chỉ là khẳng
định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc đẩy mạnh cải cách tổ chức và
hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế mà còn là sự
đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp xây dựng Nhà nước kiểu
mới, một nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Tuy nhiên quá trình xây dựng và tăng cường Nhà nước trong mấy chục
năm qua cho thấy, hàng loạt vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Nhà
nước vẫn chưa được tổng kết làm rõ. Do vậy, các giải pháp đổi mới tổ chức
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
1.1. Nguồn gốc của nhà nước
- Lịch sử xã hội loài người đã có thời kỳ chưa có nhà nước. Đó là thời
kỳ cộng sản nguyên thuỷ. Nhà nước ra đời khi xã hội đã phân chia giai cấp.
Trong tác phẩm Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước, Ph.Ănghen đã chứng minh rằng trong xã hội nguyên thuỷ không có nhà
nước. Để phù hợp với tình trạng còn thấp kém, chưa có sự phân hoá giai cấp,
hình thức tổ chức đầu tiên của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là thị tộc và bộ
lạc. Đứng đầu các thị tộc, bộ lac là những tộc trưởng do nhân dân bầu ra.
Quyền lực của người đứng đầu những cơ quan quản lý xã hội dựa vào sức
mạnh đạo đức và uy tín. Quyền hành và chức năng của cơ quan lãnh đạo
trong thời kỳ đó chưa mang tính chính trị.
Hệ thống quản lý của xã hội trong các thị tộc là trưởng thị tộc, còn
trong các bộ lạc thường bao gồm:
+ Hội đồng là cơ quan quyền lực thường trực, có thể lúc đầu nó bao
gồm các trưởng thị tộc rồi về sau số trưởng thị tộc quá đông thì hội đồng bào
gồm một số người được bầu ra trong số trưởng thị tộc này. Trong những việc
quan trọng, Hội đồng được quyền quyết định cuối cùng.
+ Đại hội nhân dân, do Hội đồng triệu tập để quyết định các công việc
quan trọng. Ở đó mỗi người đều có thể phát biểu ý kiến. Đại hội nhân dân có
quyền quyết định tối hậu mọi vấn đề.
+ Thủ lĩnh quan sự chuyên đảm nhận các công việc lãnh đạo các cuộc
chiến tranh, bảo vệ cộng đồng bộ lạc. Các thủ lĩnh quân sự không phải là
người cai trị, họ không có đặc quyền đặc lợi cá nhân, không bắt nhân dân phải
5
Như vậy, theo Ph.Ănghen, sự xuất hiện của nhà nước không phải để
giải quyết các mầu thuẫn giai cấp trong xã hội, cũng không phải để điều hoà
mâu thuẫn giai cấp mà là để duy trì mâu thuẫn giai cấp trong một giới hạn trật
tự nhằm thực hiện được sự bóc lột của giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất đối
với người lao động.
Còn theo V.I.Lênin, trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng đã đặc biệt
lưu y các luận điểm đó của Ph.Ănghen và nhấn mạnh nguyên nhân trực tiếp
làm xuất hiện nhà nước trong lịch sử. Theo V.I.Lênin, nhà nước là sản phẩm
và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở
đâu, hễ lức nào và chừng nào về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp
không thể điều hoà được thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại, sự tồn tại của
nhà nước chứng tỏ những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được
Tóm lại, Nhà nước là một phạm trù lịch sử chỉ ra đời và tồn tại trong
điều kiện lịch sử nhất định. Nguồn gốc sâu xa của Nhà nước chính là do sự
phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Lực lượng
sản xuất phát triển đã làm cho chế độ sở hữu tư nhân ra đời, các giai cấp bóc
lột và bị bóc lột xuất hiện. Cuộc đấu tranh giữa chủ nô và nô lệ - hai giai cấp
đối kháng đầu tiên trong lịch sử - dẫn đến nguy cơ huỷ diệt luôn cả xã hội. Để
điều này không xảy ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời. Đó là Nhà
nước.
1.2. Bản chất và chức năng của Nhà nước
1.2.1. Bản chất của nhà nước
Theo quan niệm của triết học Mác – Lênin, nhà nước là một yếu tổ đặc
biệt quan trọng trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp đối kháng.
Nó là một hệ thống tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt mà thông thường
gồm ba bộ phận chính cấu thành là bộ phận quyền lực, thực thi quyền lực và
giám sát quyền lực. Xét về thực chất, nhà nước là một bộ máy quyền lực của
7
Chức năng đối ngoại của nhà nước là chức năng bảo vệ biên giới lãnh
thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các
nước khác, mà thực chất và cơ bản là thực hiện lợi ích giữa các giai cấp thống
trị trong mối quan hệ với các quốc gia khác nhau.
Chức năng đối nội là những mặt hoạt động của nhà nước được diễn ra ở
trong nước. Nhà nước sử dụng công cụ bạo lực và bộ máy thống trị nói chung
để duy trì các mặt trật tự về kinh tế, chính trị xã hội và tư tưởng nhằm trấn áp
các giai cấp khác và bảo vệ kinh tế, địa vị thống trị của giai cấp thống trị.
Trong hai chức năng đó thì chức năng đối nội quyết định chức năng đối
ngoại bởi vì nhà nước ra đời và tồn tại là do cơ cấu giai cấp bên trong của mỗi
quốc gia quy định. Sự thống trị của mỗi giai cấp được thực hiện trước hết và
chủ yếu trên phạm vi quốc gia mà nó quản lý. Lợi ích chủ yếu của giai cấp
thống trị là duy trị địa vị cai trị trong một quốc gia nhất định. Tính chất của
chức năng đối nội quyết định tính chất của chức năng đối ngoại, ngượi lại tính
chất và nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức
năng đối nội của nhà nước, làm biến đổi trong một giới hạn nhất định quá
trình thực hiện chức năng đối nội.
8
CHƯƠNG 2
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
2.1. Cơ quan lập pháp
Quyền lập pháp là quyền làm luật, xây dựng luật và ban hành những
văn bản luật được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền
lập pháp do Quốc hội tiến hành.
Cơ quan lập pháp là kiểu hội đồng thảo luận đại diện có quyền thông
chức với tổ chức và giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội.
Hành pháp là một trong ba quyền trong cơ cấu quyền lực Nhà nước,
bên cạnh quyền lập pháp và quyền tư pháp. Quyền hành pháp do các cơ quan
hành chính Nhà nước thực thi để đảm bảo hoàn thành chức năng và nhiệm vụ
của mình.
Quyền hành pháp bap gồm hai quyền:
* Quyền lập quy: là quyền ban hành những văn bản pháp qui dưới luật,
để cụ thể hoá luật pháp do các cơ quan lập pháp ban hành trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội.
* Quyền hành chính: là quyền tổ chức quản lý tất cả các mặt, các quan
hệ xã hội bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước. Quyền hành chính bao gồm
các quyền về tổ chức nhân sự trong cơ quan hành chính, quyền tổ chức thực
thi và áp dụng pháp luật trong các mối quan hệ giữa tổ chức với cá nhân, tổ
chức với tổ chức và giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội.
2.3. Cơ quan tư pháp
Quyền tư pháp là quyền bảo vệ luật pháp, đảm bảo cho pháp luật được
thực hiện và chống lại các hành vi vi phạm pháp luật. Quyền tư pháp do Tòa
án và Viện Kiểm sát tiến hành.
Theo luật học, cơ quan tư pháp hay hệ thống tư pháp là một hệ thống
tòa án nhân danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý, một cơ chế
để giải quyết các tranh chấp.
10
Thuật ngữ này cũng được dùng để đề cập đến cả quan tòa ở các cấp,
những người thiết lập nền móng cho một bộ máy tư pháp và cả những người
trợ giúp cho hệ thống này hoạt động tốt.
+ Tư pháp Theo luật học, cơ quan tư pháp hay hệ thống tư pháp là một
hệ thống tòa án nhân danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý,
một cơ chế để giải quyết các tranh chấp.
yếu sau:
Một là, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do
dân, vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.
Hai là, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền
lực của nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công rành mạch, phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước là trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp.
12
Ba là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, luật pháp. Ở đó hiến pháp và các đạo luật
giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ trên tất cả mọi lĩnh vực
đời sống xã hội.
Bốn là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và
bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý
giữa nhà nước và công dân, thực hành dân chủ đồng thời tăng cường kỷ luật,
kỷ cương.
Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Chính quyền nhà nước chịu sự giám sát của
nhần dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên thuộc Mặt trận.
Năm đặc trưng trên là kết luận đã được rút ra từ việc thực hiện Chương
trình “Tổng kết 20 năm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam “.
3.4. Những thành tựu và những vấn đề cần giải quyết trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam
Những thành tựu
Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được
đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan
– xã hội, thực hiện dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc
vào đời sống quốc tế.
Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân của Việt Nam là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ
biến của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn
của một chế độ dân chủ hiện đại, vừa khẳng định được bản sắc, đặc điểm
của riêng mình.
14
Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước
pháp quyền XHCN nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam nói riêng, đã được khái quát trên các mặt chính sau đây:
Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị
trường không phủ nhận quy luật khách quan của thị trường mà là cơ sở để xác
định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong CNTB và kinh tế thị trường
trong CNXH. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường XHCN tạo ra sự
khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.
Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền XHCN là chế độ dân
chủ nhất nguyên. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng
định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất
của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng,
mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng
quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy, điều kiện để
xây dựng nhà nước pháp quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một
đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một
nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đảng duy nhất cầm quyền đối
với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái với bản
chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên
trong giai đoạn phát triển đến năm 2010 và giai đoạn tiếp theo
Điều này có nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng xác định mô hình luật
pháp của nước ta được xây dựng theo lý thuyết nào. Dĩ nhiên, chúng ta không
thể áp dụng một cách máy móc các mô hình lý thuyết hiện đang được áp dụng
ở các quốc gia trên thế giới. Nhưng chúng ta cũng không thể không tính đến
sự ảnh hưởng và chi phối của các lý thuyết này đối với sự vận động của đời
sống pháp luật hiện đại. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết
16
cho mô hình luật pháp của nước ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai yếu tố:
Dân tộc và hiện đại.
Cần có các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ
người Việt Nam trong tiến trình xây dựng và thực thi các thể chế pháp lý. Các
kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật trong các giai đoạn lịch sử cho
thấy các thế hệ người Việt Nam khá thành công trong việc tiếp thu các giá trị
pháp lý nước ngoài, làm nên một bản sắc pháp lý Việt Nam. Xin hãy lấy
Quốc triều hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) để suy ngẫm. Bộ luật Hồng
Đức, theo đánh giá của sử gia Phan Huy Chú: “Thật là cái mẫu mực để trị
nước, các khuôn phép để buộc dân”. Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù chịu ảnh
hưởng của tư tưởng pháp lý và các quy tắc pháp luật của Trung Hoa thời
phong kiến, nhưng Bộ luật Hồng Đức vẫn là bộ luật của người Việt Nam, là
sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, chứ không phải là sự sao chép máy
móc pháp luật của nhà Đường hay nhà Minh. Trong lịch sử, dân tộc ta đã rất
thông minh và chủ động trong việc tiếp thu pháp luật nước ngoài để cách tân
đất nước. Ngày nay, chúng ta vẫn cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp luật
nước ngoài một cách chủ động để tiếp tục củng cố và phát triển đất nước.
Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, bảo
đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có
tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta cần phải đẩy mạnh việc đổi mới công
lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh
hẹp. Một đạo luật với ít điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, đáp ứng
kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với không gian
pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ thể
hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm
soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên
thực tế.
18
Ba là, tăng cường lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân đóng góp
xây dựng các dự thảo luật. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật
của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật phản
ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự là
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của
nhân dân đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng
dự thảo luật. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo luật
phải được thông báo công khai, minh bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm
thấy ý kiến của mình được tôn trọng, củng cố được niềm tin của nhân dân vào
pháp luật; mặt khác, khi đã được ban hành, luật sẽ nhanh chóng đi vào cuộc
sống và phát huy hiệu quả.
19
KẾT LUẬN
Thực tiễn phát triển của xã hội ta, đất nước ta xác nhận và khẳng định
vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó chính là căn cứ, là điều kiện cần thiết để chúng
ta hoàn thiện pháp luật. Hiến pháp của nước ta đã ghi nhận vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng phù
thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[4] PGS. TS. Đặng Văn Nam (2007), Địa lí Kinh tế - Xã hội Việt Nam thời kỳ
hội nhập, NXB. Giáo dục, Hà Nội.
[5] PGS. TS. Đặng Hữu Toàn (2003), Chủ nghĩa Mác – Lênin và công cuộc
đổi mới ở Việt Nam (Sách tham khảo), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.