ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VŨ THỊ MAI
SỰ KẾT HỢP GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT
TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VŨ THỊ MAI
SỰ KẾT HỢP GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT
TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Cao Thị Sính
Hà Nội, tháng 12/2014
Học viên
Vũ Thị Mai
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. NNPQ
Nhà nước pháp quyền
2. QHXH
Quan hệ xã hội
3. XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỰ KẾT HỢP GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ
PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY…………………….............
9
1.2.2 Sự tác động biện chứng giữa đạo đức và pháp luật……………………..
33
1.2.2.1 Tác động của đạo đức tới pháp luật……………………………….......
33
1.2.2.2 Tác động của pháp luật tới đạo đức……………………………….......
35
1.3 Tính tất yếu của sự kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay……………………...
36
1.4 Những hình thức biểu hiện của sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay……………... 39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KẾT HỢP GIỮA ĐẠO
ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……….……..
47
2.1 Thực trạng kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước 47
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay…………………………...
2.1.1 Kết quả của sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước
47
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay…………………………………
85
2.2.1 Nâng cao nhận thức về sự kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa………………………………….
85
2.2.2 Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến, pháp luật để
nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, ứng xử theo pháp luật cho người dân ....... 87
2.2.3 Tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc
biệt là đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nhà nước ............
89
2.2.4 Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hệ thống các chẩn mực đạo đức tiến
bộ, nhân văn.........................................................................................................
92
KẾT LUẬN........................................................................................................
99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................
102
1
“phép vua thua lệ làng”.
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự giao lưu, hòa nhập với các quốc gia
trên thế giới, hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng được bổ sung, hoàn thiện,
đầy đủ hơn và cũng xiết chặt hơn. Nhưng chính điều đó lại dẫn tới pháp luật dễ rơi
vào trạng thái xơ cứng, rập khuôn, máy móc khi giải quyết các quan hệ xã hội vốn
phức tạp, phong phú. Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nước ta
đang phải đối mặt với những nguy cơ băng hoại, đảo lộn các giá trị đạo đức do mặt
trái của nền kinh tế trị trường đem lại, nếu chúng ta quá đặt nặng vai trò của pháp
luật mà bỏ qua hay lãng quên những giá trị đạo đức truyền thống thì vô hình chung
sẽ làm giảm đi mục đích và ý nghĩa tốt đẹp của việc xây dựng nhà nước pháp quyền
Xã hội Chủ nghĩa (sau đây gọi tắt là NNPQ XHCN) ở nước ta – một nhà nước
nhân bản.
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN - một
kiểu nhà nước chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, một nhà nước luôn đề cao
tinh thần thượng tôn của pháp luật nhưng cũng luôn hướng tới chủ nghĩa
nhân đạo, nhân văn cao đẹp. Việc xây dựng NNPQ XHCN là một trong những
nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam, trong đó, xây dựng một hệ thống
pháp luật hoàn thiện, tiến bộ là một trong những yếu tố chủ đạo quyết định sự thành
bại của nhiệm vụ này. Nhưng một pháp luật chỉ thực sự hoàn thiện, tiến bộ và đi
vào cuộc sống, được người dân thực thi có hiệu quả, khi mà nó có sự kết hợp chặt
chẽ, nhuần nhuyễn với yếu tố đạo đức. Chỉ khi đạt được sự kết hợp này, pháp luật
nói chung và pháp luật trong NNPQ XHCN nói riêng mới phát huy được tối đa vai
trò của nó và giải quyết các mối quan hệ xã hội (viết tắt: QHXH) một cách “vừa
thấu tình vừa đạt lý”.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: “Sự kết hợp giữa đạo
đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa ở Việt
điều chỉnh các mối QHXH trong điều kiện xây dựng NNPQ Việt Nam hiện nay.
Tác giả Vương Thanh Huyền với đề tài luận văn thạc sĩ khoa Luật Đại học
Quốc gia Hà Nội:“Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức” đã nghiên cứu những quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức, về pháp luật và
mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hoạt động quản lý xã hội. Trên cơ sở
đó chỉ ra được tầm quan trọng của pháp luật và đạo đức cũng như việc kết hợp pháp
luật và đạo đức trong việc xây dựng NNPQ ở Việt Nam. Tác giả cũng đưa ra những
giải pháp mới góp phần vận dụng một cách có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về
3
mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức.
Tác giả Nguyễn Thúy Hoa với đề tài “Kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản
lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay” - khoa Luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận về nhà nước và pháp luật, góp phần làm
sáng tỏ sự cần thiết phải kết hợp pháp luật với đạo đức trong quản lý nhà nước ở
Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
phương thức kết hợp giữa pháp luật với đạo đức.
Trên các tạp chí có các bài nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Minh Đoan với bài “Ý
thức pháp luật với đời sống xã hội” đăng trên chuyên mục Nghiên cứu – Trao đổi
của tạp chí Luật học số tháng 01 năm 2006. Bài viết đã phân tích một cách sâu sắc
vai trò của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội và các tác động của trình độ ý
thức pháp luật với việc đảm bảo, thực thi hiệu quả pháp luật. Tác giả Hoàng Thị
Kim Quế với các công trình: “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và
đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội” và “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về
pháp luật và đạo đức” bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 7, năm
1999 và tháng 8, năm 2002; Hay bài: “Xây dựng NNPQ XHCN và quản lý xã hội ở
Việt Nam trên cơ sở “đạo đức” và “pháp luật” theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác
giả Nguyễn Năng Nam, Tạp chí Luật học, số tháng 6/ 2010. Những bài nghiên cứu
pháp luật trong xây dựng đạo đức cho đội ngũ cản bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam
hiện nay” trên Tạp chí Triết học, số 6 năm 2012. Dựa trên quan điểm triết học các
tác giả đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật ở khía cạnh
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và chỉ ra nguyên nhân cũng như sự cần thiết
phải kết hợp đạo đức và pháp luật trong hoạt động này.
- Thứ ba: Xem xét mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật từ góc nhìn chính trị
học có thể kể đến những công trình như sau:
Đề tài khoa học cấp Bộ như: “Xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện
nay” do PGS, TS Lê Quý Đức làm chủ biên. Đề tài này đã làm rõ khái niệm, cấu
trúc, chức năng của văn hóa đạo đức, khảo sát thực trạng văn hóa đạo đức ở nước ta
và đề ra một số giải pháp xây dựng nền văn hóa đạo đức gắn với xây dựng kinh tế
thị trường và định hướng XHCN.
Trên tạp chí liên quan đến lĩnh vực chính trị có các bài viết chuyên sâu như:
“Về quan hệ giữa đạo đức và pháp luật” của hai tác giả Lê Thị Hoài Thanh và Trần
Hậu Thành đăng trên tạp chí Khoa học Chính trị số tháng 6 năm 2000; Bài viết của
tác giả Nguyễn Văn Long đăng trên tạp chí Giáo dục lý luận số tháng 8 năm 2000
5
với tiêu đề: “Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền trong công cuộc đổi
mới ở nước ta” hay bài “Đôi nét về mặt trái của lệ làng” của tác giả Nguyễn Thị
Phương Nam trên tạp chí Giáo dục lý luận số tháng 8 năm 2000 và bài “Luật tục và
ý thức pháp luật trong quản lý xã hội các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta” của tác
giả Nguyễn Quốc Phẩm đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lý Luận số tháng 5 năm 2000
v.v… Các công trình nói trên đã ít nhiều đề cập đến mối quan hệ giữa đạo đức và
pháp luật, giữa lệ làng và phép nước, đề ra những giải pháp để hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong xây dựng NNPQ trên cơ sở kết hợp hai yếu tố đạo đức và pháp luật.
Nhìn chung, những tài liệu trên đã phân tích và lý giải về mối quan hệ mật thiết
giữa đạo đức và pháp luật trên cơ sở tổng kết và so sánh những điểm giống và khác
giữa đạo đức và pháp luật trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, tìm hiểu về hiện trạng của sự kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong
quá trình xây dựng NNPQ ở Việt Nam hiện nay.
Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản của phương thức kết hợp giữa đạo đức
và pháp luật trong xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự kết hợp giữa hai yếu
tố đạo đức và pháp luật trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay từ góc
độ Chính trị học.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sự kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong
phạm vi không gian ở Việt Nam, trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở Việt
Nam hiện nay; có đề cập tới kinh nghiệm ứng xử của một số nước trên thế giới và
kinh nghiệm ứng xử trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc đối với mối quan hệ
này. Trong phạm vi luận văn này xin quy ước: Đạo đức nói đến ở đây là đạo đức
mới, pháp luật ở đây là pháp luật của NNPQ.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
+ Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lênin, vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử như quan điểm về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến
trúc thượng tầng, quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, quan hệ giữa các
hình thái ý thức xã hội. Cụ thể là biểu hiện qua mối quan hệ giữa pháp luật, đạo đức
và nhà nước.
+ Thông qua tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật, đạo
7
đức, sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội.
+ Luận văn cũng được tiến hành trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm,
Đạo đức là một hiện tượng xã hội thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần – thực tiễn
đặc biệt phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của
con người và có nguồn gốc ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, được
phát triển và hoàn thiện trên cơ sở các hình thái kinh tế xã hội nối tiếp nhau từ thấp
đến cao. Bởi vậy, trong lịch sử bàn về đạo đức có nhiều quan niệm khác nhau:
Ở phương Đông, các học thuyết đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất
hiện sớm, trong đó những quan niệm đạo và đức của họ được hiểu khá rõ nét đặc
biệt trong quan niệm của Nho giáo. Đạo đức ở đây thường được lý giải ở cương
thường, hay mở rộng ra là luân thường. Trong “Nho giáo xưa và nay” tác giả Quang
Đạm viết: “Đạo chính là đường đi lối lại của nề nếp, có phép tắc rõ ràng. Theo
nghĩa đen và nghĩa bóng của từ, đạo là con đường đúng đắn từ nơi đi cho đến nơi
tới. Đạo là hệ thống những nguyên lý, những phép tắc, những quy luật cơ bản của
sự vận động” [6, tr. 109]. Như vậy, Nho giáo quan niệm “đạo” chính là những mối
quan hệ nhằm duy trì một trật tự từ gia đình tới xã hội. Đó là mối quan hệ vua – tôi,
cha mẹ - con cái, chồng – vợ, anh – em, bạn bè. Còn “đức” là những quy định,
những yêu cầu phải thực hiện cho đúng trách nhiệm của mỗi giới, mỗi người.
Tóm lại, Nho giáo cho rằng đạo đức là sự hướng dẫn, là sự định hướng để con
người vươn tới những điều tốt đẹp. Có thể nói, đạo đức là phép ứng xử có nhân
phẩm giữa người này với người khác, là mối quan hệ hai chiều đòi hỏi mỗi người
phải thực hiện theo đúng vị trí của mình trong mối quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình hay ngoài xã hội.
Ở phương Tây, thuật ngữ đạo đức được hình thành rất sớm trong xã hội chiếm
hữu nô lệ, khoảng thế kỉ thứ IV trước công nguyên, gắn liền với tên tuổi nhà tư
9
tưởng vĩ đại Aristot. Thời kì đó người ta quan niệm đạo đức là những chuẩn mực
chung nhằm điều chỉnh hành vi con người, sao cho tạo nên mối quan hệ hài hòa
giữa con người với nhau, giữa con người và xã hội. Theo tiếng Hy Lạp cổ Ethos là
Qua các ý kiến khác nhau, chúng ta có quan niệm chung nhất về đạo đức: Đạo
đức cần được nhận thức là “một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên
tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con
người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm
tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [54, tr. 6] . Ở đây đạo
đức được xem xét với ba đặc trưng: thứ nhất, đạo đức được xem xét là một hình
thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, trực tiếp phản ánh hiện thực đời sống đạo
đức xã hội; thứ hai, đạo đức được xem xét với tính cách là một phương thức điều
chỉnh hành vi của con người trong xã hội; thứ ba, đạo đức được xem xét với tư cách
là một hệ thống giá trị thiện - ác.
Dù được xem xét dưới những góc độ khác nhau, song nhìn chung, đạo đức
được xem như là một loại công cụ, phương tiện điều chỉnh hành vi con người trong
các mối QHXH.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, dù có biểu hiện khác nhau, song đạo
đức luôn khẳng định được vai trò to lớn của mình là điều chỉnh hành vi, ý thức,
quan hệ ứng xử giữa người với người bằng những công cụ đặc trưng của mình,
nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã hội. Những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được
duy trì thành nề nếp, thói quen, hành vi đạo đức hàng ngày của mỗi con người và
trở thành phẩm chất cao quý trong nhân cách con người. Khi đó đạo đức sẽ đóng vai
trò là động lực tinh thần có sức mạnh to lớn thúc đẩy con người tự giác hành động
vì cái thiện, chống cái ác, làm cho xã hội phát triển lành mạnh. Giá trị đạo đức là
tiêu chuẩn làm nên cái đẹp của con người. Đạo đức góp phần phát triển những giá
trị văn hóa tinh thần cơ bản Chân – Thiện – Mĩ của xã hội.
Đạo đức cũng như toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, trước hết là sự phản
ánh cơ sở vật chất của xã hội. Mọi dân tộc đều vận động và biến đổi trong lịch sử,
đều phát triển từ thấp đến cao qua các hình thái kinh tế xã hội. Mỗi giai đoạn lịch sử
của quá trình phát triển dân tộc đều có những nét riêng biệt không chỉ ở nền tảng
kinh tế - xã hội mà còn ở kiến trúc thượng tầng của xã hội, chính trị và tư tưởng.
Chúng ta cần phải đặt mọi vấn đề đạo đức trong bối cảnh dân tộc, giai cấp và thời
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 53, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội
15. Nguyễn Minh Đoan (2006), “Ý thức pháp luật với đời sống xã hội”, Tạp chí Luật
học, số tháng 01
16. Nguyễn Minh Đoan (2008), Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, Nxb
Chính trị Quốc gia Hà Nội
17. Lê Quý Đức (chủ biên), (2005), Xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện
nay, Đề tài khoa học cấp Bộ
18. Hoàng Thị Hạnh (2009), “Góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa đạo đức và pháp
luật”, Diễn đàn thông tin khoa học xã hội, Số tháng 7
19. Lê Thị Hằng (2009), “Vấn đề nâng cao đạo đức công chức trong cải cách hành
chính ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số tháng 6
20. Vũ Thị Hằng (2012), “Đạo đức phật giáo với việc xây dựng đạo đức mới cho con
người Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ khoa học Triết học, ĐH Sư phạm Hà
Nội
13
21. Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946 - 1959 -1980 1992), (2008), Nxb Lao động – Xã hội , Hà Nội
22. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
23. Nguyễn Thúy Hoa (2006), “Kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà nước
ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh
24. Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia bộ môn khoa học Mác
37. Phạm Xuân Nam (2002), Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt yếu, Nxb.
Khoa học Xã hội
38. Nguyễn Văn Năm (2011), “Vai trò của đạo đức trong quản lý xã hội”, Tạp chí
Luật học, Số 9
39. Nguyễn Văn Năm (2012), “Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường
đại học Luật Hà Nội
40. Đỗ Hữu Nhân (2004), “Quan điểm mácxít về mối quan hệ đạo đức - chính trị pháp quyền”, Tạp chí Triết học, số tháng 12
41. Nguyễn Văn Niên (1996), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam – Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia
42. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
43. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
44. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
45. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
46. Nguyễn Quốc Phẩm (2000), “Luật tục và ý thức pháp luật trong quản lý xã hội các
vùng dân tộc thiểu số ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu Lý Luận, số tháng
47. Hoàng Thị Kim Quế (2002), “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và
đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số tháng
7
48. Hoàng Thị Kim Quế (2002), “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và đạo
đức”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 8
49. Hoàng Thị Kim Quế (2002), “Xu hướng vận động và phát triển của pháp luật và đạo
đức ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Số 7
50. Hoàng Thị Kim Quế (2003), “Bàn về ý thức pháp luật”, Tạp chí Luật học, Số 01
51. Hoàng Thị Kim Quế (2004), “Nhận diện nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Ngiên
15
cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 5
be-24-thang-tuoi-nhap-vien-56329.html, 21/09/2014
67. Hai bảo mẫu hành hạ trẻ em cùng lĩnh 3 năm tù, www.tienphong.vn,
20/01/2014
68. Khải Hoàng, Hủ tục chôn sống con theo mẹ đã chết, www.news.zing.vn,
/>28/06/2014
69. Kim Hảo, Bị phạt, học sinh vác dao chén thầy giáo, www.baomoi.com,
htpp://www.baomoi.com/Bi-phat-hoc-sinh-vac-dao-chem-thaygiao/59/6990512.epi,
14/09/2011
70. Những vụ học trò đánh thầy, cô giáo gây phẫn nộ, www.news.zing.vn, 06/06/2013
71. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về
xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc,www.dangcongsan.vn, />sx?co_id=30579&cn_id=124001, 23/12/2003
17