VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ HẠNH
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI 2013
2
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TSKH. Lương Đình Hải
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Ngọc Long
Phản biện 2: PGS.TS. Đỗ Thị Hòa Hới
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Linh Khiếu
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại
Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
vào hồi……… ….giờ…………phút, ngày………tháng……….năm………………
Có thể tìm luận án tại thư viện Học Viện KHXH, thư viện Quốc gia.
3
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Hoàng Thị Hạnh (2007), “Quan niệm Mác-Lênin về quyền lực chính trị của nhà nước”,
Thông tin chính trị học, số 4 (35).
2. Hoàng Thị Hạnh (2008), “Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học
khẩu, đầu tư hợp tác làm ăn với nước ngoài, v.v Thực tế đó, đòi hỏi hệ thống pháp luật
Việt Nam phải nhanh chóng hoàn thiện nhằm bảo vệ và ngăn chặn những vấn đề phát sinh
trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng như giao lưu văn hoá, chuyển giao khoa
học - công nghệ, dân chủ hóa toàn diện đời sống xã hội hiện nay, đòi hỏi các quốc gia phải
có những quy định pháp lý chung, những chế tài pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ
quốc tế. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải cấp thiết xây dựng bộ máy hoàn thiện, trong sạch,
vững mạnh, hoạt động có hiệu quả theo hướng lấy pháp luật làm phương tiện quản lý kinh
tế - xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Xây dựng nhà nước pháp quyền là quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp phải có sự
chuẩn bị cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Hơn nữa, Việt Nam tiến hành xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh chưa có tiền lệ, nên sự việc càng trở
nên khó khăn hơn, đòi hỏi các nhà lý luận phải nghiên cứu đời sống thực tế, phân tích
phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội. Qua đó, vạch ra lộ trình, tìm bước đi thích
hợp, xây dựng những giải pháp nhằm tư vấn cho Đảng và nhà nước từng bước hoàn thiện
lý luận, đẩy nhanh tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vì những lý trên, chúng tôi chọn Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm đề tài luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là phân tích, làm rõ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên các
phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, trên cơ sở đó, nêu những giải pháp chủ
5
yếu, phù hợp, nhằm góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
` - Để đạt mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ cơ bản:
+ Làm rõ nội hàm các khái niệm nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một số vấn đề lý luận cơ bản về
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
nhà nước và pháp luật.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án
gồm 4 chương, 12 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Vấn đề nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
thu hút sự quan tâm của các nhà lý luận Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây. Các
tài liệu về vấn đề này xuất hiện ngày càng nhiều với số lượng lớn. Qua nội dung các công
trình, chúng tôi tổng quan thành những vấn đề:
1.1. NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA
Mảng nghiên cứu vấn đề theo hướng nêu tính tất yếu, phân tích tiền đề lý luận, cơ
sở thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Đề tài KX 04.01:
“Cơ sở lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân” do GS.VS. Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm đã khái quát lịch sử hình thành và phát
triển của học thuyết nhà nước pháp quyền; nêu những khái niệm, những đặc trưng cơ bản
và chức năng, lý giải các yếu tố quy định và chi phối quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Các tác giả, Lê Minh Quân trong cuốn Xây dựng Nhà
nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
7
ở Việt Nam hiện nay, (Nxb. Chính trị quốc gia, 2003), Trần Hậu Thành trong Cơ sở lý
luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, (Nxb. Lý luận chính trị, 2005), đã trình bày tổng quát cơ sở lý luận, điều
kiện thực tiễn, tính cấp thiết xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mảng nghiên cứu lý luận chung về nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Công trình do Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa
(đồng chủ biên), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới, (Nxb. Chính trị quốc gia, 2006) đã đề xuất những phương án về việc đổi mới: 1)
Hoạt động lập pháp của Quốc hội; 2) Hoạt động hành pháp của Chính phủ; 3) Tổ chức và
của Lương Việt Hải: 1) Hiện đại hóa tăng tốc - con đường của các nước đang phát triển
(Tạp chí Triết học, số 6, 1998), 2) Hiện đại hóa xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
(Nxb. Khoa học xã hội, 2001). Theo tác giả, Việt Nam muốn phát triển thì không còn sự
lựa chọn nào khác là phải đi theo con đường hiện đại hóa. Hai tác giả Đỗ Hoài Nam, Trần
Đình Thiên, trong cuốn Mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 2009) đã phân tích vấn đề từ góc độ hiệu
quả kinh tế của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2. XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Liên quan đến vấn đề điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có thể tìm thấy trong luận án tiến sĩ triết học của Đào Ngọc Tuấn: Tính phổ biến
và điều kiện trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam (Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2002). Luận án đã nêu lên một số tính phổ biến trong việc
xây dựng nhà nước pháp quyền như: 1) Tính tối cao của pháp luật. 2) Cơ chế phân công
quyền lực trong sự chế ước lẫn nhau. 3) Sự hiện diện của nền dân chủ. 4) Tôn trọng nhân
quyền. 5) Thực hiện tận tâm các cam kết quốc tế.
Mai Thị Thanh trong Luận án tiến sĩ: “Vấn đề hình thức của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, 2011) đã phân tích một số nhân tố quy định điều kiện của việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như: 1) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được xây dựng trên cơ sở thực hiện sự chuyển biến dần từ nhà nước dân chủ
9
nhân dân lên. 2) Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nhưng số lượng và
chất lượng còn bất cập. 3) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa tồn tại trên cơ sở
kinh tế của chính nó. 4) Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện
trình độ dân trí còn bất cập. 5) Xây dựng Nhà nước pháp quyền trong chế độ một Đảng.
Nghiên cứu về những vấn đề đặt ra của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam chúng ta có thể tìm thấy trong các tài liệu: 1) Đoàn Trọng Truyến,
Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, (Nxb. Tư pháp 2006). 2) Đào Trí Úc, Những luận cứ khoa học của việc hoàn thiện
bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa,
2.1. NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA NÓ
2.1.1. Một số quan niệm về nhà nước pháp quyền
Nhóm tác giả công trình KX.04.01 cho rằng, “nhà nước pháp quyền không phải là
một kiểu nhà nước. Đó là một nhà nước vận hành trong môi trường pháp luật, coi pháp
luật là tối thượng, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một phương thức thực hiện
quyền lực nhà nước, một cách thức tổ chức nền dân chủ”. GS.TSKH. Đào Trí Úc viết:
“Nhà nước pháp quyền là một khái niệm có thể được hiểu ở hai mức độ, với tính cách là
học thuyết, là tư tưởng và với tính cách là thực tiễn tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước,
thực thi dân chủ”. GS.TS. Đoàn Trọng Truyến cho rằng: “Nhà nước pháp quyền là một
nhà nước dân chủ, tự đặt mình dưới pháp luật, được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo
pháp luật và quản lý bằng pháp luật ”. Theo PGS. TSKH Lương Đình Hải, “nhà nước
pháp quyền là nhà nước trong đó nguyên tắc pháp luật giữ địa vị tối cao được tuân thủ
tuyệt đối. Pháp luật được xây dựng trên nền tảng các quyền thiêng liêng của con người,
nhằm bảo vệ các quyền đó và luôn giữ địa vị tối cao trong toàn bộ đời sống xã hội”.
Theo chúng tôi, quan điểm của nhóm tác giả công trình KX.04.01 về nhà nước pháp
quyền là phù hợp nhất. Do vậy, chúng tôi lấy đây làm khái niệm công cụ để nghiên cứu
các chương tiếp theo của luận án.
2.1.2. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền
Tổng quan quan điểm của các nhà lý luận Việt Nam, chúng tôi khái quát đặc trưng
nhà nước pháp quyền về một số điểm cơ bản như sau:
11
Trong nhà nước pháp quyền pháp luật giữ vị trí tối thượng. Trong nhà nước pháp
quyền, pháp luật do nhà nước ban hành giữ vị trí và có hiệu lực thống trị không chỉ đối với
xã hội mà đối với cả bộ máy nhà nước. Pháp luật là công cụ chế ước, kiểm tra, giám sát tổ
chức hoạt động nhà nước. Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhà nước,
là công cụ duy trì tồn tại và phát triển nhà nước, pháp luật đồng thời là công cụ bảo vệ nhà
nước, trấn áp những lực lượng đi ngược lại lợi ích nhà nước. Trong nhà nước pháp quyền,
nhà nước khó có thể tồn tại trên hoặc ngoài pháp luật.
Nhà nước pháp quyền bảo đảm nguyên tắc tam quyền phân lập. Các nhà lý luận tư
sản cho rằng, tiêu chí cơ bản để phân định nhà nước pháp quyền với các hình thức nhà
nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng
pháp luật”.
Từ Văn kiện lịch sử này, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã chủ nghĩa ở
Việt Nam trở thành chủ trương có tầm chiến lược, bao trùm mọi hoạt động của Đảng, nhà
nước và các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng Sản
Việt Nam lần thứ IX (2001) xác định, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng
Cộng Sản Việt Nam khẳng định: “Đẩy mạnh công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa trên các mặt”. Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
đã bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong
đó nhấn mạnh: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất”.
2.2.2. Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc quan điểm của các nhà lý luận, chúng tôi cho rằng,
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang đầy đủ những đặc trưng chung
của nhà nước pháp quyền như thượng tôn pháp luật, tôn trọng quyền công dân và nhân
quyền, xây dựng trên nền tảng xã hội dân sự và kinh tế thị trường, bảo đảm thực hiện các
cam kết quốc tế. Những đặc trưng này hiện diện trong mọi nhà nước pháp quyền, không
13
phân biệt thể chế chính trị. Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên nhà
nước pháp quyền Việt Nam có những đặc trưng riêng. Chúng tôi khái quát những đặc
trưng riêng đó về ba điểm cơ bản sau:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh
đạo: Kể từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn giữ vai trò lãnh đạo đất
nước. Trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải phát huy được vai trò và trách nhiệm của mình. Tuy
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế - xã hội từ một nền sản xuất chủ yếu dựa trên
lao động thủ công là chính sang một nền sản xuất dựa trên lao động kết hợp cùng với
phương tiện, phương pháp công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao
động cao. Ở Việt Nam, việc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa là một chủ trương đúng đắn mang tính sáng tạo có tầm chiến lược của Đảng
Cộng Sản Việt Nam. Chủ trương này phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Việt Nam cũng như
xu thế phát triển chung của thời đại.
Để bù đắp những gì còn thiếu hụt do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng cơ
sở vật chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra chủ trương
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mệnh
lệnh cấp thiết của cuộc sống hiện đại, là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ tiến lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhiệm vụ này cần phải được thực hiện song song với những
nhiệm vụ khác như xây dựng nhà nước pháp quyền, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
Trong đó, xây dựng nhà nước pháp quyền là then chốt để đảm bảo đẩy nhanh tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nước Việt Nam theo hướng hiện đại.
2.3.2. Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Kinh nghiệm các nước tư bản phát triển đã trải qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa
cho thấy, con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải qua nhiều khúc quanh, đôi lúc,
đôi nơi phải trả giá khá đắt về kinh tế - xã hội như: Các vấn đề đền bù, giải tỏa đất đai, ô
nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, xóa bỏ thói quen, tâm
lý tiểu nông. Vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề, hướng nghiệp và sắp
15
xếp công ăn việc làm cho bộ phận lao động trẻ đang ngày càng gia tăng. Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn làm phát sinh vấn đề giao thông, nhà ở, dịch vụ xã
hội và sinh hoạt văn hóa tinh thần trong không gian đô thị. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đã, đang và sẽ thu hút nhiều người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống và một bộ phận Việt
kiều về nước đầu tư, làm phát sinh nhiều vấn đề mới như nhập quốc tịch cho người nước
ngoài và người Việt đã có quốc tịch nước ngoài muốn làm công dân Việt Nam.
Việc chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không những là một cuộc cách mạng về
phương diện kinh tế mà còn là một cuộc cách mạng về phương diện pháp luật. Cuộc cách
mạng này có ý nghĩa làm thay đổi tư duy pháp lý và văn hoá pháp luật của xã hội Việt
Nam, đòi hỏi pháp luật nhà nước thay đổi về cả hình thức và nội dung, cả số lượng và chất
lượng, cả cách lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước
chuyển tư duy pháp lý từ hình thức bao cấp sang hình thức tư duy pháp lý thị trường.
Nước ta mới bắt đầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trình
độ phân công lao động xã hội còn thấp, cơ cấu xã hội mới đang hình thành nhưng chưa
định hình hẳn, cần có sự điều chỉnh pháp lý. Điều này vẫn còn ảnh hưởng nhiều và lâu dài
đến quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3.1.2. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dựa trên chế
độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu có sự kết hợp với các hình thức sở hữu
khác
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đụng chạm đến vấn đề sở hữu, mà nhạy cảm
nhất là sở hữu đất đai, vì đất đai là đối tượng chính để trên đó xây dựng mặt bằng cho các
khu công nghiệp và dịch vụ phục vụ công nghiệp. Tình hình này đòi hỏi hệ thống văn bản
pháp lý về sở hữu nói chung, sở hữu đất đai nói riêng phải theo kịp với tiến trình biến đổi
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội. Hiện tượng các dự án treo hiện nay
đang làm lãng phí một diện tích lớn đất nông nghiệp, vậy cần một hệ thống văn bản pháp
lý để các dự án có trách nhiệm đi vào hoạt động ngay sau khi nông dân đã giao đất cho
chủ đầu tư.
17
Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam là mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng
trước pháp luật, mọi hình thức sở hữu đều được phát huy lợi thế, song từ lý luận đến thực
tiễn là cả một vấn đề nan giải. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp nhà nước thường được
ưu tiên hơn trong việc xin cấp đất để di dời hay mở rộng mặt bằng, được ưu đãi hơn trong
việc vay vốn ngân hàng, thông thoáng hơn trong cấp phép giao dịch thương mại còn các
doanh nghiệp ngoài nhà nước thì khó khăn hơn. Tình hình giao đất, giao rừng trong hoạt
kiện một Đảng cầm quyền có gì khác biệt so với trong điều kiện đa nguyên, đa đảng. Theo
quan điểm của chúng tôi, để xây dựng thành công nhà nước pháp quyền trong điều kiện
một Đảng cầm quyền thì vấn đề có ý nghĩa quan trọng đầu tiên là năng lực và phương
thức lãnh đạo của Đảng - về vấn đề này chúng tôi sẽ bàn sâu ở phần giải pháp.
3.2.2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không dựa
theo nguyên tắc tam quyền phân lập
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không tuân thủ nguyên
tắc phân chia quyền lực về mặt lý thuyết là một sáng tạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì
trong lịch sử nhân loại việc làm này chưa có tiền lệ. Song về mặt thực tiễn thì việc làm này
cũng gây khó khăn không nhỏ cho tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền. Thực tế hoạt
động của bộ máy Nhà nước Việt Nam trong gần bảy thập kỷ qua cho thấy, nguyên tắc thống
nhất quyền lực có những ưu thế như tạo nên sự đồng thuận, nhất trí cao khi bàn luận mọi
vấn đề, nhất là những vấn đề có liên quan đến bỏ phiếu. Nhưng nếu tuyệt đối hóa nguyên
tắc này thì cũng dễ dẫn đến nguy cơ nhà nước có những quyết sách không phù hợp với thực
tế. Bởi vì, do thiếu sự tranh luận và hoạt động độc lập giữa ba cơ quan nhà nước mà có một
số quyết sách, một số dự án có tầm cỡ quốc gia được thông qua mà tính hiệu quả chưa cao.
Tình hình này đòi hỏi các nhà lý luận Việt Nam cần có những tổng kết thực tiễn, những
nghiên cứu lý luận thật sự kỹ càng và rút ra những bài học thành công cũng như những
điểm còn hạn chế trong quá trình thực hiện nguyên tắc này.
3.2.3. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sự
chuyển đổi hình thức nhà nước
Từ khi thành lập đến nay, Nhà nước Việt Nam đã bốn lần thay đổi hình thức, từ nhà
nước dân chủ nhân dân lên nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước chuyên chính vô sản, nhà
nước của dân, do dân, vì dân và nay là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc thay
19
đổi hình thức nhà nước thực chất là điều chỉnh về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của nhà
nước. Nếu trước đây nhấn mạnh và tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân
thì hiện nay đề cao nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm
chủ”. Nếu trước đây quản lý kinh tế, xã hội bằng nghị quyết, chủ trương của Đảng thì nay
vai trò của pháp luật được đề cao.
pháp luật nhà nước. Các nhà soạn luật không cần phải can thiệp sâu vào đời sống cộng
đồng với những quy phạm pháp luật quá chi tiết, quá cụ thể. Hương ước và Luật tục là cơ
sở cho việc soạn thảo pháp luật. Hương ước, Luật tục đồng thời cũng là một trong những
lực cản không nhỏ trên bước đường xây dựng nhà nước pháp quyền, có thể làm phức tạp
hóa và làm chậm lại tiến trình này. Nếu tuyệt đối hóa vai trò điều chỉnh và đánh giá quan
hệ xã hội của các văn bản truyền thống làng xã thì pháp luật nhà nước có nguy cơ bị đẩy
xuống hàng thứ yếu.
Ngoài sự tác động của Hương ước và Luật tục, văn hóa làng xã còn là tiền đề thực
tiễn tạo nên trong tâm thức người Việt lối sống coi trọng tình nghĩa và thái độ cả nể trong
cách giải quyết công việc hành chính nhà nước. Ảnh hưởng của thái độ cả nể trong đời
sống pháp luật là gây nên những khó khăn nhất định cho quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền.
3.3.2. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều
kiện dân trí chưa cao, chưa trải qua dân chủ tư sản
Trình độ mặt bằng dân trí chưa cao và nội dung giáo dục bất cập so với cuộc sống
và thời đại như hiện nay ở Việt Nam đang có những ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây
dựng nhà nước pháp quyền, vì dân trí là cơ sở nền tảng cho nhận thức và hành động, là hạt
nhân của nhận thức và văn hóa ứng xử với tự nhiên và cộng đồng.
Dân trí có một ý nghĩa rất lớn trong việc lập pháp, khi mọi người am hiểu cuộc
sống nói chung, pháp luật nói riêng thì họ sẽ có điều kiện và cơ hội đóng góp, bổ sung
những nội dung của pháp luật nhà nước. Dân trí là điều kiện thực thi pháp luật, bởi vì
trong một xã hội có dân trí cao, người dân sẽ am hiểu pháp luật sâu rộng, từ đó hình thành
một văn hoá pháp luật cao, mà văn hóa pháp luật như đã nói chính là nền tảng cho việc
thực thi pháp luật tốt. Dân trí có tầm quan trọng trong việc bảo vệ và giám sát pháp luật.
21
Khi trình độ dân trí của xã hội cao, người dân sẽ có nhu cầu tự thân tìm đến pháp luật, đọc
và am hiểu về quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Do vậy, họ sẽ tự bảo vệ mình về
phương diện pháp luật cũng như tham gia bảo vệ pháp luật của nhà nước.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm thực sự vấn đề
dân chủ. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống Việt Nam hiện nay, đôi lúc, đôi nơi nhiều hiện
Chương 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
4.1. NHỮNG GIẢI PHÁP KINH TẾ
4.1.1. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trước hết phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nhất là
nguồn lực con người. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề
quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn
định kinh tế vĩ mô. Muốn vậy, trước hết cần đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp
bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định
đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ. Đặc biệt, coi trọng phát triển đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao
động lành nghề và cán bộ khoa học - công nghệ đầu đàn.
Thứ hai, phải tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần, coi các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong các thành phần kinh tế thì kinh tế nhà nước phải là thành
phần quan trọng và là công cụ định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Doanh
nghiệp nhà nước phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu
gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật.
Thứ ba, tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước, giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường. Nhà nước phải tạo môi trường
23
pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển;
bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, kết hợp với sử dụng lực lượng vật
chất của nhà nước để định hướng phát triển kinh tế - xã hội, khai thác hợp lý các nguồn
lực, bảo đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập; kiểm tra, thanh tra hoạt động
kinh doanh theo quy định pháp luật, chống các hiện tượng buôn lậu, gian lận thương mại.
nhà nước. Và điều có ý nghĩa quyết định là đổi mới việc tuyển chọn nhân sự trong bộ máy
nhà nước. Những đảng viên được lựa chọn đảm nhận các chức vụ quan trong trong bộ máy
nhà nước phải thực sự là những người có tài, có đức.
4.2.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật hiệu quả,
hoàn thiện lý luận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để hoàn thiện hệ thống pháp luật cần đổi mới cơ cấu và phương thức hoạt động của
cơ quan lập pháp như xoá bỏ tính chất hoạt động nghiệp dư của Quốc hội, tăng số lượng
đại biểu quốc hội chuyên trách, giảm đại biểu kiêm nhiệm. Nâng cao hiệu quả và phương
pháp làm việc của Quốc hội trong các kỳ họp, phiên họp. Tạo điều kiện cho đại biểu quốc
hội tiếp xúc trực tiếp với nhân dân thường xuyên.
Có một hệ thống pháp luật hoàn thiện mới chỉ là điều kiện cần, muốn pháp luật đi
vào đời sống thì cần tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả. Muốn tổ chức thực hiện
pháp luật có hiệu quả, trước hết phấn đấu xây dựng một chính phủ trong sạch, vững mạnh,
có cơ cấu gọn nhẹ, đa năng, hoạt động hiệu lực và hiệu quả. Để làm được việc này, cần
phải: Bảo đảm một nền hành chính vững mạnh về nghiệp vụ, trong sạch về phẩm chất, có
lập trường và bản lĩnh chính trị; Khắc phục bệnh quan liêu, cửa quyền; Hiện thực hóa ý
tưởng về một chính phủ điện tử. Việc thực thi pháp luật liên quan chặt chẽ với công tác tư
pháp, vì tư pháp là khâu cuối cùng bảo đảm tính hiệu lực và nghiêm minh của pháp luật.
Tổ chức thực hiện pháp luật là khâu có ý nghĩa quyết định tính hiệu lực và hiệu quả
của pháp luật, nhất là trong điều kiện đặc thù Việt Nam không chấp nhận tam quyền phân
lập nên không có sự kiểm soát lẫn nhau giữa ba cơ quan quyền lực nhà nước.
Trong xu thế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, việc hoàn thiện một
hệ thống luật pháp và tổ chức thực hiện pháp luật hiệu quả là việc làm có ý nghĩa thực tiễn
quan trọng, là tiền đề cơ bản để đi tới một xã hội sống và làm việc theo pháp luật.
25
4.2.3. Phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội
Để phát huy quyền dân chủ của nhân dân, tham gia tích cực vào công cuộc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội cần được đổi mới theo hướng: Đoàn kết tất cả mọi người thuộc các giai
cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam trong nước và Việt kiều lấy