ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN LÊ QUANG
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước pháp quyền
Mã số: 6.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Dung HÀ NỘI – 2005
1
MỤC LỤC
Quốc hội và đại biểu Quốc hội
27
2.3
Địa vị pháp lý và tình hình hoạt động của đại biểu
Quốc hội trong giai đoạn chuyển đổi.
43
Chương 3:
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
99
3.1.
Luật hoạt động đại biểu Quốc hội
99
3.2.
Luật hoạt động Nghị trường
105
3.3.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến
việc cá thể hoá quyền năng của Quốc hội
106
3.4.
Bầu cử đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp
quyền
112
KẾT LUẬN
117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
122
hình Nhà nước pháp quyền không những chưa được định hình mà những đổi
mới trong bộ máy nhà nước hiện nay chỉ phản ánh sự thay đổi về lượng,
3
những vá víu từ các giá trị và tư duy cũ. Trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước, trách nhiệm cá nhân chưa được đề cao, cơ chế xin – cho vẫn
còn tồn tại, thói quen quản lý và hành động theo pháp luật chưa hình thành,
nguyên tắc dân chủ còn bị vi phạm, tính công khai, minh bạch thấp, tham
nhũng, nhận hối lộ tràn lan. Nếu tiếp tục duy trì một bộ máy nhà nước như
vậy thì nền kinh tế thị trường năng động, hiện đại không thể xây dựng được.
Mục tiêu phát triển đất nước đặt ra yêu cầu phải xây dựng thành công
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để hỗ trợ mạnh mẽ nền kinh tế thị
trường, thúc đẩy sự phát triển và hội nhập của xã hội. Yêu cầu đó đặt ra cho
khoa học về nhà nước và pháp luật hàng loạt các vấn đề phải đi sâu nghiên
cứu, hình thành tư duy pháp lý, quan điểm lý luận về Nhà nước pháp quyền.
Trong hàng loạt các vấn đề pháp lý đó, vấn đề nghiên cứu đại biểu Quốc hội
đang nổi lên như một vấn đề không những mang tính lý luận cấp thiết mà
còn mang tính thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu nghiêm túc, tạo cơ sở
để hình thành một tư duy mới, góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nhà
nước pháp quyền.
Hơn nữa, hoạt động đại biểu Quốc hội và mối liên hệ giữa đại biểu
với cử tri đang là một vấn đề bức xúc hiện nay. Hầu hết mọi người dân đều
không nhớ và không biết mình có người đại diện. Những cơ chế, quan niệm,
giá trị cũ kỹ và cả những mâu thuẫn nội tại của pháp luật đang cản trở sự vận
hành và phát triển của nền dân chủ đại diện.
Do vậy, đề tài “Đại biểu Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” ở nước ta là một
vấn đề có tính cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, cần được
xác định nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
phương hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội nhằm đáp
ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta. Vì vậy, luận văn sẽ
góp phần đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện, khái quát về “Đại biểu Quốc hội
trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền”.
5
3. Mục đích của đề tài và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là phân tích các đặc điểm của đại
biểu Quốc hội trong nền kinh tế tập trung, bao cấp; những yêu cầu của Nhà
nước pháp quyền đối với đại biểu Quốc hội, thực trạng các quy định của
pháp luật và hoạt động của đại biểu Quốc hội qua đó làm sáng tỏ các cơ sở
lý luận và thực tiễn của việc nâng cao địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội,
vai trò quan trọng của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn xây dựng nhà nước
pháp quyền.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích đặc điểm đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung.
+ Nhà nước pháp quyền và những yêu cầu đặt ra đối với đại biểu Quốc
hội; địa vị pháp lý và tình hình hoạt động của đại biểu Quốc hội thời
kỳ chuyển đổi.
+ Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền.
Đề tài luận văn là vấn đề rộng lớn và phức tạp, liên quan đến dân chủ,
tình hình thực hiện quyền lực chính trị, động chạm đến một số vấn đề nhạy
cảm mà khoa học pháp lý lâu nay ít đề cập đến. Do vậy trong khuôn khổ
chuyên ngành lý luận Nhà nước và pháp luật, luận văn chỉ tập trung phân
tích một số nội dung cơ bản có tính chất khái quát lý luận về đại biểu Quốc
Hội, bầu cử đại biểu Quốc Hội, tình hình hoạt động của đại biểu Quốc Hội
hiện nay và trình bày những khuyến nghị về hoàn thiện pháp luật, góp phần
nâng cao vai trò của đại biểu Quốc Hội trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta.
Chương 2: Nhà nước pháp quyền và những đòi hỏi đối với Quốc hội, đại
biểu Quốc hội.
Chương 3: Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp
quyền.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
7
8
CHƢƠNG 1:
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH HOÁ,
TẬP TRUNG
1.1. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1.1. Sự ra đời của đại biểu Quốc hội trên thế giới
Mặc dù hình thức người đại diện ra đời từ rất sớm trong lịch sử xã hội
loài người nhưng hình thức người đại biểu đại diện cho nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước lại chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ
nhất định sau bao thăng trầm của lịch sử và gắn liền với lịch sử hình thành
Quốc Hội (Nghị viện).
Khởi nguồn từ nước Anh, thời Trung cổ, lãnh thổ quốc gia bị phân
vùng cát cứ thành nhiều vùng lãnh thổ nhỏ, những vùng lãnh thổ mà người
dân sinh sống tại đó phân chia thành các nhóm xã hội – như giới quý tộc,
tăng lữ, tầng lớp địa chủ nhỏ, quan chức thành phố, thị dân. Để có kinh phí
các các cuộc đấu tranh quyền lực hay nhu cầu ăn tiêu xa xỉ của cung đình,
ngay cả các vị quốc vương chuyên quyền nhất cũng không thể đánh thuế và
bóc lột vô hạn định người dân của mình mà không tạo ra rạn nứt xã hội, tính
toán thực tế đã khiến vị quân vương triệu tập cuộc họp với những người đại
diện các nhóm xã hội để kêu gọi sự đóng góp tự nguyện vào ngân khố hoàng
1.1.2. Lịch sử ra đời của đại biểu Quốc hội nƣớc ta
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, nhân dân Việt Nam sống dưới
chế độ thực dân phong kiến. Đất nước bị chia làm ba miền: Miền bắc hưởng
chế độ bảo hộ, Miền trung chế độ phong kiến, Miền nam chế độ thuộc địa. Ở
Miền bắc và Miền trung nhân dân ta không có địa vị của người công dân mà
chỉ là thần dân của vua An Nam, là nô lệ dưới chế độ thực dân nên nhân dân
không có quyền trong việc thiết lập, tổ chức bộ máy nhà nước, do vậy,
không có cơ quan đại biểu của nhân dân. Ở miền nam, thực dân Pháp thành
lập ra một số cơ quan đại diện như hội đồng kỳ mục, hội đồng tộc biểu v.v.
nhưng những hội đồng này chỉ đại diện cho giai cấp phong kiến và tiểu tư
sản, không có thực quyền và nó cũng không phải là cơ quan đại biểu cho
toàn dân mà chỉ đại diện cho một cộng đồng nhỏ như thôn, xã.
10
Ngay trước ngày phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, với
mong muốn xây dựng một chế độ dân chủ, với quan niệm rằng một chính
quyền chính đáng phải có một cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, với
nhận thức về tầm quan trọng của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân đối
với khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh kháng chiến, ngày 16/8/1945, Hồ
Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã triệu tập Quốc dân đại hội, gồm 60 đại
biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các giai cấp, thành phần xã hội,
các tôn giáo, các dân tộc, các miền bắc trung nam của đất nước. Mặc dù đại
biểu tham gia Quốc dân đại hội không phải do bầu cử nhưng xét về tính đại
diện, thẩm quyền thì Quốc dân đại hội xứng đáng là một cơ quan đại biểu
cao nhất của nhân dân.
Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, Hồ Chí Minh, đã ra sắc lệnh số 14-SL về cuộc tổng tuyển cử đề
bầu Quốc hội. Bản sắc lệnh ghi rõ: “Chiểu theo Nghị quyết của Quốc dân
đại biểu Đại hội họp ngày 16,17/8/1945, tại Khu giải phóng, ấn định rằng
nước Việt nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa, và Chính phủ nhân dân
bầu hoặc thông qua các vị trí nhân sự chủ chốt của cơ quan hành pháp, tư
pháp. Theo quy định của Hiến pháp nước ta, Quốc Hội là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất. Các đại biểu Quốc hội bầu ra các chức danh Chủ tịch
nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án toà án nhân dân tối cao, phê chuẩn
danh sách thành viên Chính phủ. Ở một số nước, người đứng đầu cơ quan
hành pháp do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhưng Quốc Hội vẫn giữ vai trò rất
lớn về nhân sự chủ chốt của cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp.
Dưới giác độ người đại diện, đại biểu là người mang tâm tư nguyện
vọng của nhân dân vào các chính sách và pháp luật do nhà nước ban hành,
tạo sự cân bằng giữa quyền lợi của nhân dân với nhu cầu quản lý xã hội,
thay mặt nhân dân giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan công
quyền. Đại biểu với tư cách là người đại diện cho nhân dân có trách nhiệm
thường xuyên tiếp xúc với cử tri, nắm bắt, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và
những khó khăn của người dân, thông qua hoạt động tại Quốc Hội, chuyển
12
tải các tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu đó thành pháp luật thông qua quá trình
lập pháp. Mặt khác, Đại biểu Quốc hội cũng có trách nhiệm giám sát việc
thực thi pháp luật của cơ quan hành pháp, đảm bảo hoạt động của nhà nước
luôn hướng tới mục tiêu phục vụ xã hội, đặt lợi ích của người dân lên trên
hết. Để thực thi những nhiệm vụ nặng nề này, pháp luật trao cho Quốc hội
những quyền năng quan trọng như quyền lập pháp, giám sát, quyết định
nhân sự chủ chốt của các Bộ, Ngành, quyền chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm
v.v.
Với tư cách là một con người, cá nhân người đại biểu cũng mang đầy
đủ tố chất của một con người bình thường: có tình cảm, lý trí; cứng rắn và cả
sự yếu đuối; có trách nhiệm với gia đình, dòng tộc; yêu lao động nhưng cũng
có nhu cầu vui chơi, giải trí v.v. Vì vậy, cần tiếp cận người đại biểu dưới
giác độ nhân bản (bản chất người) và thực tiễn, không nên lý tưởng hoá mà
thay vào đó cần tạo ra cơ chế để giúp họ phát huy tối đa mặt tích cực, đóng
thống đó. Để thực sự gần gũi và thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri đòi
hỏi người đại biểu phải chủ động đi vào cuộc sống hàng ngày của người lao
động. Đó là những môi trường, hoàn cảnh xã hội vô cùng đa dạng, phong
phú, vừa có thể là một thế giới lam lũ của những người nông dân trên cánh
đồng, những người công nhân trong công xưởng, những xóm nghèo lao
động hoặc những buổi gặp gỡi sôi nổi với những doanh nghiệp, nhà đầu tư,
giới trí thức, sinh viên. Người đại biểu cũng cần phải tích cực tham gia các
hoạt động và phong trào xã hội trên các lĩnh vực liên quan đến cuộc sống
hàng ngày của nhân dân và việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước
như các vấn đề về nhà ở, việc làm, giáo dục, y tế, an ninh trật tự; đi dầu
trong các hoạt động từ thiện, giúp đỡ người nghèo và những tầng lớp dân cư
dễ bị tổn thương nhất do sự thay đổi chính sách của nhà nước.
Để làm được những điều đó đòi hỏi người đại biểu nhân dân phải có
được những đức tính và kỹ năng nhất định. Trước hết, người đại biểu phải
có đức tính kiên nhẫn và sự nhạy cảm của chính khách. Đa số cử tri là những
người lao động bình thường và không phải ai trong số họ cũng có khả năng
14
diễn đạt một cách tường minh những ý kiến, tâm tư, trăn trở đối với người
đại diện của mình. Trò chuyện với cử tri để hiểu họ không phải là việc dễ,
trước hết phải có lòng kiên nhẫn để có thể nghe hết những gì họ nói, khích lệ
họ đủ tự tin trình bày suy nghĩ của mình, và trong vô vàn những thông tin từ
người dân, bằng sự nhạy cảm của một chính khách để chắt lọc và xác định ra
nhu cầu, nguyện vọng, bức xúc của đại bộ phận cử tri, là cơ sở quan trọng
cho hoạt động tại nghị trường sau này. Mặt khác, ngoài sự kiên nhẫn và nhạy
cảm, người đại biểu cần phải có đức tính nhũn nhặn, hoà nhập, khả năng
giao tiếp bằng ngôn ngữ bình dân, không khoa trương, quan cách, dùng
những ngôn từ khoa học người dân không hiểu. Nói tóm lại, là người đại
diện của nhân dân, người đại biểu phải rèn luyện được cho mình phong cách
của người đại diện, một phong cách vừa dân dã, giản dị lại vừa sâu sắc, thâm
và mạnh mẽ để thực hiện quyền lực mà nhân dân giao phó.
Tuy nhiên, hai mặt trong con người đại biểu đó cũng gắn bó chặt chẽ
với nhau. Sự thành công trong vai trò người đại diện có ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng những quyết định lập pháp, giám sát, phân bổ ngân sách và
ngược lại, chỉ khi đại biểu phát huy tích cực vai trò của mình ở Quốc Hội,
đóng góp tích cực vào lợi ích của xã hội, cộng đồng, họ mới đạt được sự tín
nhiệm, tin tưởng thực sự của nhân dân, mới xứng đáng là người đại biểu của
nhân dân.
Bản chất kép đó cũng góp phần hình thành các chức năng cơ bản nhất
của Quốc hội: chức năng đại diện và chức năng lập pháp, giám sát.
1.3. ĐẶC ĐIỂM ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH
HOÁ, TẬP TRUNG
Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã tồn tại trong khoảng 30 năm,
từ năm 1954 – 1986. Đây cũng là thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh lớn giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế này
là dựa trên nền tảng sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể; quản lý tập trung các
hoạt động kinh tế – xã hội thông qua kế hoạch, bằng phương pháp mệnh
lệnh hành chính. Nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã có những đóng góp
16
quan trọng trong việc huy động các nguồn lực đáp ứng nhu cầu chiến tranh
và cơ bản phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội thời chiến. Tính chất, đặc
điểm của nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quyết định các yếu tố của
thượng tầng kiến trúc chính trị, trong đó có Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
Địa vị pháp lý và hoạt động của đại biểu Quốc hội trong thời kỳ này mang
dấu ấn sâu sắc của chế độ kinh tế kế hoạch hoá, tập trung.
Phân tích địa vị pháp lý và thực tiễn hoạt động của đại biểu Quốc hội
trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung ở nước ta cho thấy: đại biểu Quốc
hội chưa khẳng định được vai trò trung tâm của nền dân chủ, là người đại
diện nhân dân thực hiện quyền lực tối cao của Nhà nước, đóng góp tích cực
lợi ích cộng đồng với lợi ích nhà nước không được phân định rạch ròi.
Những yếu tố trên cũng góp phần làm giảm vai trò của người đại diện.
+ Ngoài ra, bối cảnh chiến tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đặt
ra yêu cầu phải có một Quốc hội với đầy đủ đại diện cho các thành phần dân
tộc, tôn giáo, vùng miền. Tính đại diện do vậy được nhấn mạnh, năng lực đại
biểu, chất lượng hoạt động chưa được đề cao.
Vai trò mờ nhạt của đại biểu Quốc hội đối với quá trình phát triển
kinh tế và hoạt động của bộ máy nhà nước đã ảnh hưởng đến địa vị pháp lý
của đại biểu Quốc hội. Mặc dù, Hiến pháp và pháp luật đã quy định về các
quyền và nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội, nhưng do thiếu vắng những quy
định của pháp luật về cơ chế, trình tự, thủ tục thực hiện các quyền năng nên
sự tồn tại của chúng mang tính hình thức. Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc
hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung được khái quát ở những đặc
điểm sau đây:
1.3.1. Pháp luật đã bƣớc đầu quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
đại biểu Quốc hội và Quốc hội. Các quyền này gồm: quyền lập pháp,
quyền giám sát, quyền chất vấn, quyền quyết định các vấn đề quan trọng của
Nhà nước (bầu, miễn nhiệm các chức danh chủ chốt của Nhà nước, quyết
định ngân sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, chính sách tài chính,
18
chính sách dân tộc, tôn giáo, đối nội, đối ngoại), quyền miễn trừ, nghĩa vụ
tiếp xúc cử tri.
1.3.2. Pháp luật thời kỳ này chƣa có các quy định về cơ chế, trình tự,
thủ tục thực hiện các quyền năng cơ bản trên. Mặc dù quy định về quyền
lập pháp nhưng pháp luật thiếu những quy định cụ thể về quy trình lập pháp,
quyền của đại biểu Quốc hội trong việc nêu sáng kiến pháp luật, trình dự án
luật ra trước Quốc hội, trình tự, thủ tục xem xét, phản biện dự luật v.v.
Tương tự như vậy, về nhóm quyền giám sát, thiếu những quy định cụ thể về
trình tự, thủ tục chất vấn, trách nhiệm người trả lời chất vấn, quyền bỏ phiếu
điều kiện vật chất cho hoạt động của đại biểu Quốc hội hầu như không có.
Các đại biểu chỉ được nhận một khoản trợ cấp mang tính hình thức cho hoạt
động đại biểu. Ngoài ra, các quy định đảm bảo điều kiện thông tin cho các
đại biểu Quốc hội hoạt động cũng rất nghèo nàn. Các đại biểu chủ yếu chỉ
dựa vào thông tin, báo cáo giải trình của cơ quan hành pháp khi trình một dự
thảo luật, nghị quyết ra trước Quốc hội. Trong bối cảnh như vậy, pháp luật
đã đưa ra giải pháp tình thế là thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội
để làm công tác giúp việc tập trung, giúp các đại biểu trong hoạt động tại địa
phương. Văn phòng này có chức năng tham mưu và tổ chức phục vụ mọi
hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội. Văn phòng có trụ sở riêng, con dấu
riêng, kinh phí hoạt động được trích từ nguồn kinh phí hoạt động của Đoàn
đại biểu Quốc hội.
1.3.5. Trong điều kiện Quốc hội hoạt động không thường xuyên và hầu hết
đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội
(Ban thường trực, Hội đồng nhà nước) được thành lập để thay mặt Quốc
hội giải quyết công việc trong thời gian Quốc hội không họp. Uỷ ban
thường vụ Quốc hội được pháp luật trao cho những quyền hạn rất lớn, gần
như một Quốc hội thu nhỏ, trong đó có các quyền như ban hành pháp lệnh,
giải thích pháp luật, quyết định trưng cầu dân ý; sửa đổi, bãi bỏ các quyết
định của Chính phủ trái Hiến pháp; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định bổ nhiệm,
20
miễn nhiệm Phó Thủ tướng, các thành viên của Chính phủ trong thời gian
Quốc hội không họp; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; quyết định tổng
động viên, giới nghiêm v.v.
1.3.6. Chế định bầu cử đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trungđƣợc thiết kế theo hƣớng để đảm bảo cơ cấu, thành phần Quốc
hội. Quốc hội phải bao gồm một tỷ lệ hợp lý các thành viên đại diện cho các
thành phần trong xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo. Hoạt động bầu cử do
điểm của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung được
thể hiện ở các mục 1,2,3 của Chương 1, chúng ta có thể đi đến những kết
luận sau đây:
1. Đại biểu Quốc hội là người được nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử,
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân
thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội. Đại biểu Quốc hội mang một
bản chất kép, vừa là người của nhân dân, hoà đồng với thực tế xã hội, cảm
thông, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, vừa là một thành viên
của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – Quốc hội. Hoạt động của đại
biểu Quốc hội giúp chuyển giao ý chí, quyền lực từ hàng triệu con tim, khối
óc cử tri trở thành quyền lực của nhà nước, tạo ra bản chất của dân, do dân,
vì dân của nhà nước.
2. Đại biểu Quốc hội nước ta ra đời trong cuộc kháng chiến giành độc
lập dân tộc. Ngay từ khi ra đời, đại biểu Quốc hội nước ta đã là người đại
diện cho nhân dân cả nước, do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra qua bầu cử phổ
thông. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được
Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9/11/2005 đã ghi nhận các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của đại biểu Quốc hội.
3. Ngay sau khi giành được độc lập, đất nước lại trải qua hai cuộc chiến
tranh khốc liệt. Trong 20 năm chiến tranh và 10 năm sau đó, chúng ta áp
dụng mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung để phát triển kinh tế xã
hội. Nền kinh tế này đã phát huy mặt tích cực, đặc biệt là trong thời chiến,
tạo điều kiện tập trung và huy động mọi nguồn lực phục vụ nhiệm vụ ưu tiên
22
số 1 là giải phóng đất nước. Tuy nhiên, nền kinh tế này với những đặc thù
của nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,
trong đó có Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội trong nền
kinh tế kế hoạch hoá, tập trung có ít việc để làm, hoạt động hình thức, vai trò
mờ nhạt. Đặc điểm cơ bản của đại biểu Quốc hội thời kỳ này là:
24
CHƢƠNG 2
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG ĐÒI HỎI ĐỐI VỚI
QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Nếu cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã có những đóng góp tích
cực trong thời chiến, thì cơ chế thị trường là lựa chọn đúng đắn để thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời bình. Kinh tế thị trường
với những quy luật (giá trị, cung cầu, cạnh tranh) và giá trị (tự do kinh
doanh, khích lệ tính năng động, sáng tạo, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế) đã
mở ra một không gian lớn cho các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, hiệp hội
phát huy hết khả năng của mình trong lao động, tạo ra nhiều của cải ngày
càng đa dạng cho xã hội, thúc đẩy sự thịnh vượng.
Trong bối cảnh đó, mô hình nhà nước tập trung quyền lực và can thiệp
sâu vào đời sống kinh tế xã hội bằng mệnh lệnh hành chính không còn phù
hợp nữa. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tìm ra một mô hình Nhà nước
phù hợp để không chỉ thực hiện chức năng duy trì trật tự và công bằng xã
hội, mà còn phát huy các giá trị tích cực của kinh tế thị trường, thúc đẩy
thịnh vượng xã hội.
2.1. NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN
2.1.1. Các đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền
Trong lịch sử đã tồn tại nhiều mô hình nhà nước: Từ những bộ lạc
mông muội đến những nhà nước dã man như nhà nước chiếm hữu nô lệ,
những đế chế tập quyền liên tục mở rộng biên giới lãnh thổ bằng bạo lực và
nô dịch các dân tộc khác, mô hình nhà nước phong kiến, nhà nước cộng hoà
v.v. Nhà nước pháp quyền và học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời
trong cách mạng tư sản ở Châu Âu, tuy nhiên, do đã tiếp thu và hấp thụ vào
mình nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại về xây dựng nhà nước như tư tưởng
pháp quyền, phân chia quyền lực, dân chủ, nhân đạo, công bằng, bảo vệ