đại học quốc gia hà nội
khoa luật
phạm huy văn
T- t-ởng Hồ Chí Minh về nhà n-ớc của dân, do dân,
vì dân và vận dụng vào xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2010
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
phạm huy văn
T- t-ởng Hồ Chí Minh về nhà n-ớc của dân, do dân,
vì dân và vận dụng vào xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà n-ớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
luận văn thạc sĩ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
5
1.1.2.
Tinh hoa văn hóa nhân loại: phương Đông và phuơng Tây
6
1.1.3.
Chủ nghĩa Mác - Lênin
8
1.1.4.
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
12
1.1.5.
Trí tuệ và phẩm chất chính trị của Hồ Chí Minh
14
1.2.
Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước của dân, do dân, vì dân
32
1.2.2.4.
35
Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân
1.2.2.5. Nhà nước kết hợp hài hòa giữa pháp luật và đạo đức trong
trong quản lý xã hội
39
1.2.2.6. Tổ chức quyền lực nhà nước hợp lý và khoa học, đảm bảo
chủ quyền của nhân dân; xây dựng chính quyền mạnh mẽ,
sáng suốt và chịu trách nhiệm trước nhân dân
44
1.2.2.7. Nhà nước có đội ngũ cán bộ, công chức vừa hồng, vừa
chuyên; thực sự là công bộc của dân
51
Chương 2: Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về nhà nước
của dân, do dân, vì dân vào xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay
56
65
2.3.2.
Cải cách tư pháp, đảm bảo cho Tòa án độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật
71
2.3.3.
Cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng một nền hành
chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa
74
2.3.4.
Xây dựng đạo đức của người cán bộ trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay
76
2.3.5.
Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
phát triển của Đảng, Nhà nước và xã hội Việt Nam trong thế kỷ XXI. Đại hội
lần thứ IX của Đảng (2001) khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây
dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Đại hội Đảng chỉ rõ:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện
và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết
quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào
điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại [12].
Tư tưởng và quan điểm của Người về nhà nước của dân, do dân, vì
dân vô cùng sâu sắc và là hạt nhân cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó
chứa đựng những giá trị to lớn về cả phương diện lý luận và thực tiễn đối với
cách mạng Việt Nam; là cẩm nang để sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa và mở rộng quan hệ quốc tế đi tới thành công.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì
dân không những có ý nghĩa lịch sử mà còn cung cấp cho chúng ta những
1
kinh nghiệm quý báu để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng đội
ngũ cán bộ công chức thực sự là công bộc của dân, hoàn thiện hệ thống pháp
luật, đấu tranh loại bỏ những thói hư, tật xấu trong bộ máy nhà nước, phát huy
dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của nhân
dân, đảm bảo cho nhà nước luôn giữ được bản chất cách mạng, từng bước xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đối với nước ta, cũng như nhiều quốc gia, dân tộc khác, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là xu hướng tất yếu khách quan, nhưng đối
với chúng ta đây là nhiệm vụ hết sức mới mẻ. Trên thế giới cũng chưa có quốc
gia, dân tộc nào khẳng định đã xây dựng thành công nhà nước pháp quyền, mà chỉ
của Người về nhà nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Trước hết phải kể đến
tác giả: Nguyễn Ngọc Minh: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
và pháp luật, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998. Đây là công trình nghiên cứu khá
toàn diện về những tư tưởng và những đóng góp thiết thực của Hồ Chí Minh
về nhà nước và pháp luật của Nhà nước ta trong cả hai giai đoạn cách mạng
dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tiếp đó là PGS.TS Hoàng
Văn Hảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới- sự hình thành và
phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. Tác giả cũng đã nghiên cứu
sự lựa chọn kiểu nhà nước của Hồ Chí Minh đến những tư tưởng của Người
về Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và
trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phần kết luật tác giả có nhiều
nghiên cứu về sự "kết hợp đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh";
từ đó nêu ra sự vận dụng tư tưởng về nhà nước pháp quyền và từng bước hoàn
thiện nó trong quá trình đổi mới đất nước. Tiếp theo phải kể đến công trình
chuyên khảo của PTS. Nguyễn Đình Lộc: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
của dân, do dân, vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 (sản phẩm của
đề tài cấp nhà nước KX 02. 13); Vũ Đình Hòe: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ
Chí Minh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001; Phạm Ngọc Anh - Bùi Đình
Phong: tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở
Việt Nam, Nxb Lao động, 2003; Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên): Tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Thành phố Hồ Chí
Minh, 2003; Bùi Ngọc Sơn: Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận
3
chính trị, 2004; Nguyễn Đăng Dung (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007;...
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí
5
Chƣơng 1
SỰ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƢỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ
DÂN
1.1. SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƢỚC CỦA
DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
1.1.1. Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trƣớc hết là chủ nghĩa
yêu nƣớc Việt Nam
Trong quá trình lao động, sản xuất, chinh phục và chống chọi với
thiên nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm... đã hun đúc nên nhiều giá trị
cao quý trong nền văn hóa của dân tộc cũng như trong từng con người Việt
Nam những truyền thống, phẩm chất tốt đẹp như: tinh thần đoàn kết, tương
thân- tương ái, yêu thương thiên nhiên và con người, chăm chỉ lao động, lạc
quan yêu đời, ý chí đấu tranh anh dũng, tự lực, tự cường... Trong những
truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là dòng
chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động
lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người, niềm tự hào và là nhân tố hàng
đầu trong bảng giá trị tinh thần Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị
xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó
nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước [35, tr. 171].
nhân dân, tận tụy vì lợi ích của nhân dân. Lão gia với tư tưởng Vô vi nghĩa là
thuận theo tự nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên, mà tuân theo những quy luật
của tự nhiên cũng có nghĩa là tuân theo trật tự của cuộc sống, của xã hội [10].
7
Toàn bộ những tư tưởng, quan điểm tiến bộ đó đều được Hồ Chí Minh
kế thừa và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng nước ta. "Trong bầu
trời không gì quý bằng nhân dân" [27, tr. 544].
Hồ Chí Minh cũng đã kế thừa, tiếp thu những yếu tố tích cực của Phật
giáo như là: tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, thương người như thể thương thân;
là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; có tinh
thần bình đẳng, dân chủ chống lại mọi sự phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động,
chống lười biếng... Người viết: "Không được báo thù báo oán. Đối với những
kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải chính sách khoan hồng" [33, tr.
420].
Như vậy, từ những giá trị tư tưởng của Nho giáo, kiêm ái của Mặc gia,
thuận theo tự nhiên của Lão gia, từ bi bác ái của nhà Phật đã góp phần hình
thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước vì con người, một nhà
nước của dân, do dân và vì dân [10, tr. 77]. Nhà nước đó ra đời từ trong lòng
nhân dân, phục vụ và bảo vệ nhân dân, thỏa mãn những khát vọng và đem đến
cuộc sống ấm no cho nhân dân; nhà nước đó là công cụ của nhân dân mà
không phải của bất cứ nhóm người hay thế lực nào; nhà nước đó là "người
đầy tớ trung thành của nhân dân" [38, tr. 663].
Từ nhận thức ấy, cùng với những năm học ở Trường Quốc học Huế
được làm quen với những khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" của cách
mạng tư sản Pháp đã thôi thúc Người sang các nước phương Tây để tìm hiểu
bản chất của tư tưởng đó. Người nói: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi
được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... Và từ thuở ấy, tôi rất
hỏi bức xúc phải có sự dẫn dắt của lý luận khoa học và cách mạng. Lý luận
của Mác ra đời đáp ứng những đòi hỏi ấy.
Cuối cùng, tiền đề khoa học và lý luận là sự xuất hiện thuyết tiến hóa
của Đácuyn, học thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của
Lômônôxốp... Đó là việc Mác và Ăngghen đã kế thừa trực tiếp, phê phán,
chọn lọc và cải tạo một cách triệt để những thành tựu cũng như những hạn chế
của triết học cổ điển Đức (đại biểu tiêu biểu: Cantơ, Hêghen, Phoiơbắc), kinh
tế chính trị cổ điển Anh (Ađam Xmít và Ricácđô), chủ nghĩa xã hội không
10
tưởng Pháp thế kỷ thứ XIX (Xanh Ximông, Ôoen, Phuriê)... để sáng lập ra
học thuyết khoa học và cách mạng cho giai cấp vô sản.
Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc
và gây chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914- 1918); sự phát triển không đều
của chủ nghĩa tư bản làm cho cuộc cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi
ở một vài nước, thậm chí ở một nước tư bản kém phát triển. Trong hoàn cảnh
này, Lênin (1870- 1924) đã vận dụng sáng tạo và phát triển toàn diện học
thuyết của Mác, làm cuộc Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, chủ nghĩa xã hội
từ lý luận trở thành hiện thực, đưa đến sự ra đời nhà nước công nông đầu tiên
trên thế giới, mở ra thời đại mới trong sự phát triển của lịch sử của xã hội loài
người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn thế giới.
Cũng chính năm 1917, Nguyễn Ái Quốc từ Anh trở lại Pháp, lập ra
Hội những người Việt Nam yêu nước để tập hợp việt kiều yêu nước ở Pháp.
Năm 1918, Người vào Đảng xã hội Pháp, tham gia những hoạt động của phong
trào công nhân Pháp, tìm hiểu những kinh nghiệm của cách mạng Pháp, tranh
thủ sự đồng tình của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp đối với cuộc
đấu tranh yêu nước của Việt Nam và tìm hiểu cách mạng Tháng Mười Nga.
xúc với các thầy giáo, các bậc sĩ phu yêu nước, những người có tên tuổi ở
Nam Đàn và Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ, mà trước hết là người cha thân yêu, rồi
Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Hoàng Phan Quỳnh... Ngoài những trang
sách Nho giáo như Tam thiên tự, Tam tự kinh, Ngũ tự kinh, Kinh thư..., thông
qua những bài giảng tâm huyết của những người thầy, người thân luôn luôn coi
việc dạy học là để đào tạo học trò trở thành những người có ích cho dân, cho
nước, Nguyễn Sinh Cung dĩ nhiên biết khá nhiều về lịch sử Việt Nam, về quá
trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ của dân tộc [57, tr.
247].
Lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, Người càng khâm phục ý chí
đấu tranh anh dũng, kiên cường của các bậc tiền bối và cảm thương sâu sắc
đến thân phận nô lệ của người dân mất nước. Người được tận mắt chứng kiến
cảnh áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến
13
đối với đồng bào mình. Người nên án chính sách thực dân phản động của
chúng thi hành đối với nhân dân ta. Chúng làm cho đồng bào ta bị bần cùng
hóa, sống trong cảnh đói khát, tối tăm, dốt nát; mọi quyền làm người đều bị
chúng tước đoạt. Lấy tiếng là khai phá văn minh, là "Tự do, Bình đẳng, Bác
ái"... nhưng kỳ thực những lời lẽ tốt đẹp đó chỉ là mị dân, dối trá nhằm che
đậy bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân. Từ hiện thực tình cảnh đất nước,
cũng như chứng kiến nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân xâm lược và
phong kiến đều đi đến thất bại; đằng sau những lời lẽ hoa mỹ mà chúng rêu
rao là cái gì... đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước.
Suốt chặng đường 30 năm đi tìm đường cứu nước, Người trực tiếp quan
sát cuộc sống của những người lao động cùng khổ, tình cảnh của các dân tộc
thuộc địa bị áp bức, bóc lột và thống trị bởi chủ nghĩa thực dân, thấu hiểu nỗi
đau khổ, tủi nhục của đồng bào và dân tộc mình dưới ách thống trị của đế
về phương cách trị nước của các nhà triết học, chính trị học, luật học ở
phương Đông và phương Tây. Người cũng nghiên cứu trình độ phát triển kinh
tế- xã hội, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước, truyền thống văn hóa, tâm lý
và tình cảm của nhân dân để xây dựng nên một nhà nước thích hợp cho cách
mạng Việt Nam. Do vậy mà tư tưởng của Người về nhà nước của dân, do dân,
vì dân có giá trị hiện thực lớn lao đối với chúng ta cho đến tận hôm nay và cả
trong tương lai.. Giá trị hiện thực của nó phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của một
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Cách thức tổ chức nhà nước sinh thời Hồ Chí Minh, qua hai Hiến
pháp năm 1946 và năm 1959, là rất Việt Nam, mang đậm dấu ấn dân tộc và
sắc thái phương Đông, đồng thời có vận dụng nhiều kinh nghiệm của Pháp, có
một phần của Mỹ về tổ chức nhà nước và các mối quan hệ quyền hạn giữa các
bộ phận chính quyền với nhau, đằng sau nó là kinh nghiệm của Anh, vì Anh
đã một thời là mẫu cho các nền dân chủ phương Tây [57, tr. 68].
Như vậy, trước hết và trên hết, chính thực tiễn hoạt động cách mạng
phong phú đã giúp Người sáng tạo và xây dựng nên một nhà nước dân chủ
nhân dân hiện thực đầu tiên ở Đông Nam Á lúc bấy giờ, phù hợp với điều
15
kiện, hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam, là mô hình nhà nước trong thời kỳ
quá độ để chúng ta tiên lên chủ nghĩa xã hội. Nhà nước đó mang bản chất
nhân dân sâu sắc. Tổ chức và mục tiêu hoạt động của nó tất cả là vì quyền lợi
và hạnh phúc của nhân dân.
1.1.5 Trí tuệ và phẩm chất chính trị của Hồ Chí Minh
Lý luận và tư tưởng bao giờ cũng là sản phẩm của con người, do con
người sáng tạo ra trên cơ sở nhận thức các nhân tố khách quan. Do đó mà tư
tưởng còn phụ thuộc vào các yếu tố trí tuệ, phẩm chất tinh thần của con
người, như tư duy, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, tính cách, tình cảm...
mọi tầng lớp nhân dân [10, tr. 88].
Phong cách chính trị của Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
việc tổ chức và hoạt động của nhà nước sau khi nước nhà giành được độc lập.
Theo Người, nhà nước đó từ nhân dân mà ra, nó là công cụ của nhân dân chứ
không phải của riêng cá nhân, tổ chức hay bất kỳ lực lượng nào, nhà nước đó
vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân mà tồn tại và hoạt động, nó hoàn toàn
không tồn tại vì mục đích tự thân. Với bản chất như thế, thực chất nó là nhà
nước pháp quyền, hình thức nhà nước mà hiện nay trở thành hướng đi chung
của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới.
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
NHÀ NƢỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
1.2.1. Khái quát về những quan điểm cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh về nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân
- Tổ chức quyền lực nhà nước phải có sự phân công, phân quyền và
kiểm tra, giám sát lẫn nhau nhằm phòng tránh sự lạm quyền và bảo đảm
chủ quyền của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, nhà nước của dân, do dân, vì dân là nhà nước mà
trong đó cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước phải có sự phân công, phân
quyền rõ ràng, rành mạch nhằm phòng tránh sự độc đoán, chuyên quyền dẫn
đến lạm quyền và vi phạm đến các quyền, tự do và dân chủ của nhân dân. Tư
tưởng phân công, phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước của Hồ Chí
17
Minh, mặc dù không đề cập chính thức bằng lời hay bằng văn bản, nhưng tư
tưởng đó được thể hiện đậm nét trong những quy định của Hiến pháp 1946 và
Hiến pháp 1959 do Người chủ trì việc soạn thảo. Theo Hiến pháp 1946, "Nghị
viện nhân dân là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ
vì dân thì trong tổ chức quyền lực nhà nước phải có sự phân công, phân quyền
rõ ràng, có sự kiểm tra và giám sát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực. Điều
này không chỉ nhằm phòng tránh sự độc đoán, chuyên quyền dẫn đến lồng
quyền, lạm quyền, xâm hại đến các quyền, tự do và dân chủ của nhân dân mà
còn bảo đảm cho nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, có tinh thần trách
nhiệm đối với nhân dân.
- Xây dựng chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt; xây dựng chế độ trách
nhiệm của nhà nước, của chính phủ đối với nhân dân
Ngay trong lời nói đầu của Hiến pháp 1946 (do Chủ tịch Hồ Chí Minh
chủ trì việc soạn thảo) đã khẳng định: "Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và
sáng suốt của nhân dân". Và Người cũng nhận thấy rằng, để có một đất nước
mạnh, đủ khả năng lãnh đạo, chỉ đạo và phản ứng nhanh nhạy, kịp thời với
tình hình của đất nước lúc bấy giờ thì đòi hỏi phải có một chính quyền mạnh,
sáng suốt, mà cụ thể hơn là Chính phủ- hành pháp phải mạnh, vì đây được
xem là động cơ, là xuất phát điểm của toàn bộ bộ máy nhà nước [9]. Theo
những quy định của Hiến pháp 1946 thì Chủ tịch nước có những quyền hạn
khá lớn với vị trí vừa là Nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu cơ quan
hành chính cao nhất của toàn quốc.
Qua các thẩm quyền của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 cho
thấy, mặc dù chính thể của nước Việt Nam là cộng hòa dân chủ nhân dân
nhưng chế định Chủ tịch nước lại đóng vai trò hết sức quan trọng với các
quyền hạn tương tự quyền hạn của nguyên thủ quốc gia trong chính thể cộng
hòa tổng thống ở các nước tư bản. Đây là sự điều chỉnh hợp lý từ mô hình bộ
máy nhà nước dân chủ nhân dân cấp độ cao xuống cấp độ thấp hơn phù hợp
với hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm
1945. Do tính phức tạp của tình hình chính trị sau Tổng tuyển cử năm 1946,
nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc đòi hỏi phải thiết lập và thực thi mộ bộ máy
19