Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân với việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
–––––––––––––––––––––––––––––––––––– NGUYỄN THỊ LÊ THẢO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN VỚI VIỆC TIẾP TỤC
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 64.31.27 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: T.S Trần Ngọc Liêu Hà Nội-2013
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 8
3.1. Mục đích 8
3.2. Nhiệm vụ 8

2.3. Phƣơng hƣớng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nƣớc pháp quyền
XHCN Việt Nam theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh 66
2.3.1. Xây dựng và hoàn thiện nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam
hiện nay là yêu cầu khách quan, cấp bách 66
2.3.2. Một số nội dung cơ bản của phƣơng hƣớng xây dựng và hoàn thiện nhà
nƣớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ở nƣớc ta hiện nay 70
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
2
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
3
KTXH
Kinh tế xã hội
4
CXNT
Công xã nguyên thủy
5
KT
Kinh tế
6
XH
Xã hội

thuật hiện đại và đang mở ra cơ hội cho các nước chậm phát triển có thể

2
đuổi kịp các nước phát triển. Trong tình hình đó, Việt Nam cần phải có một
nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực,
tranh thủ nắm lấy vận hội, đưa đất nước vượt qua nguy cơ, thách thức. Do
vậy, hơn lúc nào hết, những tư tưởng của Người, nhất là những tư tưởng về
nhà nước của dân, do dân và vì dân là bó đuốc tỏa sáng, soi đường định
hướng cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, để không
ngừng hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn mới. Thật
may mắn cho chúng ta vì đã được sinh ra, lớn lên và hưởng trọn những thành
quả mà cả đời Người đã cống hiến. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm định hướng cho việc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay .
Chính vì thế em chọn nghiên cứu đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước của dân, do dân, vì dân với việc tiếp tục xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam hiện nay.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay, việc đẩy mạnh nghiên cứu những vấn đề lý luận về nhà nước
pháp quyền và tổng kết kinh nghiệm xây dựng nó trong lịch sử nhân loại,
cũng như việc phân tích cụ thể các điều kiện thuận lợi và khó khăn của đất
nước, đang là một nhu cầu cấp thiết trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước.
Xác định rõ nhu cầu ấy, Đảng ta đã định hướng nghiên cứu cho các
khoa học xã hội là phải tập trung vào vấn đề vừa mang tính khoa học, vừa có
ý nghĩa thực tiễn chính trị này.
Năm 1992, công tác xây dựng pháp luật đã hướng trọng tâm vào việc
thông qua Hiến pháp và các Luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Kết quả này
đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc đổi mới hệ thống chính trị
nước nhà, tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp

4
chủ và những giải pháp nâng cao hiệu quả của chúng ở nước ta hiện nay.
Nguyễn Duy Quý (chủ biên) - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của dân, do dân, vì dân - lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia,
2008. Cuốn sách đã tập trung nghiên cứu các nội dung sau: Khái quát lịch sử
hình thành và phát triển của học thuyết nhà nước pháp quyền (NNPQ). Chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về nhà nước và NNPQ.Khái niệm, những đặc trưng cơ bản và chức
năng của NNPQ và các yếu tố quy định, chi phối cũng như phương hướng và
các giải pháp chủ yếu xây dựng NNPQXHCN ở Việt Nam.Cuốn “Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của
tập thể các tác giả: Nguyễn Văn Yểu, GS,TS Lê Hữu Nghĩa (Đồng Chủ biên),
GS,TS Trần Ngọc Đường, TS Nguyễn Văn Hiện, TS Vũ Đức Khiển, GS,TS
Nguyễn Ngọc Long, TS Uông Chu Lưu, TS Thang Văn Phúc, GS,VS Nguyễn
Duy Quý, TS Nguyễn Viết Thông, TS Nguyễn Văn Thuận, PGS,TS Đức Vượng.
Bản thảo cuốn sách dựa trên cơ sở Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới về
Nhà nước của Nhóm 4 (Tổng kết về Nhà nước thời kỳ đổi mới).
Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống về xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong thời kỳ
Việt Nam tiến trên con đường đổi mới. Những tiền đề để xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân tích trên lĩnh vực kinh tế,
chính trị, xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng những tư tưởng,
quan điểm về pháp quyền, nhân quyền (quyền con người), quyền tự do, dân
chủ, về bản chất, vai trò của luật pháp trong xã hội Việt Nam. Người chỉ ra
rằng, pháp quyền là “thần linh”, luật pháp là phương tiện để củng cố nhà
nước, duy trì trật tự xã hội. Giữa pháp luật và nhà nước phải có mối quan hệ
hữu cơ với nhau. Để tạo nên sự ổn định của nhà nước, làm cho bộ máy nhà
nước vận hành đúng quỹ đạo, phát huy được hiệu lực quản lý, điều hành thì

5

tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà còn sống đến ngày hôm
nay đã dành tặng bạn đọc một món quà quý, đó là cuốn hồi ký thứ hai của
ông với tên gọi " Pháp quyền nhân nghĩa". Hơn 1000 trang sách là một
khối tư liệu khổng lồ, một khối tâm tư nặng trĩu mà một công dân 94 tuổi,
một vị cựu Bộ trưởng gửi đến người đọc các thế hệ sau mình. Bằng tất cả
kiến thức, tài liệu, kinh nghiệm và nhiệt huyết của một công dân, một
người làm luật, một người yêu nước, ông đã dẫn dắt người đọc qua những
chặng đường tìm hiểu nguồn tư tưởng nhân nghĩa trong quá trình xây
dựng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh.
Hơn tất cả, Vũ Đình Hoè phân tích được nền tảng nhân nghĩa truyền
thống của dân tộc trong quá trình cấu tạo tư tưởng pháp quyền của Hồ Chí
Minh. Và, với tư cách là một người trong cuộc, ông dựng lại được quá
trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, thực thi tư tưởng pháp
quyền nhân nghĩa của Hồ Chí Minh từ 1911 đến năm 1960, năm cuối
cùng ông tham gia Chính phủ với tư cách là Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Tiến sĩ Lê Minh Quân qua cuốn sách “Xây dựng Nhà nước pháp
quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay" của mình đã khái quát lịch sử tư tưởng về
Nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với sự phát triển của xã hội và
khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội ở
nước ta hiện nay, đồng thời, tác giả còn đưa ra một số giải pháp, phương
hướng cơ bản trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay.
Nhóm 3: các tạp chí
Hoàng Thị Hạnh - Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tạp chí triết học số 9-2010.

7
Trong bài viết này, tác giả đã tập trung làm rõ hai vấn đề cơ bản liên quan đến
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là, thứ

cận theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Đã xuất hiện những ý kiến khác nhau,
đa dạng, đôi khi trái ngược nhau, nhưng rốt cuộc, đều thống nhất với nhau ở
mục đích chung là: tất cả những ý kiến đó đều mang nguyện vọng chung là:
đóng góp các đề xuất, kế sách, để sao cho công cuộc xây dựng nhà nước pháp
quyền của chúng ta trở nên tối ưu, hợp lý, đáp ứng được lòng dân, ý Đảng.
Liên quan đến các điều kiện đặc thù của Việt Nam trong việc tiếp thu
và cải biến các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, cũng còn nhiều điều
đáng để bàn luận. Chính vì vậy, ở một chừng mực nhất định, luận văn mong
muốn đóng góp một phần công sức vào những khía cạnh mới mẻ này.
Các công trình trên đã nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
của dân do dân vì dân; về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
ở nhiều góc độ, phương diện khác nhau.
Dù đây là một vấn đề rộng lớn mà sự hiểu biết của em thì có hạn, song
em rất mong góp một phần sức lực của mình để nghiên cứu vấn đề này. Trong
quá trình nghiên cứu em đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các tác
giả đi trước, cũng như các nhà nghiên cứu để phục vụ cho đề tài.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của
dân, do dân, vì dân để vận dụng vào xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở
Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có những nhiệm vụ sau.
- Nghiên cứu nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước của dân, do dân, vì dân

9
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước của dân, do dân, vì dân
- Làm rõ quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền.

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo và học tập cho sinh
viên chuyên ngành giáo dục chính tri,tư tưởng Hồ Chí Minh
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương
Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Chương 2. Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

11
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƢỚC
CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
1.1. Nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
1.1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
Lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam gắn liền với những
cuộc đấu tranh quyết liệt chống thù trong giặc ngoài và mỗi khi Tổ quốc bị
lâm nguy, thì non sông đất nước lại sản sinh ra những anh hùng kiệt xuất, đáp
ứng được yêu cầu của lịch sử.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam,
ra đời do yêu cầu khách quan đáp ứng được những yêu cầu bức thiết do cách
mạng Việt Nam đặt ra: Vào giữa thế kỷ XIX (1858), thực dân pháp nổ súng
xâm lược nước ta, vua quan nhà Nguyễn đã quỳ gối đầu hàng, nước ta trở
thành thuộc địa của Pháp. Nhân dân ta căm hờn quyết đứng lên đấu tranh,
khởi nghĩa giành chính quyền, song vì chưa có đường lối đúng đắn nên cách
mạng bị dìm trong biển máu. Những chủ trương cứu nước của cụ Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh đều không thành, con đò cách mạng Việt Nam dường

Trong quá trình sống, lao động sản xuất, con người phát triển hơn về
thể chất và trí lực: Cấu trúc giác quan ngày càng hoàn thiện, họ hiểu biết
hơn về các quy luật tự nhiên và xã hội, tích luỹ nhiều công cụ sản xuất và
cải tiến công cụ lao động đã làm cho năng xuất lao động không ngừng
tawng lên. Hoạt động kinh tế của xã hội trở nên đa dạng, đòi hỏi sự chuyên
môn hoá cao về lao động. Ba lần phân công lao động xã hội vào cuối thời
kỳ CXNT: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách khỏi nông
nghiệp; thương nghiệp xuất hiện đã làm cho sản phẩm làm ra ngày càng dư

13
thừa. Quá trình tư hữu diễn ra, chế độ tư hữu hình thành. Chế độ hôn nhân
một vợ một chồng xuất hiện, trở thành đơn vị kinh tế độc lập có tài sản riêng.
Những biến đổi về mặt kinh tế của XH CXNT làm cho cộng đồng
dân cư thuần nhất của thị tộc bộ lạc phân hoá thành các bộ phận đối lập
nhau về mặt lợi ích xã hội, hình thành hai giai cấp chính là giai cấp bóc lột
và giai cấp bị bóc lột. Điều kiện KTXH vốn là cơ sở cho sự tồn tại của chế
độ CXNT bị phá vỡ, quyền lực xã hội và hệ thống quản lý do toàn thể các
thành viên trong cộng đồng tổ chức ra để bảo vệ lợi ích của các thành viên
bình đẳng nay không còn thích hợp với xã hội đã phân hoá và mâu thuẫn
gay gắt về lợi ích.
Để duy trì trật tự và quản lý một xã hội đã có những thay đổi rất căn
bản đòi hỏi phải có một tổ chức và quyền lực mới, tổ chức này do giai cấp
nắm ưu thế về kinh tế và chính trị lập ra - đó chính là nhà nƣớc.
Chế độ CXNT tan rã, nhà nước ra đời là kết quả sự vận động, phát triển
nội tại của xã hội loài người. Tiền đề KT của sự ra đời nhà nước là chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất; Tiền đề xã hội của sự ra đời nhà nước là sự phân hoá
xã hội thành các giai cấp, tầng lớp có lợi ích đối lập nhau và mâu thuẫn gay
gắt đến mức không thể điều hoà được. Tiền đề XH là kết quả tất yếu của tiền
đề KT.
Như vậy, nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, xuất hiện

Nguyễn Tất Thành đã được hun đúc bởi chính sức mạnh của chủ nghĩa
yêu nước ấy. Người đã vượt qua bao khó khăn gian khổ để hoàn thành sứ
mệnh được giao phó. Chính từ thực tiễn, Người đã rút ra chân lý: “Dân ta có
một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa
đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy nó kết thành một làn
sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn nó
nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.[ 30,171]

15
Truyền thống yêu nước ấy đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất
Thành ra đi tìm đường cứu nước. Trong khoảng 10 năm sau đó (từ 1911 đến
1920), Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục đặt chân đến gần 30
nước trên thế giới, làm nhiều nghề để sống và hoạt động: làm phụ bếp, đốt lò,
quét tuyết, phóng ảnh, viết báo,…và rồi Nguyễn Ái Quốc trở thành người
cộng sản Việt Nam đầu tiên, một chiến sĩ Quốc tế. Người viết: “Lúc đầu
chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi
tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III”.[4,128]
Người tâm đắc một hoài bão: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn
tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn , áo mặc, ai cũng được học hành”.[28, 161]
Hai là, tinh hoa văn hóa nhân loại
Ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã ham học hỏi, thích tìm hiểu
nghiên cứu. Trên bước đường cứu nước, Người đã tiếp thu, kế thừa có chọn
lọc và làm giàu vốn trí tuệ của mình bằng những tinh hoa triết học, văn hóa
Đông - Tây - Kim cổ, như những dòng suối trong lành hợp thành dòng hải lưu
vĩ đại. Bày tỏ thái độ của mình về một số học thuyết và tôn giáo, Người viết:
“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá
nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa
Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn
Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích ứng với điều kiện nước

Heelen Tuốcmêrơ có viết: “Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn chỉnh của sự
kết hợp: Đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác,
thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc. Tất cả đều
hòa hợp trong một dáng dấp tự nhiên”[18, 8]

17
Nhìn lại lịch sử thì lần đầu tiên tư tưởng Hồ Chí Minh được nêu lên
một cách tương đối cơ bản tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của
Đảng (6/1991): Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam đồng thời làm
phong phú tư tưởng của giai cấp vô sản, phát triển tư tưởng nhân loại đạt tới
tầm cao mới.
Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã tiếp tục khẳng định:
“Ở những bước ngoặt của cách mạng, trước những diến biến phức tạp của
tình hình, Đảng kịp thời có định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, uốn nắn
những nhận thức lệch lạc, chống những luận điểm thù địch, tạo cơ sở cho sự
thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng và trong nhân dân”.[7, 136]
Tại đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã chỉ rõ: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
triển của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng con
người, về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH kết hợp với sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại, về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân
tộc, về quyền dân chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do
dân, vì dân…Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân
dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc
ta”.[9,20 -21]
1.1.2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 2/9/1969, Làng Sen -

Người đã hiểu sâu sắc và khẳng định con đường cứu nước đúng đắn mà mình
đã lựa chọn. Tháng 12/1920, Người tham gia vào Quốc tế Cộng sản III và
Đảng Cộng sản Pháp.

19
Năm 1925, Người viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”, đây là một bản
cáo trạng của chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng và chủ nghĩa tư bản đế quốc
nói chung. Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo, lên án đanh thép những tội ác tày trời
của chủ nghĩa thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội với những chứng cứ xác thực. Tác phẩm cũng chỉ rõ mối quan hệ mật
thiết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc, khẳng định
cách mạng thuộc địa là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới.
Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc dưới tên ông giáo Vương đã viết tác phẩm
“Đường Kách mệnh”, trong đó có đoạn: “ Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh
thì phải làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi, thì quyền giao cho
dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một số ít người thế mới khỏi hy sinh
nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.[26, 270]
Đó là sự đúc rút kinh nghiệm qua tìm tòi khảo nghiệm các cuộc cách
mệnh mang ý nghĩa tự do - bình đẳng - bác ái. Đánh giá về cuộc cách mạng
Mỹ, Người chỉ rõ: “Tuy Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ có câu rằng: “Giời
sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn
cho sung sướng…Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng
phải đập đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác”, “bây giờ chính phủ
Mỹ lại không cho ai nói đến chuyện cách mệnh, ai đụng đến chính
phủ”[26,270]
Do vậy, Người kết luận: Cách mạng tư sản rồi, mà công nông vẫn cứ
cực khổ.
Đến với cách mạng tư sản Pháp thế kỷ XVIII, Người đánh giá: “Nhà
nước tư sản Pháp ra đời là thành quả của cuộc cách mạng 1789 lật đổ chế độ
phong kiến với khẩu hiệu nổi tiếng. “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”. “Tư bản nó

hình Xô Viết được thiết lập ở Nghệ An - Hà Tĩnh trong cao trào cách mạng
1930 - 1931. Đó là kiểu nhà nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định

21
chọn cho dân tộc ta, một kiểu nhà nước mới theo học thuyết của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, của nhân dân
Việt Nam.
Và tất cả những điều đó đã được khẳng định bằng sự ra đời của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, mà đánh dấu là bản Tuyên ngôn độc lập đã được
Người long trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào tại quảng trường Ba Đình
ngày 2/9/1945: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật
đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất
cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc
lập ấy”[24, 557].
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước do nhân dân lao động
làm chủ. Trong những năm đầu của chính quyền nhân dân, tình hình đất nước
cực kỳ phức tạp: “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” hoành hành. Ngày
3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì cuộc họp Chính phủ, nêu rõ những
nhiệm vụ cấp bách của nhà nước, trong đó Người nhấn mạnh: “Chính phủ tổ
chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu,
để có một chính phủ của dân và do dân”. [28,133].
Ngày 6/1/1946, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, mọi công dân Việt
Nam không phân biệt già trẻ, trai gái, tôn giáo…nô nức đi bỏ phiếu, lựa chọn
những đại biểu của mình vào Quốc hội, để tạo ra bộ máy thực sự của dân , do
dân, vì dân. Sau cuộc Tổng tuyển cử thắng lợi, Quốc hội khóa I đã họp, Chính
phủ mới chính thức ra đời: “Chính phủ mới phải tỏ ra cái tinh thần đại đoàn
kết không phân biệt đảng phái…Tôi có thể tuyên bố trước Quốc hội rằng:
Chính phủ này tỏ ra cái tinh thần quốc dân liên hiệp, là một Chính phủ chú
trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc, để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất
lãnh thổ, cùng xây dựng một nước Việt Nam mới, Chính phủ này là Chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status