TIỂU LUẬN: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ
NƯỚC TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Thực tiễn của 20 năm đổi mới ở nước ta cho thấy, việc giải quyết mối quan hệ giữa
Đảng và Nhà nước là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ này,
chúng ta cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; cần
phân định rõ chức năng giữa Đảng và Nhà nước, từng bước xác định rõ nội dung,
phạm vi, mức độ quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước;
đồng thời, tiếp tục đổi mới quá trình thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng
thành hoạt động của Nhà nước và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong

xã hội chủ nghĩa". Đây là lần đầu tiên trong Văn kiện quan trọng của Đảng chính
thức sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền và nêu cụ thể, toàn diện những quan
điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam và nó trở
thành chủ trương có tầm chiến lược, định hướng cho toàn bộ quá trình và nội dung
đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà nước.
Đại hội VIII nhấn mạnh vấn đề xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh,
trong sạch, có hiệu lực và hiệu quả và đã cụ thể hóa các nhiệm vụ xây dựng, kiện
toàn bộ máy nhà nước(2). Đặc biệt, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định và
nhấn mạnh thêm: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành
Hiến pháp và pháp luật"(3). Đại hội X của Đảng khẳng định: "Nhà nước ta là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"(4). Như vậy, có thể nói, kết quả nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của Đảng ta là quá trình không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc tinh
hoa của nhân loại, không sao chép, rập khuôn, giáo điều, mà luôn sáng tạo để vận
dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam. Và, chỉ có nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng mới là công cụ có đầy
đủ hiệu lực để quản lý sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Ở đây, cần phân biệt nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Trong lịch sử nhân loại, nhà nước pháp quyền biểu hiện dưới nhiều hình thức,
nhưng khái quát lại chỉ có hai loại: nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Loại thứ nhất trải qua mấy trăm năm lịch sử. Loại thứ hai ra
đời trong thế kỷ XX và còn rất ít kinh nghiệm tổ chức xây dựng. Những nhà nước xã
hội chủ nghĩa trước đây đã ít nhiều có tính pháp quyền, song chưa phải là nhà nước

làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện tư tưởng, đường lối
của đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà
đảng đó đại diện(6). Trong thời đại ngày nay, không có nhà nước nào, kể cả nhà
nước tư sản, nhà nước vô sản, mà không chịu sự chi phối của một đảng chính trị nhất
định.
Ở Việt Nam hiện nay, Đảng cầm quyền tức là chính quyền thuộc về nhân dân và chịu
sự lãnh đạo của Đảng. Đây không phải đơn thuần là vấn đề học thuật, từ ngữ, mà bắt
nguồn từ những nhu cầu rất cơ bản của thực tiễn cách mạng Việt Nam và của Đảng
cầm quyền. Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: "Xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng"(7). Điều đó vừa khẳng định vai trò của
Đảng đối với chính quyền và đối với toàn xã hội, vừa có ý nghĩa là phương thức lãnh
đạo của Đảng cần phải có sự thay đổi căn bản so với thời kỳ chưa giành chính quyền.
Là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội, Đảng phải chịu trách nhiệm toàn diện và cao nhất
trước nhân dân về cả sự phát triển xã hội lẫn nâng cao đời sống của nhân dân, năng
lực và phẩm chất của bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo toàn diện, tức là lãnh đạo các
cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp). Hoạt động của Nhà nước được
thực hiện ở tất cả các cấp, Đảng không chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất kỳ một lực
lượng chính trị nào. Mặt khác, Đảng phải bằng mọi cách phát huy cao nhất vai trò
của Nhà nước. Hai mặt đó là thống nhất, quan hệ biện chứng với nhau. Đảng chỉ có
thể hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo của mình khi xây dựng được Nhà nước vững mạnh,
hoạt động có hiệu lực và có hiệu quả cao, tôn trọng và hết lòng phục vụ nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Đảng phải tự đổi mới, phải xây dựng Đảng thật sự
trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, ngang tầm với nhiệm vụ
cách mạng đòi hỏi.
Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng
chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống: "Nhiều tổ chức cơ sở đảng bị tê liệt, thiếu sức
chiến đấu và không đủ năng lực lãnh đạo và chỉ đạo để giải quyết những vấn đề phức
tạp nảy sinh"(8). Không hiếm cán bộ suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức vẫn

là quá trình định hướng cho mọi khách thể, còn quản lý là quá trình tổ chức, sắp xếp,
bố trí để thực hiện sự định hướng. Quản lý là sự tiếp tục của lãnh đạo ở vòng khâu
mang tính chất cụ thể hóa và hiện thực hóa sự lãnh đạo. Nói Đảng lãnh đạo không có
nghĩa là Đảng không có chức năng quản lý, Nhà nước quản lý không có nghĩa là Nhà
nước không có lãnh đạo. Chức năng quản lý của Đảng thể hiện trong việc quản lý
trực tiếp đảng viên (nhất là đảng viên trong bộ máy nhà nước và quản lý xã hội, quản
lý đất nước), nhưng ở đây là sự quản lý gián tiếp thông qua Nhà nước và các tổ chức
chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Nói Đảng không làm thay chức năng của
Nhà nước là đúng, nhưng nói Đảng không can dự vào công việc quản lý nhà nước thì
sẽ là sự mơ hồ về chính trị. Và, trong sự lãnh đạo của Đảng có nội dung quản lý,
thông qua quản lý để lãnh đạo. Mặt khác, Nhà nước lãnh đạo xã hội thông qua việc
hoạch định kế hoạch, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội; song có thể nói, đây
là sự lãnh đạo "cấp hai" chứ không phải ở cấp cao nhất. Đó là tiếp tục sự lãnh đạo
của Đảng dưới hình thức nhà nước. Cho nên, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của
Nhà nước vừa thống nhất, vừa khác biệt; tách Đảng khỏi Nhà nước, Đảng làm thay
Nhà nước đều là sai lầm cực đoan như nhau.
Điều cần chú ý là, khác với hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa, trong hệ thống chính
trị xã hội chủ nghĩa, Đảng cầm quyền và Nhà nước đều là người đại biểu trung thành
cho lợi ích của nhân dân. Vì lẽ đó mà trong một thời gian dài, các nước xã hội chủ
nghĩa, trong đó có nước ta, ít quan tâm nghiên cứu giải quyết mối quan hệ giữa Đảng
với Nhà nước, ít chú ý phân biệt giữa Đảng và Nhà nước. Từ đó, trong thực tiễn
thường xảy ra tình trạng lẫn lộn, nhập cục Đảng với Nhà nước. Hiện tượng "Đảng
trị", Đảng "ôm quyền", lấn át chính quyền nhà nước xảy ra khá phổ biến ở các nước
xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ là lực lượng lãnh đạo, Đảng có xu hướng bị "nhà nước hóa"
thành cơ quan quyền lực, trực tiếp làm chức năng của Nhà nước. Sự lẫn lộn nhập cục
một cách chủ quan giữa chức năng của Đảng và chức năng của Nhà nước đã làm cho
Đảng yếu, Nhà nước non kém, Đảng không phát huy được chức năng vốn có của mình, còn Nhà nước rơi vào tình trạng thụ động, quan liêu, xa rời thực tế, quyền lợi
chí của nhân dân, mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện đường lối của
Đảng, cụ thể là:
- Nhà nước dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng mà xây dựng thành chính sách,
pháp lệnh để thực thi có hiệu quả chủ trương, đường lối đó.
- Nhà nước phải tuyên truyền, động viên, tổ chức mọi tầng lớp nhân dân thực hiện
chủ trương, đường lối của Đảng.
- Nhà nước phải tổng kết thực tiễn quá trình triển khai thực hiện các chủ trương,
đường lối của Đảng.
Để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, cần chú ý giải quyết các mặt sau:
Thứ nhất, cần đề cao và thực hiện nhất quán các chuẩn mực dân chủ và pháp quyền
trong Đảng, trong Nhà nước và xã hội. Hạn chế lớn nhất, từ trước đến nay, là hệ
thống tổ chức, thể chế và cơ chế quyền lực, những quy định về các biện pháp và các
điều kiện, các chế tài để kiểm tra, giám sát quyền lực không rõ ràng; đặc biệt là chế
độ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân bị xem nhẹ và suy yếu nghiêm trọng, thậm chí
thiếu vắng. Một bộ trưởng bị kỷ luật thì trách nhiệm của Chính phủ ở đâu, một vụ
trưởng tham nhũng dưới quyền bị kỷ luật thì bộ trưởng trách nhiệm đến đâu, vì sao
có những vụ tham nhũng lớn, làm thất thoát hàng ngàn tỷ đồng mà lại kéo dài nhiều
năm không được phát hiện từ chính các tổ chức Đảng, mà phải nhờ công luận và các
cơ quan thi hành pháp luật?
Để khắc phục từng bước những hạn chế trên cần phải "hoàn thiện hệ thống pháp luật,
tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn
thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và
quyết định của các cơ quan công quyền"(13). Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời Đảng hoạt động và thực hiện sự
lãnh đạo phù hợp với tinh thần pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật, không đứng
trên Nhà nước, xã hội công dân và luật pháp.
Thứ hai, nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước. Nhà nước vô sản là
nhà nước kiểu mới, "nửa nhà nước", do đó trong quá trình thực hiện, cần phân biệt rõ

nước trên tinh thần kỷ luật và đạo đức cộng sản. Chỉ có như vậy thì các nhân viên
trong bộ máy Đảng và Nhà nước mới "tự giác" đặt mọi hoạt động của mình trong tổ
chức. Tổ chức và đạo đức, tất yếu và tự do gắn chặt với nhau. Và, chỉ có tổ chức mới
có năng lực buộc người ta tự điều chỉnh trong lĩnh vực đạo đức.
Trong chủ nghĩa xã hội, người lao động hoạt động không phải chỉ với tư cách người
công dân, mà còn với tư cách người chủ tư liệu sản xuất của xã hội. Do đó, đặc điểm dân chủ xã hội chủ nghĩa là có sự thống nhất giữa quyền công dân và quyền làm chủ
xã hội của người chủ tư liệu sản xuất. "Dân là gốc", tất cả là do dân, vì dân, quyền
lực của dân là tối cao. Hoạt động của Đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo là theo xu
hướng tất yếu đó. Chính đây là điểm xuất phát cơ bản để chúng ta từng bước xây
dựng hệ thống chính trị với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra",
để Nhà nước ta thật sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, để khi con người được đặt
trong cơ chế đó thì quyền tự do dân chủ của họ được thực hiện trong thực tế. Và, chính
cơ chế đó sẽ thu hút quần chúng tham gia quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm kê,
kiểm soát số lượng lao động, sản xuất và phân phối sản phẩm.
Cùng với những vấn đề trên, cần chú ý tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ
vững kỷ luật, kỷ cương, từng bước hoàn thiện và mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, đẩy mạnh cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước
Thực tiễn cách mạng nước ta chứng tỏ rằng, sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước phụ
thuộc vào việc Nhà nước thực hiện dân chủ đến mức nào; các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước có đại diện cho lợi ích của đa số quần chúng nhân dân không;
các đại biểu trong cơ quan nhà nước có xứng đáng là "công bộc có trách nhiệm" của
dân không. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng chính là tạo ra sức mạnh tất yếu đó để Nhà nước vươn lên một tầm cao mới,
đáp ứng yêu cầu cách mạng hiện nay.r
LƯƠNG MỸ VÂN (*)
Xuất phát điểm nghiên cứu là một trong những vấn đề mà C.Mác và Ph.Ăngghen đặc
biệt chú trọng khi xây dựng học thuyết của mình. Trong “Hệ tư tưởng Đức”, khi đề
xuất quan niệm duy vật về lịch sử, các ông đã xuất phát từ con người “cá nhân hiện
thực” với tất cả những mối quan hệ, liên hệ phong phú và phức tạp của họ trong đời
sống xã hội, với hoạt động lao động sản xuất của họ và coi đó là xuất phát điểm
nghiên cứu. Với xuất phát điểm đúng đắn này, các ông không chỉ luận giải những
luận điểm khoa học về đời sống xã hội của con người, về lịch sử nhân loại và xây
dựng nên quan niệm duy vật về lịch sử, mà còn phê phán và chỉ ra những hạn chế
duy tâm, tư biện trong quan niệm của các nhà “triết học Đức hiện đại” (L.Phoiơbắc,
B.Bauơ. M.Stiếcnơ,…).

Trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành một học thuyết khoa học, vấn đề xuất
phát điểm nghiên cứu luôn là một trong những vấn đề quan trọng nhất. Với bất cứ
học thuyết khoa học nào, trong giai đoạn đầu, xuất phát điểm nghiên cứu có thể kể tới xuất phát điểm về đối tượng, về lập trường nghiên cứu (khi học thuyết khoa học
chưa được hình thành một cách đầy đủ, thì hệ thống phương pháp của học thuyết ấy
cũng chưa thể hình thành một cách hoàn chỉnh và người ta chỉ có thể nói tới lập
trường tư tưởng của nhà khoa học lúc đó mà thôi) và về mục đích nghiên cứu (cái
đích khái quát nhất mà nhà nghiên cứu hướng tới khi bước đầu tiếp cận đối tượng
nghiên cứu). Ở đây, chúng tôi không có ý định hướng sự quan tâm của mình vào việc
tìm hiểu cái gì quy định xuất phát điểm nghiên cứu này, bởi nó liên quan mật thiết
với những vấn đề thuộc phạm vi khác, như hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh phát triển của
tư tưởng và văn hóa mà các nhà nghiên cứu sống và trưởng thành trong đó, những
thiên hướng tự nhiên của họ, v.v Chúng tôi chỉ đề cập tới một khía cạnh khác – đó
là, để có thể diễn đạt một cách trực tiếp, rành mạch về xuất phát điểm nghiên cứu,
đặc biệt là xuất phát điểm về đối tượng, thì nhà nghiên cứu phải trải qua giai đoạn
xây dựng học thuyết và ít nhất cũng đã có được một sự hình dung tương đối rõ ràng

được đánh giá là một trong ba thành phần làm nên “quan điểm duy vật về lịch sử”,
tức là làm nên giá trị to lớn nhất của tác phẩm này. Và, xuất phát điểm nghiên cứu
của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Hệ tư tưởng Đức cũng là đối tượng của bài viết
này.
1. “Những cá nhân hiện thực” – xuất phát điểm nghiên cứu của C.Mác và
Ph.Ăngghen
Hệ tư tưởng Đức, xét theo tên gọi thuần túy, là một tác phẩm bút chiến, có mục đích
là phê phán các trào lưu tư tưởng đang có những tác hại đối với phong trào hiện thực
của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, để đánh đổ lý luận của các nhà tư tưởng ấy bằng
lý luận, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, cần phải phát biểu trực tiếp những quan điểm
của riêng mình và tiến hành phê phán một cách thật sự cách mạng đối với lý luận của
các nhà tư tưởng ấy, chứ không thể chỉ nói một cách đơn giản rằng “quan điểm của
các ông Phoiơbắc, B.Bauơ và Stiếcnơ là sai lầm”.
Nhìn lại lịch sử triết học, có thể thấy, ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, “con người” đã là
chủ đề được đặc biệt quan tâm. Cùng với luận điểm của Xôcrát – “con người hãy
nhận thức chính mình”, triết học đã thật sự thừa nhận “con người” là đối tượng của
sự nghiên cứu. Từ đó về sau, mọi nền triết học, mọi nhà triết học, dù đặt mối quan
tâm của mình vào bất cứ đối tượng nào, cuối cùng cũng phải kết thúc lập luận của
mình ở những nghiên cứu về con người. Nhưng, nếu chỉ nói về “con người” thì chưa
đủ. Vấn đề là con người như thế nào, con người được quan niệm như thế nào ở mỗi
trường phái, mỗi nhà triết học – khi đó, quan niệm về “con người” đã đứng trên một lập trường thế giới quan nhất định và vì thế, qua những nghiên cứu về “con người”
của các nhà triết học, người ta có thể nhận ra lập trường tư tưởng, quan niệm về thế
giới của họ và nhận ra cuộc đấu tranh giữa những tư tưởng ấy trong suốt chiều dài
lịch sử triết học.
Khi xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử – quan niệm lấy lịch sử con người làm
đối tượng, trong Hệ tư tưởng Đức, lần đầu tiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày
một cách trực tiếp về xuất phát điểm, về đối tượng nghiên cứu của mình: con người

chúng nhân dân, mà là giữa những cá nhân bình thường, hoạt động của họ và những
điều kiện sinh hoạt của họ, với xã hội, với loài của mình. Trước Hệ tư tưởng Đức,
trong Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã đưa ra một kết luận quan trọng về vấn đề
này: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội”. Đến Hệ tư tưởng Đức, con người hiện thực, “cá nhân hiện thực” và mối
quan hệ của nó với xã hội đã được C.Mác và Ph.Ăngghen làm rõ khi khẳng định
rằng, chỉ có trong mối quan hệ với xã hội, cá nhân mới hình thành được bản chất
người; rằng, không thể có cá nhân riêng lẻ, tách biệt khỏi xã hội, bởi một khi bị tách
khỏi xã hội, nó không bao giờ trở thành cá nhân được. Nói về mối quan hệ giữa con
người “cá nhân hiện thực” với xã hội của họ, với lịch sử hiện thực mà trong đó họ
đang tồn tại, các ông cho rằng, “ngay từ đầu, đã có mối liên hệ vật chất giữa người
với người, mối liên hệ này bị quy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất
và cũng lâu đời như bản thân loài người, - một mối liên hệ không ngừng mang hình
thức mới, và do đó, là “lịch sử””(8). Như vậy, theo các ông, bản thân lịch sử chính là
mối quan hệ ấy, là mối quan hệ mang tính vật chất ấy giữa những con người “cá
nhân hiện thực” và giữa họ với xã hội của họ.
Khi nói “tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của
những cá nhân con người sống”(9), C.Mác và Ph.Ăngghen đã gián tiếp khẳng định
con người “cá nhân hiện thực” là chủ thể sáng tạo lịch sử – “cá nhân hiện thực” với
hành động hiện thực của họ tạo nên lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử ấy.
Mặt khác, do coi “lịch sử” mới thật sự là đối tượng cần được xem xét, nên vấn đề
lịch sử quyết định sự hình thành và phát triển của “cá nhân hiện thực” đã được các
ông phát biểu một cách trực tiếp hơn: “Những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ
thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ”; “những cá nhân nhất
định, hoạt động sản xuất theo một phương thức nhất định, đều nằm trong những quan
hệ xã hội và chính trị nhất định”(10). Rằng, “những điều kiện vật chất của sự sản
xuất” là cái mà những cá nhân thừa hưởng từ trước, “có sẵn” đối với họ, là cái mà họ được tiếp nhận từ xã hội và lịch sử để từ nền tảng đó, họ tiến hành sản xuất, tham gia
cứu của các ông – con người “cá nhân hiện thực”? Hay nói cách khác, từ xuất phát
điểm đó, các ông đã đi đến hai nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử như
thế nào?
Có thể nói, trong tất cả những yếu tố của lịch sử hiện thực, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
tìm ra yếu tố đóng vai trò xuất phát, yếu tố mà có nó mới có những yếu tố còn lại:
“Những cá nhân hiện thực, hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất
của họ”. Những cá nhân hiện thực này thực hiện “hành vi lịch sử đầu tiên” của họ là
sản xuất, cái mà “ngay lập tức” phân biệt con người với toàn bộ giới tự nhiên còn lại.
Hành vi này được tiến hành trong mối quan hệ giữa người và người. Từ xuất phát
điểm này, các ông đã đi đến quan niệm về lực lượng sản xuất với tư cách kết quả
hoạt động sản xuất của con người ở mỗi thời điểm lịch sử nhất định và đến quan
niệm về quan hệ sản xuất (“hình thức giao tiếp”) với tư cách những mối quan hệ
trong quá trình sản xuất của những con người “cá nhân hiện thực”. Mặc dù chưa đưa
ra định nghĩa chính xác về các khái niệm này, nhưng mỗi khi đề cập đến lực lượng
sản xuất hay “hình thức giao tiếp”, các ông đều nhất quán khẳng định lực lượng sản
xuất là cái quyết định: “Tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đã đạt
được, quyết định trạng thái xã hội”(12); “hình thức giao tiếp – cái mà trong tất cả các
giai đoạn lịch sử từ trước tới nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất và đến
lượt nó lại quyết định lực lượng sản xuất”(13). Ngay trong tác phẩm này, các ông
cũng đã đưa ra một phác thảo rõ nét về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất: “Trong quá trình phát triển của lực lượng sản
xuất có một giai đoạn mà trong đó xuất hiện những lực lượng sản xuất và những
phương tiện giao tiếp chỉ có thể gây tác hại trong khuôn khổ những quan hệ hiện có,
và đã không còn là những lực lượng sản xuất nữa mà lại là những lực lượng phá
hoại”(14).
Coi “hình thức giao tiếp” là quan hệ sản xuất giữa những con người “cá nhân hiện
thực”, là yếu tố cốt lõi tạo nên xã hội công dân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một
định nghĩa về xã hội công dân: “Xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật

3. Sự phê phán của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với các nhà “triết học Đức hiện
đại” về xuất phát điểm nghiên cứu
Hệ tư tưởng Đức có nội dung chính, hoặc ít ra thì cũng là nội dung chiếm phần lớn
số lượng trang viết – phê phán “triết học Đức hiện đại” qua các đại biểu của nó là
Phoiơbắc, B.Bauơ và Stiếcnơ. Các nhà “tư tưởng Đức hiện đại” bị quy định bởi lịch
sử hiện thực và lịch sử phát triển tư tưởng lúc đó, nên đã đặt trọng tâm vào việc phê phán tôn giáo, lấy phê phán tôn giáo làm tiền đề cho những nghiên cứu triết học của
mình. Điều này có thể thấy rõ nhất ở Phoiơbắc với tác phẩm đầu tay bàn về “cái chết
và sự bất tử” (1830). Tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông – Bản chất
đạo Cơ đốc (1841) cũng đã đặt tôn giáo trước con mắt phê phán nghiêm khắc.
Nhưng, các nhà triết học thuộc “hệ tư tưởng Đức” đều bắt đầu từ triết học của
Hêghen; nói cách khác, đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Hêghen, dù họ luôn tìm cách
phê phán và cho rằng mình đã vượt bỏ được ông thầy tư tưởng của mình. Họ phê
phán Hêghen nhưng đều hoặc là gạt bỏ hạt nhân biện chứng của triết học Hêghen
(như Phoiơbắc), hoặc chỉ diễn đạt bằng cách khác, rối rắm hơn, tầm thướng hơn
chính những tư tưởng của Hêghen. Tự cho mình là những nhà phê phán, cái họ phê
phán đầu tiên là triết học Hêghen, sau đó là tôn giáo để rồi xây dựng hệ thống của
mình. Tất cả họ đều bắt đầu hệ thống của mình bằng “con người”. Nhưng, đó là
những “con người” như thế nào và có gì khác biệt so với quan điểm của C.Mác và
Ph.Ăngghen?
C.Mác và Ph.Ăngghen đặt sự phân tích triết học Phoiơbắc lên vị trí đầu tiên trong tác
phẩm bởi, Phoiơbắc là người đối lập mạnh mẽ nhất và có hiệu quả nhất đối với triết
học Hêghen (trong số các nhà “triết học Đức hiện đại”) và do đó, có phần gần với
quan điểm của các ông hơn cả. Đồng thời, qua việc phê phán Phoiơbắc, các ông cũng
dễ dàng đưa ra tư tưởng của mình hơn. Khi xây dựng hệ thống triết học nhân bản của
mình, Phoiơbắc cũng bắt đầu từ con người, song, con người trong tư tưởng của ông
khác hẳn con người với tư cách xuất phát điểm trong quan niệm của C.Mác và
Ph.Ăngghen. Con người của Phoiơbắc là con người trừu tượng, phi lịch sử, đứng bên

cả”(20). Rằng, “cái Tôi duy nhất” được M.Stiếcnơ định nghĩa như một “thực thể”,
tức là hoàn toàn tư biện, nối tiếp truyền thống tư biện của triết học Tây Âu, kể từ
Đêcáctơ cho đến Hêghen. Ở đó, như C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, mang rõ nét
ảnh hưởng của Hêghen: “Kẻ duy nhất, xét theo quan điểm thực thể, đó là bước đầu
của lôgíc “duy nhất” và với danh nghĩa như vậy, đó là sự đồng nhất chân chính giữa
“tồn tại” và cái “không” kiểu Hêghen”(21).
Như vậy, có thể nói, “Kẻ duy nhất” với tư cách xuất phát điểm nghiên cứu của
M.Stiếcnơ không chỉ có những điểm khác biệt với “con người trừu tượng” của
Phoiơbắc, mà còn đối lập với con người “cá nhân hiện thực” của C.Mác và
Ph.Ăngghen. Từ “Kẻ duy nhất”, M.Stiếcnơ đã xây dựng hệ thống quan điểm tư biện
về xã hội, về loài người mà theo đó, con người trong tiến trình phát triển lịch sử của
nó chỉ như là sự tự phát hiện ra mình (trải qua ba giai đoạn “tự phát hiện”: trẻ con, thanh niên và người lớn), tự mình tồn tại và phát triển mà không cần đến yếu tố bên
ngoài nào. Do đồng nhất “con người” với “Kẻ duy nhất”, M.Stiếcnơ còn phân tích
những vấn đề khác, như sở hữu, kinh tế, giai cấp và chủ nghĩa cộng sản, trong đó
“Kẻ duy nhất” không phải cái gì khác mà chính là “kẻ sở hữu”, còn đấu tranh giai
cấp cùng với chủ nghĩa cộng sản thì được quan niệm một cách tư biện và ấu trĩ, gây
hại cho phong trào hiện thực của giai cấp vô sản. Điều này giải thích vì sao C.Mác và
Ph.Ăngghen đã dành một dung lượng lớn để phân tích và phê phán quan điểm của
M.Stiếcnơ.
Từ đó, chúng ta thấy, sự khác biệt lớn nhất trong xuất phát điểm nghiên cứu của
C.Mác và Ph.Ăngghen và các nhà “triết học Đức hiện đại” là ở sự khác biệt trong
quan niệm về con người. Con người mà C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm là con
người “cá nhân hiện thực”, với những quy định của lịch sử và đến lượt nó, con người
lại quy định sự phát triển của lịch sử. Còn con người ở các nhà “tư tưởng Đức hiện
đại” là con người trừu tượng, phi lịch sử, hay cá nhân vị kỷ – “Kẻ duy nhất”, “cái Tôi
duy nhất” được trừu tượng hóa thành “tự ý thức” và hơn nữa, còn được xem xét từ
lập trường duy tâm, tư biện và trừu tượng, hoàn toàn xa rời hiện thực. Từ xuất phát

mọi tư duy triết học, là tiêu chuẩn cao nhất trong đạo đức, là điều thiêng liêng nhất
trong mọi tôn giáo ở Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hoá cũng như sự mở rộng
quan hệ giao lưu, đối thoại giữa các nền văn minh và trào lưu triết học trên toàn thế
giới, việc phấn đấu cho thế giới được sống trong hoà bình, hữu nghị, cho các dân tộc
được phồn vinh và hạnh phúc là mục tiêu cao nhất, có ý nghĩa sâu sắc của triết học.
Thế giới ngày càng khẳng định tính đa dạng của mỗi nền văn minh gắn liền với nhu
cầu đối thoại trên phạm vi toàn thế giới và triết học có vai trò cốt lõi trong mỗi nền
văn minh. Thật là đặc biệt vui mừng khi vấn đề này lại được đề cập và trao đổi trên
mảnh đất Việt Nam, nơi đã từng tiếp xúc với nhiều nền văn minh và trào lưu triết học
trên thế giới.
Nói tới vai trò chung của triết học không có nghĩa là phủ nhận sự khác nhau giữa các
nền triết học. Triết học Việt Nam tồn tại và phát triển trên cơ sở vừa khẳng định bản
sắc dân tộc của mình, vừa mở rộng giao lưu để tiếp thu mọi giá trị tích cực của các
dân tộc khác. Có thừa nhận sự phong phú và tôn trọng những đặc điểm riêng của mọi
nền triết học mới có thể đi tới một sự thống nhất về vai trò của triết học như một sự
đóng góp chung vào cuộc sống của nhân loại ngày nay.
Triết học không phải là một món quà đặc biệt mà Thượng đế đã ban riêng cho một số
nước, cho một số vùng lãnh thổ để trở thành những nền văn minh khác nhau của
nhân loại.
Mọi nền triết học đều ra đời trong mối tương tác giữa hoàn cảnh và con người với
những nét đặc thù của thiên nhiên, kinh tế, xã hội. Chúng tôi cho rằng, sự tiếp biến văn hóa (acculturation) là một điều tất yếu đối với
sự phát triển của mọi nền văn minh. Nhưng sự tiếp biến đó chỉ thành công khi dân
tộc thâu nhận những giá trị của những nền văn minh khác mà vẫn giữ vững bản lĩnh
dân tộc của mình và củng cố thêm bản lĩnh đó.
Từ xa xưa, hoàn cảnh sinh hoạt của con người Việt Nam luôn bị đe dọa bởi những tai
họa của thiên nhiên và sự xâm lược của nước ngoài. Điều kiện để tồn tại và phát triển
là phải phát huy được những nhân tố tinh thần cao nhất do thực tế đòi hỏi. Trước hết

đối với cộng đồng nhân loại. Hồ Chí Minh đã suốt đời giương cao ngọn cờ chiến đấu
và lãnh đạo nhân dân Việt Narn đi tới thắng lợi cuối cùng lại được thế giới tôn vinh
là con người của hòa bình. Mảnh đất thủ đô Hà Nội đã từ bao đời thấm máu của bao
nhiêu thế hệ thanh niên trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc lại được thế giới phong tặng
danh hiệu thủ đô của hòa bình. Trong kháng chiến chống quân đội Pháp, Hồ Chí
Minh đã từng nói rằng: Máu của người Pháp cũng là máu của con người. Chiến
tranh chỉ là bất đắc dĩ. Đối xử nhân đạo với tù binh, tha chết và tiễn đưa hàng chục
vạn quân xâm lược bại trận về nước, nhanh chóng lập lại tình hữu nghị sau mỗi trận
chiến tranh. Đó là đạo lý của con người Việt Nam trước cộng đồng nhân loại. Đạo lý
này quán triệt cả trong triết học, tôn giáo và đạo đức.
Nếu chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện rõ rệt nhất của tính cộng đồng Việt Nam thì nó
cũng là cốt lõi của mọi tư duytriết học, là tiêu chuẩn cao nhất trong đạo đức, là điều
thiêng liêng nhất trong mọi tôn giáo ở Việt Nam.
Về mặt đạo đức, vinh dự cao nhất thuộc về những người có công với Tổ quốc và
đáng khinh bỉ nhất là những kẻ phản bội lại cộng đồng. Lương tâm cắn rứt chúng và
dư luận xã hội lên án chúng.
Về mặt tôn giáo, ý thức này còn sâu sắc hơn, mãnh liệt hơn và bền vững hơn nữa.
Ở Việt Nam từ xa xưa, không có tôn giáo nào thờ trời mà chỉ có ở khắp nơi những
ngôi đền thờ những người anh hùng trong chiến đấu và sản xuất, thờ những người có
công với Tổ quốc và nhân dân:
Toàn quốc thờ vua Hùng, vị tổ đầu tiên của cả dân tộc.
Mỗi làng thờ những người có đóng góp lớn đối với quê hương.
Mỗi nhà thờ tổ tiên của mình.
Việc thờ cúng nói trên không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đứcmà thực sự là tôn
giáo của Việt Nam. Tôn giáo này là một bộ phận bền vững trong truyền thống văn
hóa của dân tộc, nền văn hóa thống nhất cả triết học, đạo đức và tôn giáotrên cùng
một cơ sở. Đó là phương châm của dân tộc trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status