Thực trạng và giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 30

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã làm cuộc cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thành công; từ đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, một nhà nước kiểu mới, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, ra đời.
Trong suốt thời gian từ đó tới nay, với bản chất cách mạng và dân chủ, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức và huy động sức mạnh của toàn dân tộc tiến
hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, quản lý đất
nước có hiệu quả trên nhiều mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, ngoại giao, quốc phòng và
an ninh. Ngay từ buổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng và phát
triển của mình, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của một Nhà nước pháp quyền của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân,
của dân tộc. Trong nhiều văn kiện của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ IX đã khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó chính là kết quả
của quá trình nhận thức, kế thừa, tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tiếp thu có chọn lọc tư tưởng tiến bộ của nhân loại về
nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Thực tiễn đổi mới trong những năm qua đã
khẳng định yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như
một xu thế tất yếu, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều
kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. mở rộng giao lưu
và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã chọn đề tài “Thực trạng và giải
pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay” cho bài tiểu luận của mình.


2. Mục đích nghiên cứu
- Mục tiêu lý luận: Làm sáng tỏ về mặt lý luận nguồn gốc, đặc trưng, bản chất
của nhà nước và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Mục tiêu thực tiễn: thực trạng vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội

để duy trì mâu thuẫn giai cấp trong một giới hạn trật tự nhằm thực hiện được sự bóc
lột của giai cấp nắm TLSX đối với người lao động.
Theo V.I.Lenin, nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai
cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào về mặt khách
quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện. Và
ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ những mâu thuẫn giai cấp là không thể
điều hòa được.
Từ những luận giải của Angghen và Lenin có thể khải quát mở rộng ở 3 điểm
sau đây:
- Một là, trong XH cộng sản nguyên thủy, để thực hiện nhu cầu tổ chức thị tộc,
bộ lạc đã xuất hiện thể chế tự quản sơ khai nhất trong lịch sử nhân loại. Điều này xuất
phát từ các nguyên nhân sản xuất chưa phát triển, tổ chức xã hội chưa phức tạp, quan
hệ giữa con người với nhau còn hết sức thuần phác, chưa có mâu thuẫn giai cấp, do đó
cũng chưa có nhà nước.
Xã hội cộng sản tương lai là một xã hội mà thể chế tự quản ở trình độ cao cũng
sẽ có khả năng được xác lập. Ở đó sẽ không cần đến hình thức tổ chức xã hội theo
kiểu tổ chức nhà nước.
Như vậy, nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh viễn của lịch sử, không phải
là bản chất của mọi XH nói chung.
- Hai là, sự xuất hiện của nhà nước không phải để giải quyết hoặc điều hòa
mâu thuẫn mà là để duy trì mâu thuẫn đó trong giới hạn của những trật tự nhất định
nhằm có thể duy trì sự tồn tại của các giai cấp và thực hiện được lợi ích của giai cấp
chiếm hữu TLSX đối với những giai cấp khác.
- Ba là, trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH tồn tại các cuộc đấu tranh
giai cấp với những nội dung mới và hình thức mới nên tồn tại nhà nước là 1 tất yếu.


Đồng thời nhà nước đó sẽ “tự tiêu vong” cùng với quá trình xây dựng thành công chủ
nghĩa cộng sản.
1.1.2. Bản chất của nhà nước:

- Chức năng chinh trị và chức năng XH của nhà nước:


+ Chức năng chinh trị của nhà nước là chức năng bảo vệ và thực hiện lợi ích
của giai cấp thống trị.
+ Chức năng XH của nhà nước là chức năng bảo vệ và thực hiện lợi ích chung
của cộng đồng quốc gia trong đó có lợi ích của giai cấp thống trị.
Hai chức năng đó tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau,
trong đó chức năng chính trị quyết định tính chất, phạm vi, mức độ, hiệu quả thực
hiện chức năng XH, nhưng chức năng XH của nhà nước lại giữ vai trò cơ sở cho việc
thực hiện chức năng chính trị; đảm bảo cho việc thực hiện chức năng chinh trị 1 cách
có hiệu quả.
+ Angghen từng khẳng định rằng “ ở khắp nơi, chức năng XH là cơ sở của sự
thống trị chính trị; và sư thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực
hiện chứng năng XH đó của nớ”
+ Việc giải quyết sự thống nhất 2 chức năng đó không thể thực hiện được và
thường gây ra những xung đột XH gay gắt và được thực hiện bằng các cuộc cải cách
và cao hơn là cách mạng XH.
- Chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước là chức năng xây dựng, củng
cố, phát triển và bảo vệ 1 chế độ kinh tê – XH nhất định phù hợp với lợi ích của giai
cấp thống trị.
Chức năng đối ngoại của nhà nước là chức năng bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc
gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, XH với các nhà nước khác, mà
thực chất và cơ bản là thực hiện lợi ích giữa các giai cấp thống trị trong mối quan hệ
với các quốc gia khác nhau.
Trong hai chức năng đó, chức năng đối nội quyết định chức năng đối ngoại
bởi vì nhà nước ra đời và tồn tại là do cơ cấu giai cấp bên trong của mỗi quốc gia quy
định.
+ Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất của chức năng đối
ngoại; ngược lại tính chất và nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ

chính đối với giai cấp nô lệ và tầng lớp dân tự do. Nhà nước chủ nô lại được tổ chức
theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hai hình thức cơ bản là quân chủ và cộng
hòa.
Nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến nhằm
thống trị giai cấp nông dân và những người lao động khác. Kiểu nhà nước phong kiến
cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở các nước phương Tây, hình
thức nhà nước quân chủ phân quyền là hình thức phổ biến. Ở các nước phương Đông,
hình thức tiêu biểu là nhà nước quân chủ tập quyền dựa trên sở hữu nhà nước về
ruộng đât. Trong lịch sử phong kiến tự chủ Việt Nam ( từ thế kỷ thứ X ) hình thức nhà


nước quân chủ phong kiến tập quyền là hình thức phổ biến suốt chiều dài gần 10 thế
kỷ cho tới thực dân Pháp áp đặt sự cai trị ở Đông Dương.
Kiểu nhà nước tư bản là kiểu nhà nước thích ứng với hình thái kinh tế - xã hội
tư bản chủ nghĩa, nó là kiểu nhà nước mang bản chất thống trị của giai cấp tư sản đối
với giai cấp công nhân và nhân dân lao động nói chung.
1.3.2. Kiểu nhà nước chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Kiểu nhà nước chuyên chính vô sản là một kiểu nhà nước đặc biệt. Theo
Ăngghen, đó là nhà nước không còn đúng theo nghĩa đen của nó mà là “nửa nhà
nước”.
Tổng quan các luận điểm của Mác, Ăngghen và Lê nin có thể khái quát ba
điểm lớn về kiểu nhà nước chuyên chính vô sản:
Một là, đây là kiểu nhà nước thích ứng với thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội.
Hai là, đây là kiểu nhà nước mang bản chất giai cấp vô sản, được xây dựng và
hoàn thiện theo mục tiêu xây dựng và quản lý kinh tế - xã hội, tổ chức nhân dân lao
động xây dựng thành công xã hội mới xã hội chủ nghĩ, trên cơ sở liên minh công nông
và trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của chính đảng giai cấp vô sản.
Ba là, đây là kiểu nhà nước không chỉ có chức năng trấn áp mọi thế lực phản
động mà quan trọng hơn là tổ chức xây dựng một nền kinh tế mới, xã hội mới, xã hội

nhất trong mọi hoạt động của bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội và mỗi công dân.
Đây là đặc điểm tiêu biểu nhất về phương diện pháp lý để xác định một nhà
nước nào đó có phải là nhà nước pháp quyền hay không và là nhà nước pháp quyền ở
trình độ nào.
Hai là, nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó quyền lực
nhà nước thể hiện được lợi ích và ý chí của đại đa số nhân dân. Chính vì vậy mà ở các
nước theo hình thức tổ chức nhà nước pháp quyền đều thực hiện chế độ dân chủ trong
việc thiết lập quyền lực nhà nước, thực hiện chế độ trưng cầu dân ý. Theo đặc điểm
này, mỗi cá nhân trong xã hội đều mang trong mình đồng thời hai tư cách đó là tư
cách công dân và tư cách cá nhân tự do. Với tư cách công nhân, buộc mỗi cá nhân
phải có nghĩa vụ và quyền lợi theo quy định của luật pháp; với tư cách cá nhân tự do,
mỗi cá nhân có quyền làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm. Pháp luật chỉ
nghiêm cấm những hành vi cá nhân và tổ chức chính trị, xã hội nào xâm hại tới lợi ích
của cá nhân và các tổ chức khác cũng như lợi ích của xã hội. Như vậy, nó mở rộng
phạm vi hoạt động tự do sáng tạo của mỗi cá nhân, và mỗi tổ chức trong xã hội.
Ba là, nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó có sự bảo
đảm thực tế mối quan hệ hữu cơ về quyền và trách nhiệm giữa nhà nước và công dân.


Quyền của công dân thuộc về trách nhiệm của nhà nước và ngược lại, quyền của nhà
nước thuộc về trách nhiệm của công dân. Nhà nước phải chụi trách nhiệm trước mọi
công các tổ chức trong xã hội. Ngược lại, công dân và các tổ chức trong xã hội phải
thực hiện các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm về những hành vi của mình theo quy định
của pháp luật. Đặc điểm này phù hợp với hai đặc điểm nói trên, nó chính là biểu hiện
trong thực tế những nội dung và thực chất của đặc trưng thứ nhất và thứ hai trong đời
sống hiện thực.
1.4.2. Lịch sử tư tưởng triết học về nhà nước pháp quyền
Những tư tưởng coi trọng pháp luật trong cai trị và quản lý xã hội đã xuất hiện
từ thời cổ đại phương Đông (Trung Hoa) và phương Tây (Hy Lạp). Đó là Tuân Tử,
Hàn Phi Tử… Hêraclít, Platôn, Arixtốt…

cụ cho bất cứ một mưu đồ nào, dù đó là một mưu đồ tốt đẹp nhất. Bởi vậy chính con
người mới là chủ thể của quyền lực. Quyền lực nhà nước được tạo nên bởi chính bản
tính tuyệt đối của con người. Ông cũng tán thành quan điểm phân chia quyền lực nhà
nước thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau.
Sau Cantơ, Hêghen tiếp tục luận chứng những cơ sở triết học của lý thuyết nhà
nước pháp quyền từ học thuyết về sự tha hóa của “ý niệm tuyệt đối”. Theo Hêghen,
nhà nước và pháp luật chỉ là sự thể hiện, sự tha hóa trong đời sống hiện thực của các ý
niệm đạo đức tuyệt đối và ý chí tự do. Theo ông, pháp luật trong nhà nước pháp
quyền chính là hiện thực của tự do và là tồn tại thực tế của ý chí tự do.
1.4.3. Sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa:
Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản
đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do
pháp luật quy định. Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về tổ chức, xây dựng
và vận hành bộ máy của hai nhà nước đó có nhiều điểm khác nhau rất cơ bản. Rõ nhất
là, sự khác nhau trong các quy phạm của hiến pháp và pháp luật về tổ chức, cơ cấu
nhân sự và việc xây dựng, vận hành của bộ máy quyền lực như: Quốc hội và Nghị
viện; Tổng thống và Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp,
v.v.. Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc hội,
Chính phủ...) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là chủ
thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội, Chính phủ hoặc tổ
chức ra Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ mới. Trong khi đó, Hiến pháp và pháp luật
tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có
quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ...


Hai là, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân
đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, vì pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý
chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền

pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành


các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một
trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì
các mục tiêu chung của sự phát triển.
Tính nhất nguyên chính trị và sự lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền
tạo ra khả năng đồng thuận xã hội, tăng cường khả năng hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau
giữa các giai tầng, các cộng đồng dân cư và các dân tộc. Nhờ vậy, nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ
sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc
thực hành và phát huy dân chủ.


CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
2.1. Những tiền đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, vấn đề chính quyền và
việc xây dựng, hoàn thiện một nhà nước kiểu mới, nhà nước dân chủ ở Việt Nam luôn
luôn là mối quan tâm hàng đầu, một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng việc cải cách bộ máy nhà nước,
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới.
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng định
và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử; nó không chỉ là sản phẩm
riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người, của
nền văn minh nhân loại.
Quá trình đổi mới tư duy và hình thành quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân gắn liền với
quá trình hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới đất nước, xuất phát từ những tiền

Việc chỉ ra một cách đúng đắn những hạn chế của cơ chế quản lý cũ giúp
chúng ta tìm được những cách thức khắc phục nó một cách hiệu quả. Việc xoá bỏ cơ
chế cũ phải diễn ra đồng thời với việc xây dựng cơ chế quản lý mới. Đại hội VI của
Đảng xác định mục tiêu của cơ chế mới là tạo ra động lực mạnh để giải phóng năng
lực sản xuất, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế
sang hạch toán kinh doanh; sử dụng đầy đủ và đúng đắn các quan hệ hàng hóa - tiền
tệ; nền kinh tế phải được quản lý bằng các biện pháp kinh tế là chủ yếu; các đơn vị kế
hoạch (quốc doanh và tập thể) là những đơn vị sản xuất hàng hoá, có quyền tự chủ về
sản xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính.
Trong mối quan hệ giũa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc thì Nhà nước
cần được đổi mới cho phù hợp. Sự ra đời của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đòi hỏi tất yếu Nhà nước phải quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp
luật, là tiền đề quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ngược
lại, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể thực sự ra đời và từng bước hoàn
thiện khi các điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước phát triển đến một trình
độ nhất định, làm tiền đề, tạo điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để các quyền cơ
bản của công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được bảo đảm thực thi một
cách đầy đủ và triệt để.
Việc Đảng và Nhà nước khẳng định mô hình kinh tế thị trường tại Việt Nam là
không đối lập với chủ nghĩa xã hội; mà đó cũng đồng nghĩa với việc khẳng định có
thể và cần xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền không đối lập với chủ nghĩa xã


hội. Đây cũng là một đòi hỏi khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta.
Tiền đề chính trị - xã hội
Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, những ảnh hưởng, tác động về mặt chính
trị - xã hội cũng tạo ra các tiền đề quan trọng trong quá trình hình thành tư duy lý luận
của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tiền đề chính trị - tư tưởng quan trọng nhất để xây dựng Nhà nước pháp quyền

bằng Hiến pháp và pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định pháp luật là phương tiện
để củng cố Nhà nước, duy trì trật tự xã hội. Giữa pháp luật và Nhà nước phải có mối
quan hệ hữu cơ với nhau. Để tạo nên sự ổn định của Nhà nước, làm cho bộ máy Nhà
nước vận hành đúng quỹ đạo, phát huy được hiệu lực quản lý, điều hành thì phải xây
dựng được hệ thống luật pháp đúng đắn. Luật pháp của ta là luật pháp thực sự dân
chủ, bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Mọi người đều có
quyền tham gia xây dựng pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ pháp luật.
Các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức của Nhà nước phải làm gương trong
việc thi hành pháp luật.
Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh
đạo, vừa là bộ phận của hệ thống ấy. Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên) là những bộ phận cấu thành cơ bản.
Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đặt
trong bối cảnh đổi mới đồng bộ các thành tố cơ bản của cả hệ thống chính trị, trong
mối quan hệ tác động qua lại giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
Dân chủ hoá trong đời sống chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội là một
trong những tiền đề chính trị tư tưởng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Sự phát triển, hoàn thiện của Nhà nước và pháp luật không tách rời sự phát
triển, tiến bộ của nền văn minh nhân loại và trình độ phát triển văn hoá – xã hội cụ thể
của quốc gia trong từng thời kỳ (trình độ dân trí, vấn đề dân chủ và công bằng xã hội,
vấn đề quyền con người và quyền công dân,...). Đó là mối quan hệ biện chứng.
2.2. Tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hôi chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt
nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập
và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một
nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy
định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và


toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), Đảng ta đã khẳng định phương hướng xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Phương hướng đó được cụ thể hóa một bước tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
lần thứ tám, khóa VII đầu năm 1995. Tại Hội nghị này, 5 quan điểm cơ bản để tiến
hành cải cách bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền


được xác định. Tiếp đến, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta một lần
nữa khẳng định 5 quan điểm cơ bản nêu trên. Đó là:
- Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; lấy liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng
Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ
cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân
dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà
nước.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) tiếp tục khẳng
định nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo
của Đảng" và chỉ rõ "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân".
Như thế, từ khi ra đời cho đến nay, trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân ở
Việt Nam, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật - phương tiện
quan trọng trong quản lý nhà nước.
2.4. Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong việc tổ chức và phân công quyền lực nhà nước, vị trí, vai trò của các cơ
quan tư pháp nước ta mà trung tâm là hệ thống các toà án được đề cao; bảo đảm các
nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; toà
án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm.
Chính quyền địa phương luôn luôn được chăm lo củng cố theo quy định của các Hiến
pháp với việc hình thành Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra
và Hội đồng nhân dân bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân.
Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các
quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hệ thống pháp luật phải thể hiện đầy đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp
với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Pháp luật phải được chính Nhà
nước, cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước và mọi người, mọi tổ chức trong
xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành. Hiến pháp năm 1992 đã xác định: “Nhà
nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ


nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân
dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh
phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật”. Nghĩa vụ
tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả công dân, không loại trừ đối với bất cứ ai.
Ngay Đảng Cộng sản Việt Nam, được toàn thể nhân dân Việt Nam thừa nhận vị trí,
vai trò lãnh đạo đất nước và Hiến pháp khẳng định Đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội”, đồng thời, Hiến pháp cũng xác định: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng
thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho đến nay, nội
dung này luôn luôn được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Trong các văn bản pháp
luật, các nội dung về quyền con người đều được quy định đầy đủ. Hiến pháp năm

trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Sự
lãnh đạo của Đảng được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp.
Trong điều kiện một đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng chúng ta có Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoạt động tích cực để
đoàn kết rộng rãi và đại diện cho tiếng nói của tất cả các giai cấp, các tầng lớp trong
xã hội.
Qua những nội dung trình bày trên đây, có thể thấy rằng, trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã tiếp thu được những tinh hoa của văn
minh nhân loại – các chế định pháp lý được thừa nhận chung của cộng đồng quốc tế
như: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, sự tôn trọng và bảo vệ các quyền
và tự do của con người như là những giá trị xã hội cao quý nhất, sự ngự trị của pháp
luật trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và trong điều chỉnh các quan hệ xã
hội. Tuy nhiên, trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, chúng ta không chấp
nhận “tam quyền phân lập” gắn với chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như ở
các nước tư sản. Trái lại, ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp, dưới sự lãnh đạo của một chính đảng duy nhất - Đảng Cộng sản
Việt Nam. Đây là nét đặc trưng khác biệt giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam với nhà nước pháp quyền tư sản; đồng thời cũng là kinh nghiệm vô cùng
quý giá mà nhân dân ta đã đúc kết được trong quá trình lịch sử cách mạng Việt Nam


2.5. Những thành tựu và hạn chế trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.5.1. Nhận thức mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam:
Trước thời kỳ đổi mới, việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật được
thực hiện trên cơ sở quan điểm phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp.
Từ Đại hội VI, Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm

phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, từ nhận thức đến thực tiễn còn là một khoảng
cách. Có lúc nhận thức đúng, nhưng lại vận dụng sai. Khi thực hiện, chúng ta chưa có
những định hướng cải cách rõ ràng, đáng kể về bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp,
chưa theo kịp với sự vận động khách quan của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội.
Những chủ trương, định hướng phát triển hệ thống pháp luật còn manh mún, thiếu
tầm nhìn bao quát. Vị trí của pháp luật trong đời sống xã hội chưa thực sự được tôn
trọng đúng mức.
Nguyên nhân của những hạn chế trên đây là do hoàn cảnh thực tế và do trình
độ quản lý còn non kém. Những ảnh hưởng, tàn dư của tư tưởng cũ, phong cách điều
hành, chỉ đạo của thời chiến vẫn còn in đậm trong đời sống xã hội, trong cách nghĩ,
cách làm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Năng
lực của đội ngũ cán bộ còn rất hạn chế về trình độ chuyên môn, về kiến thức quản lý,
kiến thức pháp luật, phong cách điều hành, tác phong công tác; trình độ ngoại ngữ, tin
học còn rất yếu. Rất nhiều cán bộ quen điều hành theo mệnh lệnh, bằng uy quyền, chứ
không bằng uy tín; họ rất ít quan tâm đến pháp luật. Người dân chưa có thói quen
chấp hành pháp luật, chấp hành không nghiêm (“phép vua thua lệ làng”) đã gây không
ít khó khăn cho Nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật.
Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng đến nay, tình hình hoạt động của bộ máy
nhà nước nói chung có tiến triển theo chiều hướng tốt. Đây là giai đoạn chúng ta đạt
được nhiều thành tựu quan trọng về lĩnh vực kinh tế. Các tiền đề kinh tế, chính trị, tư
tưởng, xã hội và quốc tế thúc đẩy sự hình thành ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn
những tư tưởng, quan điểm, sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Xây dựng nhà nước pháp quyền là mục tiêu cần hướng tới
của bất kỳ xã hội nào, vì nó đáp ứng được khát vọng tự do, dân chủ, công bằng xã hội,
phúc lợi cho nhân dân, là phương thức hữu hiệu bảo đảm sự tôn trọng nhân phẩm và
các quyền cơ bản của con người. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền
tuy còn mới mẻ, nhưng nó đang mở ra phương hướng mới đầy triển vọng khi xác định


mạnh có tính quyết định của nội lực với sức mạnh của thời đại để tạo ra sức bật mới
cho quá trình phát triển và hội nhập.


2.5.2. Thành tựu đạt được:
Trong quá trình đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đã đạt
được những thành tựu sau:
- Thời gian qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Về lập pháp: Chúng ta đã xây dựng được nhiều đạo luật tạo khung pháp lý cho
sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chế độ sở hữu và các
hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thương gia, quyền tự do kinh
doanh và tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư, khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đã từng bước được xác lập. Nhìn chung, các
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bước đầu hình thành. Các
quy định mang tính hành chính, mệnh lệnh điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế,
thương mại đang từng bước được thay thế bằng các quy định bình đẳng, ngang quyền,
phù hợp với dân luật truyền thống và tập quán; chế độ nhà nước độc quyền về ngoại
thương được xoá bỏ; nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật
không cấm trong hoạt động kinh doanh từng bước được xác lập. Pháp luật trong lĩnh
vực hành chính nhà nước đã có những đổi mới tích cực.
Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập nhiều điều ước quốc tế phục vụ cho chủ
trương mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Vị trí, vai trò
của các điều ước quốc tế trong điều chỉnh các quan hệ xã hội được nâng cao rõ rệt.
Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998, Luật điều ước quốc tế
(năm 2005) đánh dấu một bước phát triển quan trọng đưa việc ký kết và thực hiện
điều ước quốc tế vào nền nếp. Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
dần dần trở thành một bộ phận không thể tách rời của hệ thống pháp luật nước nhà.
Công tác soạn thảo, xem xét và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dần dần đi
vào nền nếp, theo đúng chuẩn mực và có những đổi mới tích cực, hiệu quả cụ thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status