Tài liệu TIỂU LUẬN: MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUA VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XI CỦA ĐẢNG doc - Pdf 10



TIỂU LUẬN:

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM QUA VĂN KIỆN ĐẠI
HỘI XI CỦA ĐẢNG Khẳng định bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Đại hội XI, trong bài viết này,
tác giả đã đưa ra và phân tích những điểm mới ấy. Đó là: 1, Về các đặc trưng cơ
bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; 2, Thực tiễn quá trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong những năm đổi mới vừa qua;
3, Những giải pháp cụ thể cần triển khai thực hiện nhằm đẩy mạnh công cuộc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Từ ngày 12/1/2011 đến ngày 19/1/2011, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông qua nhiều văn
kiện quan trọng, như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

nhân dân. Trong Văn kiện Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: “Nhà nước ta là công
cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật”(1). Từ Nghị quyết Đại hội IX, tại
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) đã ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(2). Trong
Văn kiện Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm
nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả
thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện thể chế kiểm
tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(3).
Từ nhận thức lý luận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp
quyền nói chung và từ thực tiễn lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua các văn kiện Đại hội của Đảng, có thể khái
quát những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
theo quan điểm của Đảng ta: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân
dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp; Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật,

dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
có sự phân công, phân cấp, đồng thời đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất của Trung
ương”(4).
So sánh với quan niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được nêu trong
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, có thể khẳng định rằng, luận điểm
được nêu trong Văn kiện Đại hội XI là luận điểm thể hiện đầy đủ và tập trung nhất
các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cái mới
của luận điểm trên thể hiện ở chỗ, Đảng ta đã nhấn mạnh rằng, chức năng của Nhà
nước là phục vụ nhân dân; khẳng định mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Nhà nước
với nhân dân, thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe
ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Hơn nữa, Nhà nước còn phải
có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân. Có thể
coi đây là sự bổ sung thêm một đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam nhằm khẳng định bản chất dân chủ thực sự của Nhà nước ta.
Thứ hai, đối chiếu giữa Báo cáo chính trị tại các Đại hội IX, Đại hội X với Báo cáo
chính trị tại Đại hội XI, chúng ta thấy rằng, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội IX,
Đảng ta chỉ dành một mục nhỏ “1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
dưới sự lãnh đạo của Đảng” ở phần “IX- Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động
của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế”(5) để nói về vấn đề xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội X, vấn
đề này được đề cập tại mục “2. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa” ở phần “XI- Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(6). Còn trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XI, Đảng ta đã dành hẳn một phần “XI- Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để chuyên bàn về vấn đề này. Điều đó cho thấy,
trước hết, về mặt hình thức trình bày, Đảng ta đã dành sự chú ý thỏa đáng và sự quan
tâm sâu sắc hơn đối với vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như nguyên nhân của
những hạn chế, khuyết điểm đó là một điểm mới trong Văn kiện Đại hội XI cần được
ghi nhận; bởi lẽ, trong các văn kiện, nghị quyết trước đây, vấn đề này hầu như chưa
được đề cập đến. Đây cũng chính là cơ sở khoa học, thực tiễn để Đảng ta đề ra những
nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp cơ bản cần triển khai nhằm đẩy mạnh quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong những năm tới.
Thứ tư, từ việc tập trung xác định rõ các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của việc xây dựng
Nhà nước đó trong thời gian qua, trong Văn kiện Đại hội XI, lần đầu tiên, Đảng ta
xác định rõ những giải pháp cụ thể cần triển khai thực hiện nhằm đẩy mạnh công
cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những giải pháp
cụ thể gồm:
1. Nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trước tiên, phải nâng cao nhận thức về các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: không chỉ là Nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, mà còn phải “bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo”; không chỉ là Nhà nước quản lý, điều
hành theo pháp luật, mà còn phải “nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà
nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương”;
không chỉ là nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà còn phải
“nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm
nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong
việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”; không chỉ là đề cao vai trò
của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, mà còn phải “tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt
các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”(10) (những chữ in nghiêng là
do tác giả nhấn mạnh). Điểm mới ở đây là, cùng với yêu cầu nâng cao nhận thức về
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI còn
chỉ ra những nhiệm vụ thiết thực, cụ thể nhằm từng bước hiện thực hóa việc xây

hướng mở rộng, tăng thêm thẩm quyền, trách nhiệm của Chủ tịch nước là một giải
pháp cần được tính đến.
Thứ tư, “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh; có hiệu lực, hiệu quả;
tổ chức tinh gọn và hợp lý; tăng tính dân chủ và pháp quyền trong điều hành của
Chính phủ ”. Chính phủ là cơ quan hành pháp nên có vai trò quan trọng hàng đầu
trong hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Năng lực của chính phủ,
của từng thành viên chính phủ trong việc dự báo, ứng phó, giải quyết nhanh chóng,
kịp thời, đúng pháp luật những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh,
quốc phòng mới nảy sinh sẽ là điểm mấu chốt trong thực hiện giải pháp này.
Thứ năm, “đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và
bãi bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân ”. Thực tế cho
thấy, dù đã thúc đẩy mạnh mẽ, quyết liệt tiến trình cải cách hành chính, trong đó có
các thủ tục hành chính; song, kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng sự mong đợi của
nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang
đặt ra đòi hỏi phải chuyển hoàn toàn từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính vì
dân, phục vụ nhân dân.
Thứ sáu, “đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây
dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ
quyền con người ”. Đối với nội dung này, Văn kiện Đại hội XI nêu ra một loạt vấn
đề cần tập trung làm tốt hơn trong thời gian tới, như hoàn thiện tổ chức bộ máy các
cơ quan tư pháp; đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan,
tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp; đổi mới hệ thống tổ chức
và hoạt động của các cơ quan tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra; nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp
Thứ bảy, “tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương ”(11);
trong đó, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân các cấp phải là vấn đề được chú trọng hàng đầu; đồng thời, tiếp tục

tách riêng vấn đề này và đặt nó là một trong bốn nội dung gắn liền với việc đẩy mạnh
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứng tỏ rằng, Đảng ta
đã và đang hết sức coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong tiến trình
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng,
lãng phí
Nhận thức một cách sâu sắc những tác hại nghiêm trọng mà nạn tham nhũng gây ra
đối với sự tồn vong của một chính thể, đang thực sự là nguy cơ đối với công cuộc đổi
mới, xây dựng, phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã phát động cuộc chiến chống tham nhũng. Vấn đề đấu tranh chống tham nhũng đã được Đảng ta đề cập
trong các văn kiện Đại hội IX và X, nhưng không trực tiếp gắn liền với vấn đề xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nay, trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng
ta coi việc tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham
nhũng, lãng phí là một trong những nội dung không thể thiếu của việc đẩy mạnh xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng là một điểm mới
và hoàn toàn hợp lý; bởi lẽ, tham nhũng được coi là một thứ “quốc nạn”, một thứ
“giặc nội xâm”, gây phương hại đến tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa. “Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ
vừa cấp bách, vừa lâu dài”(13) trong quá trình đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tóm lại, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ trương,
đường lối có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, xuất phát từ đòi hỏi tất yếu,
khách quan của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước. Nhận thức, quan điểm của
Đảng ta về các đặc trưng cơ bản, về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hình thành, phát triển và
hoàn thiện dần qua các văn kiện, nghị quyết của Đảng. Trong Văn kiện Đại hội XI
chứa đựng nhiều điểm mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam cả trên phương diện hình thức trình bày, cách diễn đạt, cả trên phương diện nội

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.252.
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.252-253. CHÍNH SÁCH KINH T
Ế MỚI CỦA V.I.LÊNIN VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯ
ỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA CỦA ĐẢNG TA

VŨ TRỌNG DUNG (*)

Đưa ra và luận giải những nội dung căn bản trong chính sách kinh tế mới của
V.I.Lênin, đồng thời chỉ rõ ý nghĩa to lớn của nó không chỉ đối với công cuộc khôi
phục và phát triển kinh tế ở nước Nga Xôviết đầu những năm 20 của thế kỷ XX, mà
còn đối với công cuộc phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm đổi mới, tác giả đã khẳng định chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã đề ra trên tinh thần vận dụng sáng tạo chính sách kinh
tế mới của V.I.Lênin là đúng đắn và cần thiết để đưa nền kinh tế nước ta từng bước
tiến lên.

Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin được ban hành và áp dụng ở nước Nga
Xôviết cách đây đã chín mươi năm. Qua mỗi bước thăng trầm của lịch sử, bản chất
cách mạng và sáng tạo của nó lại một lần nữa được khẳng định.
Chúng ta đều biết, thời kỳ sau Cách mạng Tháng Mười, nước Nga Xôviết đã phải trải
qua một chặng đường phát triển đầy mâu thuẫn và phức tạp. Tháng 2 năm 1921,
V.I.Lênin đã xác định nhiệm vụ cho nước Nga Xôviết như sau: “Trong một số vấn đề

hội chủ nghĩa; và nếu chúng tôi lại tỏ ra không có khả năng lùi bước, để chỉ đóng
khung trong những nhiệm vụ dễ hơn mà thôi, thì có lẽ chúng tôi đã bị nguy cơ diệt
vong rồi” (2).
ở đây, V.I.Lênin muốn nói rằng, nếu như “chủ nghĩa cộng sản thời chiến” trước đây
được rất nhiều người trong Đảng hiểu như là một chính sách cần phải được tiếp tục
trong chặng đường tiếp theo của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì thực tế đã
cho thấy, sau chiến tranh, không thể tiếp tục con đường đó, bởi nó đối lập Đảng với
quần chúng nhân dân, công nhân với nông dân và chỉ làm trầm trọng thêm nền kinh
tế vốn đã hoang tàn của đất nước.
Tháng 2 năm 1921, tại Hội nghị lần thứ XI, Đảng Cộng sản (b) Nga đã nhất trí thông
qua chính sách kinh tế mới. Đảng đã quyết định áp dụng ở nước Nga Xôviết những
biện pháp khẩn cấp, kiên quyết nhằm cải thiện tình cảnh của nông dân và phát triển
lực lượng sản xuất ở nông thôn.
Qua nhiều bài viết và nói của V.I.Lênin, chúng ta thấy rõ lúc đó ông đã thay đổi quan
điểm của mình về các thành phần kinh tế trong nước và sự tác động qua lại lẫn nhau
của chúng, về vai trò của giai cấp tư sản mới, và nhất là về vai trò của hợp tác xã và
quan hệ thị trường. Cần nhấn mạnh rằng, những quan điểm đó còn tiếp tục thay đổi
trong những tác phẩm cuối cùng của V.I.Lênin. Đối với ông, việc thay đổi đó là hoàn
toàn tự nhiên. Ông luôn vận dụng phương pháp của phép biện chứng duy vật để giải
quyết những mâu thuẫn mới nảy sinh và phát triển. Ông chỉ rõ rằng, khi tình hình đã
thay đổi thì không thể áp dụng những phương pháp cũ. Rằng, chúng ta không tránh
khỏi sai lầm khi vẫn duy trì tình trạng cả xã hội chỉ là một văn phòng và một nhà
máy cùng lao động như nhau, hưởng cùng một mức lương. Vì vậy, sau nội chiến, ông đã kịp thời thay đổi chủ trương, chuyển từ cái gọi là “chủ nghĩa cộng sản thời
chiến” sang chính sách kinh tế mới.
V.I.Lênin đã rút ra kết luận là: Trong điều kiện thực tế của nước Nga, giai cấp vô sản
đã giảm nhiều sau hai cuộc chiến tranh lại vừa mới giành chính quyền về tay, họ
không có kinh nghiệm quản lý và do vậy, không có khả năng khẳng định sở hữu xã

nghĩa xã hội, chúng ta phải hiểu những đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách
trung gian cần thiết để chuyển từ những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa
xã hội”(5). Chính chủ nghĩa tư bản cũng phải bắt đầu bằng cách ấy. Nhấn mạnh vai
trò của chủ nghĩa tư bản như là phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất,
V.I.Lênin đã kiên trì giải thích rằng, nước Nga chưa đủ sức để chuyển trực tiếp từ
tiểu sản xuất sang chủ nghĩa xã hội, và trong điều kiện như vậy, chủ nghĩa tư bản ở
một mức độ nhất định là không tránh khỏi, giống như sản phẩm tự nhiên của nền tiểu
sản xuất và trao đổi hàng hoá; nhưng nhiệm vụ trực tiếp là: “Chúng ta phải lợi dụng
chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà
nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm
phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng cường lực lượng sản
xuất lên”(6).
Đương nhiên, chủ nghĩa tư bản nhà nước đúng với nghĩa của nó không phải là giải
pháp trực tiếp đưa nền sản xuất nông nghiệp sang nền nếp xã hội chủ nghĩa. Song,
theo V.I.Lênin, ở giai đoạn phát triển này của nền kinh tế nước Nga, chủ nghĩa tư
bản có thể là chủ nghĩa tư bản đặc biệt, bởi nó tồn tại và chịu sự quản lý, điều tiết của
chính quyền Xôviết. Vì vậy, cho dù giữa hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa và chủ
nghĩa xã hội còn có sự cạnh tranh, song đó chính là động lực phát triển của lực lượng
sản xuất. V.I.Lênin nhận xét rằng, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn đóng vai trò hỗ trợ
cho chủ nghĩa xã hội và chính quyền Xôviết có được lợi ích trước mắt dưới dạng
phát triển lực lượng sản xuất và tăng khối lượng sản phẩm cho những nhu cầu thiết
yếu trong một thời gian ngắn. Đây là lý do cắt nghĩa vì sao cần sử dụng chủ nghĩa tư
bản nhà nước như một phương tiện trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Để phát triển nhanh lực lượng sản xuất ở nước Nga Xôviết trong những năm 20 của
thế kỷ XX, cần thiết phải sử dụng không những chủ nghĩa tư bản trong nước, mà cả ở
nước ngoài nữa, khi cần phải học tập kinh nghiệm của phương Tây, và nói chung, cả
kinh nghiệm của những nước phát triển. V.I.Lênin chỉ rõ: “Dùng cả hai tay mà lấy
những cái tốt của nước ngoài: Chính quyền xô viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ
sách thuế lương thực và cơ chế thị trường. Trên thực tế, thực hiện chính sách thuế lương thực không chỉ là sự thay thế việc trưng thu lương thực thừa, mà còn có nghĩa
là tự do buôn bán lúa mì thừa và các sản phẩm khác sau khi đã nộp thuế. Đây là một
chính sách thông minh và hợp lý. Bởi lẽ, thứ nhất, nó củng cố khối liên minh công
nông với tư cách nền tảng giai cấp của chủ nghĩa xã hội tương lai; thứ hai, tạo ra sự
phát triển thương mại tự do, chủ động và góp phần khôi phục toàn bộ nền kinh tế
thông qua việc hồi sinh các quan hệ tư bản tư nhân. Theo V.I.Lênin, tự do thương
mại chính là đòn bẩy phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế nông nghiệp và
tiểu công nghiệp, cũng như mở rộng cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa quan liêu
trong kinh tế. Ông viết: “Cơ sở kinh tế” của sự tiêu vong của chủ nghĩa quan liêu,
của sự tiêu vong các tầng lớp trên và tầng lớp dưới, của sự tiêu vong sự bất bình
đẳng ” là ở “việc trao đổi hàng hoá với nông dân”(10). Rằng, “kinh tế nông dân, với
tư cách là một nền kinh tế tiểu nông, không thể đứng vững được, nếu không có một
sự tự do trao đổi nào đó, và không có những quan hệ tư bản chủ nghĩa gắn liền với tự
do trao đổi đó”(11). Do vậy, theo ông, với nước Nga khi đó, thương nghiệp là
“phương sách kiểm nghiệm” đời sống kinh tế nhà nước, là “mối ghép” duy nhất, là
cái có thể liên minh đội ngũ tiên tiến của giai cấp vô sản với nông dân để từ đó, mới
có thể có sự phát triển kinh tế.
Nhờ có chính sách kinh tế mới và quá trình sản xuất nên chỉ trong vòng một năm
rưỡi nhân dân Liên Xô đã đạt được những kết quả rực rỡ, có ý nghĩa quyết định trong
kinh tế; tình cảnh của nông dân và đa số những người tiểu sản xuất đã được cải thiện;
trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ đã có sự tiến triển, không còn cảnh công nhân bất
bình; trong lĩnh vực công nghiệp nặng đã bắt đầu tích luỹ được vốn cần thiết để vực
nền công nghiệp nặng đi lên. Thế nhưng, không phải tất cả những người bônsêvích
đều ủng hộ chính sách kinh tế mới, trong dư luận xã hội vẫn còn có nhiều quan điểm
khác nhau về vấn đề này. Vì vậy, điều quan trọng là phải hiểu đúng thực chất của
chính sách kinh tế mới. Bởi lẽ, một số người cho rằng, chính sách kinh tế mới chỉ là
biện pháp nhất thời; số người khác lại coi đó chỉ là thời kỳ khôi phục kinh tế đất

VI (năm 1986), Đảng ta đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là đặc
trưng của cơ cấu kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và đưa ra chủ trương
chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế nhiều thành phần. Nếu thời kỳ trước đổi
mới, ở nước ta chỉ có một thành phần kinh tế là “thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể”, thì giờ đây, phải “bằng những
biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự
liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”(12). Đây là lúc thực tiễn đặt ra cho chúng ta cần phải nhận thức đúng đặc điểm của nền
kinh tế trong thời kỳ quá độ như V.I. Lênin đã chỉ ra là có những thành phần, những
bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện đó,
không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ bằng thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa;
nghĩa là khi đề ra đường lối kinh tế phải tính tới tất cả các thành phần kinh tế hợp
thành nền kinh tế quốc dân, không được bỏ sót một thành phần kinh tế nào. Chỉ có
như vậy, chúng ta mới khai thác được mọi tiềm năng của sản xuất, khai thác được
sức mạnh của toàn dân trong tất cả các thành phần kinh tế, mới thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển.(12).
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần đã được nêu ra từ Đại hội VI của Đảng, Đại hội X của Đảng (năm
2006) đã xác định năm thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đó là:
1. Thành phần kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà
nước (trước đây thường gọi là kinh tế quốc doanh) và các sở hữu khác của Nhà nước,
kể cả phần vốn của Nhà nước trong các đơn vị liên doanh. Đảng ta khẳng định:
“Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước
định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành
phần kinh tế cùng phát triển”(13).
2. Thành phần kinh tế tập thể. Kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã là hình
thức liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng
thành viên với sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất,

Trong định hướng lớn về phát triển kinh tế, Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức, kinh doanh và hình thức phân phối. Các
thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của
nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh
lành mạnh”(17).
Như vậy, có thể nói, quan điểm của Đảng ta về phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý
của Nhà nước chính là sự tiếp tục cuộc cách mạng trên lĩnh vực quan hệ sản xuất
trong điều kiện mới, đảm bảo thích ứng của quan hệ sản xuất với trình độ hiện có của
lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường luôn có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của
chủ nghĩa xã hội. Song, với tình hình cụ thể hiện nay của nước ta, chúng ta không có con đường nào khác là thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta phải chấp nhận ở mức độ nhất định
những quan hệ mà chúng ta đang muốn xoá bỏ, như lao động làm thuê, người bóc lột
người, bất bình đẳng, bất công, sự phân hoá giàu nghèo, nạn thất nghiệp… Song, với
chúng ta, cơ chế thị trường chỉ là phương tiện để phát triển lực lượng sản xuất chứ
không phải là mục đích cần đạt tới.
Trong hoàn cảnh đó, để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
chúng ta phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. ở đây, sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước là một tất yếu khách quan. Hiện nay, chúng ta đã có một bộ máy nhà nước
đủ mạnh và một hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện để quản lý, điều
khiển sự vận động và phát triển chung của xã hội. Bằng các biện pháp, nhất là các
biện pháp kinh tế và hệ thống luật hiện hành, Nhà nước cần chủ động điều tiết và tạo
dựng sự liên kết giữa các xu hướng khác nhau, từ đó tạo nên một động lực chung cho
sự phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. (17)
Sau 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.86-87.
(17) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.73. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN V
Ề TÔN GIÁO VÀ SỰ VẬN
DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ Đ

LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

MAI THỊ QUÝ (*)
BÙI THỊ HẰNG (**)

Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một cách khái quát quan niệm duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác – Lênin về các vấn đề nguồn gốc, bản chất và chức năng của tôn
giáo cũng như thái độ, phương hướng giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã
hội. Đồng thời, tác giả cũng phân tích sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về tôn giáo vào việc giải quyết vấn đề này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay.
1. Quan niệm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo
Nếu chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là một trong ba phát minh quan trọng nhất
của chủ nghĩa Mác, thì những quan điểm về tôn giáo là một trong những biểu hiện rõ
nét nhất lập trường duy vật về lịch sử của học thuyết này. Nó thể hiện thông qua các
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cả bản chất, nguồn gốc lẫn chức năng của
tôn giáo. Trong khi các nhà duy tâm, thần học cho rằng tôn giáo có nguồn gốc siêu
nhiên, thế giới tự nhiên, xã hội loài người cũng như toàn bộ hoạt động của mỗi cá

cách khác, tôn giáo là sự nhân cách hoá giới tự nhiên, là sự “đánh mất bản chất
người”. Chính con người đã khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên khác
với bản chất của mình để rồi từ đó con người có chỗ dựa, được chở che, an ủi - dù đó
chỉ là chỗ dựa “hư ảo”. Chỉ ra bản chất sâu xa của hiện tượng đó, Ph.Ăngghen đã
viết: “Con người vẫn chưa hiểu rằng họ đã nghiêng mình trước bản chất của chính
mình và đã thần thánh hoá nó như một bản chất xa lạ nào đó”(3). Lột tả bản chất của
tôn giáo, ông cho rằng, “tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào đầu óc
của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của
họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế mang hình thức những lực
lượng siêu trần thế” (4).
Vấn đề đặt ra ở đây là, nguyên nhân nào dẫn đến sự phản ánh “hoang đường”, “hư
ảo” của tôn giáo? Tại sao con người lại có nhu cầu tôn giáo và đặt niềm tin lớn lao
vào tôn giáo như vậy? Đứng vững trên lập trường duy vật lịch sử, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã luận giải rằng sự xuất hiện và tồn tại của tôn giáo xuất phát từ hiện
thực khách quan và nguồn gốc quan trọng nhất của tôn giáo chính là điều kiện kinh
tế – xã hội. Trong lịch sử tiến hoá của mình, trước hết con người có nhu cầu cải tạo
tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mình. Nhưng
do trình độ và khả năng cải tạo tự nhiên còn thấp kém, con người luôn cảm thấy yếu
đuối, bất lực trước các hiện tượng tự nhiên và đã gắn cho tự nhiên những sức mạnh
siêu nhiên. Đó chính là cơ sở cho sự nảy sinh các hiện tượng thờ cúng. Đặc biệt, khi
xã hội có sự phân chia và áp bức giai cấp thì các mối quan hệ xã hội càng phức tạp,
một bộ phận người dân rơi vào tình thế cùng quẫn, bất lực trước các thế lực thống trị.
Thêm vào đó, những yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, rủi ro bất ngờ nằm ngoài ý muốn
của con người gây ra cho họ sự sợ hãi, lo lắng, mất cảm giác an toàn. Đó cũng là
nguyên nhân khiến người ta tìm đến và dựa vào sự che chở của tôn giáo.
Cắt nghĩa về nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo, Ph.Ăngghen viết: “Trong
những thời kỳ đầu của lịch sử chính những lực lượng thiên nhiên là những cái trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status